thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh ptth ở một số trường nội thành thành phố hồ chí minh đối với nội dung giáo dục giới tính - Pdf 32

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
-----------------

HUỲNH VĂN SƠN

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ
CỦA HỌC SINH PTTH Ở MỘT SỐ TRƢỜNG NỘI THÀNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI NỘI DUNG GIÁO DỤC GIỚI
TÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI, 1999


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
-----------------

HUỲNH VĂN SƠN

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ
CỦA HỌC SINH PTTH Ở MỘT SỐ TRƢỜNG NỘI THÀNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI NỘI DUNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 5.13.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC


1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................. 9
2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ........................................................................... 16
2.1. Lí luận về nhận thức và thái độ ............................................................................. 16
2.1.1. Nhận thức ....................................................................................................... 16
2.1.2. Thái độ ........................................................................................................... 19
2.2. Lý luận về giới tính, giáo dục giới tính, nội dung giáo dục giới tính ................... 23
2.2.1. Giới tính: ........................................................................................................ 23
2.2.2. Khái niệm giáo dục giới tính.......................................................................... 28
2.2.3. Nội dung giáo dục giới tính ........................................................................... 31
2.3. Đặc điểm tâm lý học sinh PTTH............................................................................... 40
2.4. Những vấn đề giới tính – giáo dục giới tính cần chú ý ở tuổi học sinh PTTH ......... 45
CHƢƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN ..................................................... 49


1. Vài nét về khách thể nghiên cứu: ................................................................................. 49
2. Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới
tính ................................................................................................................................... 50
2.1. Thực trạng nhận thức của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính ... 50
2.2. Thực trạng thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính ........ 68
2.3. Tƣơng quan giữa nhận thức và thái độ ................................................................. 90
2.4. Nguyên nhân của thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội
dung giáo dục giới tính. ............................................................................................... 92
3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA
HỌC SINH PTTH ĐỐI VỚI NỘI DUNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH ............................ 103
3.1. Đề xuất một số biện pháp.................................................................................... 103
3.2. Một vài thực nghiệm bƣớc đầu: .......................................................................... 104
3.2.1. Mục đích thực nghiệm: ................................................................................ 104
3.2.2. Nội dung thực nghiệm: ................................................................................ 104
3.2.3. Kết quả thực nghiệm .................................................................................... 106
3.2.4. Kết luận chung về thực nghiệm: .................................................................. 114

là các em còn thiếu hiểu biết về giới tính mà đúng ra đó là nhu cầu tối quan trọng với lứa tuổi
này.

1


Giáo dục giới tính đang là vấn đề đƣợc các nhà Tâm lý học, Giáo dục học, Sinh lý
học, Xã hội học... quan tâm. Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề giáo dục giới tính cho
học sinh, đặc biệt xung quanh vấn đề nên cung cấp những kiến thức gì về giới tính, làm sao
để các em có nhận thức đúng đắn cũng nhƣ có thái độ đúng mực với nội dung trên... vẫn là
những câu hỏi hết sức bức xúc đang đƣợc tranh cãi. Thế nhƣng, chính những chủ thể của quá
trình tiếp nhận giáo dục giới tính nói gì, có nhận thức và thái độ nhƣ thế nào đối với nội dung
giáo dục giới tính. Đây là vấn đề hết sức cấp bách cần phải tìm hiểu.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Thực trạng nhận
thức và thái độ của học sinh PTTH ở một số trƣờng nội thành TP HỒ CHÍ MINH" đối
với nội dung giáo dục giới tính.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với
nội dung giáo dục giới tính. Từ đó hƣớng tới việc nâng cao nhận thức và thái độ đối với nội
dung giáo dục giới tính góp phần trong việc hoàn thiện nhân cách cũng nhƣ chuẩn bị cho
cuộc sống hạnh phúc tƣơng lai của các em.

3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: nhận thức, thái độ, giới
tính, giáo dục giới tính, nội dung giáo dục giới tính, ...
3.2. Nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung
giáo dục giới tính, một số nguyên nhân của thực trạng đó.
3.2.1 Nhận thức của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính.
3.2.2 Thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính.


3


6. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH
về nội dung giáo dục giới tính với phạm vi nghiên cứu là một số trƣờng nội thành Tp HCM.
- Về mặt nhận thức, chúng tôi khảo sát chủ yếu về vốn hiểu biết của các em đối với
nội dung giáo dục giới tính và một số kiến thức cụ thể về giới tính ; nhận thức về sự cần thiết
của nội dung giáo dục giới tính.
- Về mặt thái độ, chúng tôi khảo sát thái độ thích thú ; tán thành ; e ngại đối với nội
dung giáo dục giới tính. Bên cạnh đó, chúng tôi khảo sát thái độ của các em đối với một số
nhận xét về nội dung giáo dục giới tính.

7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi sử dụng phối hợp các
phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ sau:
7.1. Những phƣơng pháp nghiên cứu lý luận:
Sử dụng phƣơng pháp thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên
cứu có liên quan đến đề tài: vấn đề nhận thức, thái độ, giới tính, nội dung giáo dục giới tính,
nội dung giáo dục giới tính cho học sinh PTTH, ...
7.2. Những phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1 Phƣơng pháp anket:
* Mục đích: Phƣơng pháp này nhằm giải quyết nhiệm vụ tìm hiểu thực trạng nhận
thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính.
* Xây dựng bảng anket:
Bảng anket đƣợc xây dựng dựa trên sự tham khảo những đề tài có liên quan đã nghiên
cứu trƣớc đây, dựa vào bảng thăm dò mở, thăm dò thử cũng nhƣ dựa vào cơ sở lý luận của đề
tài nghiên cứu và kỹ thuật soạn thảo anket.


5


- Trƣớc khi phát phiếu, dành khoảng 5 phút "làm quen" với học sinh một cách khéo
léo, tế nhị và thân thiện. Hƣớng dẫn kỹ lƣỡng cách trả lời từng phần trong bảng anket.
- Tiến hành phát phiếu điều tra, phối hợp cùng với quản sinh và giáo viên chủ nhiệm
đảm bảo sự nghiêm túc và thoải mái trong khi thực hiện bảng anket.
- Nhắc nhở đối tƣợng kiểm tra lại xem đã trả lời đầy đủ và toàn diện chƣa. Thu phiếu
điều tra.
- Tiến hành xử lý bảng anket bằng toán thống kê và bình luận.
7.2.2. Phƣơng pháp phỏng vấn:
* Mục đích: Tiến hành gặp gỡ, trò chuyện và trao đổi với các em học sinh PTTH về
nội dung giáo dục giới tính để các em bộc lộ nhận thức, quan niệm cũng nhƣ thái độ của các
em đối với nội dung giáo dục giới tính.
* Nội dung: Các nội dung mà ngƣời nghiên cứu tiến hành phỏng vấn nhƣ: tự đánh giá
nhận thức về nội dung giáo dục giới tính, thái độ khi tiếp cận hay khi đƣợc học tập từng nội
dung cụ thể, những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng nhận thức và thái độ, những nhu cầu
và nguyện vọng đối với việc học tập những nội dung giáo dục giới tính...
* Quá trình tiến hành:
- Cởi mở và giới thiệu để tạo mối quan hệ thân thiện, gần gũi với khách thể.
- Gợi mở và phỏng vấn ở một số nội dung đã chuẩn bị sẵn.
- Thực hiện ghi âm kết hợp với biên bản phỏng vấn.
7.2.3. Phƣơng pháp quan sát:
* Mục đích: Quan sát những biểu hiện về nhận thức và thái độ của các em trong quá
trình nghiên cứu nhằm bổ sung thêm những dữ kiện để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của
đề tài một cách chính xác và toàn diện hơn.

6



vụ, đối tƣợng, khách thể, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu... , thông qua ngƣời hƣớng dẫn
khoa học.
- Tháng 10, 1997: Xây dựng đề cƣơng, kế hoạch nghiên cứu
- Tháng 1, 1998: Bảo vệ đề cƣơng, thông qua các mẫu phiếu điều tra ; Xin ý kiến của
các chuyên gia và ngƣời hƣớng dẫn, hoàn chỉnh các mẫu phiếu điều tra.
- Tháng 2, 1998: Chuẩn bị địa bàn nghiên cứu và tiến hành điều tra mở.
- Tháng 3, 1998: Điều tra thử, hoàn thành phần nghiên cứu lý luận của đề tài, điều tra
chính thức.
- Tháng 4, 1998: Phân tích, xử lý các số liệu và tài liệu thu thập đƣợc, xây dựng kế
hoạch và công cụ thực nghiệm.
- Tháng 5 và 6, 1998: Tiến hành thực nghiệm, thu thập số liệu và xử lý.
- Tháng 10, 1998: Hoàn tất đề tài.
- Tháng 12, 1998: In ấn và đệ trình.

8


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới:
- Giáo dục giới tính nói chung, nội dung giáo dục giới tính nói riêng đã đƣợc nghiên
cứu khá lâu dù rằng góc độ nghiên cứu có thể không thống nhất với nhau.
- Ngay từ thế kỷ XX, có những công trình nghiên cứu vấn đề này nhƣ các công trình
của V.V Phavrơ, D.N Zbancov, P.P Blonxki, ....
Tuy nhiên, nội dung giáo dục giới tính đƣợc đề cập nhiều nhất đến vấn đề tình dục và
ít đƣợc xã hội chấp nhận.
- Những năm 30 của thế kỷ, giáo dục giới tính đƣợc nghiên cứu toàn diện hơn về nội
dung, phƣơng pháp và việc tổ chức thực hiện. A.X Makarenko khẳng định vai trò cần thiết và
quan trọng của giáo dục giới tính đồng thời đƣa ra những nguyên tắc, nội dung, phƣơng
hƣớng giáo dục giới tính cho học sinh. Giáo dục giới tính đƣợc xem là một mặt của giáo dục

Đức, Tiệp Khắc...
+ Hoan nghênh và bƣớc đầu công nhận hợp pháp hóa nhƣ: Ba Lan, Thụy Sĩ, Nam Tƣ,
Pháp...
+ Tán thành nhƣng không hợp thức hóa về luật pháp nhƣ: Anh, Hà Lan...
+ Không ngăn cấm nhƣng cũng không phát triển nhƣ: Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kì... Nhƣ vậy,
giáo dục giới tính bắt đầu đƣợc một số nƣớc đƣa vào trƣờng học. Tuy nhiên, việc thực hiện
nội dung giáo dục giới tính vẫn hoàn toàn khác nhau ở mỗi nƣớc, mỗi khu vực.
- Đặc biệt đến năm 1981, hội đồng bộ trƣởng Liên Xô (cũ) ra chỉ thị cho tất cả các
trƣờng phổ thông trong cả nƣớc thực hiện chƣơng trình giáo dục giới tính đƣợc biên soạn rất
cụ thể cho các cấp. Hơn thế nữa, trong nội dung chƣơng trình giáo dục ở

10


hai lớp cuối cấp III (lớp 9 và lớp 10) có thêm một môn học là Đạo đức học và Tâm lý học đời
sống gia đình với thời lƣợng là 34 tiết cùng với những nội dung cũng khá phong phú và bổ
ích.
Tuy nhiên, việc thực hiện nội dung đề ra vẫn chƣa thống nhất mà phải thận trọng và
cân nhắc kỹ lƣỡng.
- Riêng ở Châu Á, giáo dục giới tính cũng đƣợc thừa nhận là cần thiết và cũng đã
đƣợc thực hiện những nội dung giáo dục giới tính trong trƣờng học ở các quốc gia nhƣ: Nhật
Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Xingapo, Malaisia, Philippin... Riêng ở Philippin,
giáo dục giới tính đƣợc đƣa vào chƣơng trình nội khóa của trƣờng THCS và PTTH, nó còn là
một bộ phận của giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình. Ở nƣớc này có nhiều cải tiến về
phƣơng pháp, hình thức giảng dạy nhƣng nổi lên hết là nội dung giáo dục giới tính đáp ứng
đƣợc nhu cầu của học sinh cũng nhƣ bắt đầu đƣợc xã hội thừa nhận. Việc giáo dục giới tính
không chỉ còn gò bó trong trƣờng mà đƣợc mở rộng ngoài nhà trƣờng và các tầng lớp khác.
- Liên tiếp những năm 1984, 1986 các hội nghị của UNESCO đã làm sáng tỏ những
yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình và giáo dục giới tính trong quá trình giáo dục ở các
nƣớc khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng. Nội dung giáo dục giới tính đƣợc chọn lọc phù

Phạm Văn Đồng ký chỉ thị 176 a, trong đó nêu rõ: "Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chƣơng
trình chính khoá và ngoại khóa nhằm bồi dƣỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về
giới tính, về hôn nhân và gia đình, về nuôi dạy con".
- Bộ giáo dục đã ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ
hệ thống trƣờng học các cấp và các ngành học của cả nƣớc với khối lƣợng nội dung và
chƣơng trình tƣơng ứng.
- Đến năm 1985, các công trình nghiên cứu về giáo dục giới tính, nội dung giáo dục
giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình lần lƣợt đƣợc thừa nhận. Nhiều nhà khoa

12


học nhƣ: Trần Trọng Thủy, Đặng Xuân Hoài, Đức Uy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan:.,
đã nghiến cứu những mặt khác nhau xung quanh giáo dục giới tính nhƣ: nhu cầu, nguyện
vọng, dƣ luận xã hội, nội dung...
- Ngay sau đó, cũng năm 1985 Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp phối hợp với
công đoàn ngành Đại học tổ chức hội thảo về giáo dục giới tính cho sinh viên các trƣờng Đại
học, tổ chức hai lớp tập huấn cho một số cán bộ Đoàn, cán bộ Tuyên huấn... ở các trƣờng Đại
học và Trung học chuyên nghiệp ở phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục
giới tính nhằm hỗ trợ cho việc đƣa các nội dung giáo dục giới tính đến với học sinh một cách
chính xác, khoa học và hiệu quả.
Nổi bật nhất vẫn là việc khẳng định vai trò cần thiết của giáo dục giới tính với thanh
niên nói chung và học sinh nói riêng. Thế nhƣng, nội dung giáo dục giới tính vẫn chƣa thật sự
đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhiều ngƣời vì điều kiện kinh phí, thời gian...
- Trong thời gian này, Trung ƣơng hội liên hiệp Phụ nữ đã triển khai phong trào giáo
dục "Ba triệu bà mẹ nuôi con khỏe, dạy con ngoan" trong đó nội dung giáo dục giới tính đƣợc
đề cập nhiều nhất đến việc giáo dục cho con cái ở lứa tuổi dậy thì. Các tỉnh hội phụ nữ, thành
hội phụ nữ quan tâm nhiều hơn đến nội dung giáo dục giới tính tuy nhiên hiệu quả cũng chỉ
dừng lại "tính chất phong trào" vì những khó khăn nhất định.

viên sƣ phạm và những nội dung giáo dục giới tính mà tác giả đề cập chỉ là những tri thức có
liên quan với vấn đề kế hoạch hoa gia đình mà thôi.
+ Đề tài nghiên cứu "Nhận thức, thái độ của sinh viên trƣờng Cao đẳng sƣ phạm Mẫu
giáo Trung Ƣơng I về giới tính và giáo dục giới tính" của tác giả Thái Lan Chi một lần nữa đề
cập đến nhận thức và thái độ xung quanh vấn đề này song giới hạn

14


nghiên cứu của đề tài là cả vấn đề giới tính và giáo dục giới tính, đối tƣợng nghiên cứu lại chỉ
là những sinh viên sƣ phạm - những ngƣời sẽ làm công tác giáo dục giới tính cho các em học
sinh sau này chứ không phải là những chủ thể đích thực của quá trình giáo dục giới tính.
- Năm 1996, Nguyễn Văn Phƣơng với luận văn tốt nghiệp khoa Tâm lý Giáo dục
trƣờng Đại học Sƣ phạm Tp Hồ Chí Minh "Tìm hiểu nhận thức và sự quan tâm của học sinh
PTTH Tp Hồ Chí Minh về giáo dục giới tính" cũng bƣớc đầu làm cho mảng đề tài này thêm
phong phú hơn nhƣng đề tài vẫn chƣa thực sự khoa học và chính xác khi giới hạn và phạm vi
nghiên cứu chƣa rõ ràng, cơ sở lý luận còn rất sơ sài và đặc biệt là khái niệm công cụ và bảng
điều tra chƣa đầy đủ, cân đối.
- Đặc biệt hơn, vào đầu năm 1998 PGS - PTS Lê Ngọc Lan nghiên cứu nhận thức của
sinh viên về tình yêu và giới tính đã công bố ở tạp chí Tâm lý học số 3/ 1998 đƣa ra những
kết luận khá thú vị về sự quan tâm và nhận thức của sinh viên về tình yêu, những đặc điểm
đặc trƣng của ngƣời yêu...
- Thế nhƣng, vấn đề mà ngƣời nghiên cứu rất bức xúc là đối tƣợng trực tiếp và khá
quan trọng của việc giáo dục giới tính là học sinh PTTH cũng nhƣ thực trạng giảng dạy nội
dung giáo dục giới tính ở một số trƣờng PTTH nội thành TP Hồ Chí Minh. Nhận thức của các
em học sinh về nội dung giáo dục giới tính ra sao, thái độ của các em nhƣ thế nào với nội
dung này ; đặc biệt là nhận thức và thái độ của các em nhƣ thế nào với từng nội dung cụ thể,
từng kiến thức cụ thể trong nội dung giáo dục giới tính là những vấn đề hết sức lý thú và cần
thiết phải tìm hiểu góp phần quan trọng vào công tác giáo dục toàn diện cho các em học sinh.


* Cảm giác: là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và
hiện tƣợng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta. [tr 74. 29]
* Tri giác: là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài
của sự vật, hiện tƣợng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta. [tr 83. 29]
b. Nhận thức lý tính: Nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn nhận thức cảm tính. Nhận
thức lý tính phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện
tƣợng trong hiện thực khách quan mà con ngƣời chƣa biết.
Nhận thức lý tính bao gồm hai mức độ:
* Tƣ duy: là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên
hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng trong hiện thực khách quan,
mà trƣớc đó ta chƣa biết. [tr 92. 29]
* Tƣởng tƣợng: là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chƣa từng có trong kinh
nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tƣợng đã
có. [tr 104. 29]
Nếu nhận thức cảm tính chỉ phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện
tƣợng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta thì quá trình nhận thức lý
tính phản ánh đƣợc những thuộc tính bên trong, bản chất, quy luật của sự vật hiện tƣợng và
phản ánh đƣợc cả những sự vật hiện tƣợng không trực tiếp tác động vào các giác quan của ta.
Nhận thức cảm tính cung cấp cho con ngƣời vốn hiểu biết bên ngoài của sự vật hiện tƣợng,
còn nhận thức lý tính thì cung cấp cho ta vốn hiểu biết về thuộc tính bên trong của sự vật hiện
tƣợng. Từ đó có thể biến đổi đƣợc các sự vật hiện tƣợng vì đã nắm đƣợc thuộc tính bản chất
cũng nhƣ quy luật của nó.

17


Nhƣ vậy, hoạt động nhận thức giúp cho con ngƣời hiểu biết về thế giới khách quan,
về các sự vật hiện tƣợng. Sự hiểu biết có thể ở nhiều mức độ:
- Nhận biết: là mức độ nhận thức thấp nhất, chỉ nắm đƣợc các dấu hiệu bên ngoài của
khái niệm nhƣng chƣa có đƣợc khả năng vận dụng để giải quyết những tình huống, những

chính thái độ làm nảy sinh động cơ hay các hành vi có chủ đích.
Nếu vậy, thái độ nảy sinh bên trong con ngƣời trƣớc sau đó mới biểu lộ ra bên ngoài
và thái độ là sản phẩm của sự đánh giá tâm lý và nhận thức về đối tƣợng xuất phát từ nhu cầu
của chủ thể.
- Trong Tâm lý học xã hội thì quan niệm "thái độ" là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân
để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hƣớng rõ rệt
hình thành quy luật nhất quán phƣơng thức xử thế của mỗi cá nhân. [tr 70. 30]
- Nhà Tâm lý học xã hội Hoa kỳ G.V. ONPARTE thì cho rằng: "Thái độ đó là trạng
thái thần kinh và tâm lý của sự sẵn sàng đƣợc tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm, nó có ảnh hƣởng
và điều khiển năng động đến những khách thể và tình huống gắn liền với cá nhân đó", [tr 70.
30]
- Theo D.N. ƢZƠNATAZE (TBILIXI) cho rằng: "Thái độ là một trạng thái toàn vẹn
của chủ thể. Đó là sự phản ứng cơ bản đầu tiên đối với các tác động của tình huống trong chủ
thể phải đặt ra và giải quyết tình huống", [tr 70. 30]
Qua những khái niệm trên ta thấy rõ các tác giả đều khẳng định đến khía cạnh tâm lý
cá nhân trong thái độ. Các tác giả đều cho rằng thái độ là cái gì đó rất riêng của cá nhân nhƣ
là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân hay là sự sẵn sàng của cơ thể. Thế nhƣng, thực sự mà nói
thái độ không chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lý cá nhân mà phải đƣợc xem xét trong mối quan
hệ với những yếu tố khác nhƣ mối quan hệ với ngƣời khác và cả trong mối quan hệ phức tạp
và đa dạng của xã hội.

19


Thực vậy, thái độ không chỉ mang tính chất cá nhân mà còn mang tính xã hội. Thông
thƣờng thái độ mang tính chất rất riêng tƣ của cá nhân vì mỗi cá nhân là một chủ thể nhất
định, song chính cá nhân lại tồn tại và sống trong một xã hội nhất định cho nên xã hội đã chi
phối rất rõ thái độ của con ngƣời.
Nhƣ vậy thái độ phải đƣợc xem xét dƣới khía cạnh xã hội.
- HIPSƠ dùng thuật ngữ " khuôn mẫu thái độ" là một hiện tƣợng tâm lý xã hội với tƣ
Trích đoạn Những vấn đề giới tính – giáo dục giới tính cần chú ýở tuổi học sinh PTTH Vài nét về khách thể nghiên cứu: Thực trạng nhận thức của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính Thực trạng thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục giới tính Nguyên nhân của thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status