tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh-sinh viên về định hướng tương lai - Pdf 25

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu” Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về
định hướng tương lai”

1
_____________________________________________________________________

Báo cáo tổng kết
TÌM HIỂU NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA
HỌC SINH/SINH VIÊN VỀ ĐỊNH HƢỚNG
TƢƠNG LAI

Tháng 10/2008

Cơ quan nghiên cứu: TRUNG TÂM ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC - TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
115 Hai Bà Trƣng, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh
Tel.: (84)-08- 8277404 - 8224813-21 Fax (84)-08- 8273833
Email: or
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu” Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về
định hướng tương lai”

2
_____________________________________________________________________ Mục lục

I. Giới thiệu

Trước đó, trong các năm từ 2004 đến 2006, Viện Nghiên cứu Giáo dục có thực
hiện một đề tài mang tên “Nghiên cứu sự lựa chọn các hình thức học tập và
hướng nghiệp của học sinh sau THCS”. Đề tài tập trung vào tìm hiểu các động
cơ học tập và định hướng tiếp theo của học sinh trung học phổ thông và trường
nghề. Kết quả cho thấy có nhiều vấn đề mà nhà trường, phụ huynh và xã hội
chúng ta cần phải quan tâm trong việc giúp cho học sinh trong việc có được các
mục tiêu phù hợp với năng lực và thiên hướng của mình cũng như rèn luyện kỹ
năng lập kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra.
Với mục đích thực hiện các cam kết giữa Viện Nghiên cứu Giáo dục, nhà
trường và với sự tài trợ của Công ty Wrigley, đề tài “Tìm hiểu nhận thức và
thái độ của thanh niên Việt Nam đối với định hướng tương lai” được tiến
hành với mong muốn có cái nhìn sâu sắc về nhận thức và thái độ của giới trẻ
đối với tương lai, từ đó đưa ra những kiến nghị cần thiết đến những tổ chức có
liên quan nhằm giúp giới trẻ có một tương lai tốt đẹp hơn.

Phần II: Lời cảm ơn

CEEA xin chân thành cảm ơn TS. Hồ Thiệu Hùng, nguyên Giám đốc Sở Giáo
dục và Đào tạo Tp. Hồ Chí Minh, người đã cùng CEEA tiến hành nghiên cứu
đề tài này. CEEA cũng xin cảm ơn Công Ty Wrighley - Nhãn hàng CoolAir –
Người đồng hành với Viện Nghiên cứu Giáo dục trong những hoạt động dành
cho học sinh-sinh viên - đã tài trợ cho công trình nghiên cứu này. Chúng tôi
cũng trân trọng sự đóng góp công sức không nhỏ của Công Ty Starlit đã giúp
cho đề tài tiến triển thuận lợi.
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu” Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về
định hướng tương lai”

4
_____________________________________________________________________


định hướng tương lai”

5
_____________________________________________________________________ Phần III: Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Động cơ học tập

Học sinh-sinh viên chọn các động cơ học tập của mình (được sắp xếp theo mức
độ từ cao đến thấp) như sau: có việc làm tốt trong tương lai (95%); có sự hiểu
biết rộng (94%); tự khẳng định mình (81.5%); phục vụ cho đất nước (74.7%);
được mọi người kính trọng (71.5%); trở nên giàu có (69.1%); làm vui lòng gia
đình (66.8%); không thua kém bạn bè (62.5%); trở thành lãnh đạo (50.2%);
thỏa mãn ý thích cá nhân (46.7%); có thể đi du học (44.7%); trở nên nổi tiếng
(23.2%).
Nhận thức về tƣơng lai của mình
 Có đến 85.7% cho rằng mình „có nhiều ước mơ đẹp trong tương lai’. Có
hơn phân nữa (57.8%) cho là mình „sẽ rất thành công trong tương lai’
dù có đến 81.9% nghĩ rằng mình „có thể thực hiện được những ước mơ
của mình’;
 Có 90.7% học sinh-sinh viên „thích quan điểm cho rằng tương lai của
mỗi người là do chính người đó quyết định’. Đó là lý do mà có đến 93%
học sinh-sinh viên đang „tự trang bị cho mình những kiến thức và kỹ
năng cần thiết cho tương lai của mình‟;
 Khoảng 1/6 học sinh-sinh viên tham gia khảo sát (15.8%) nghĩ rằng
mình „rất mơ hồ về tương lai của mình‟ và 10.8 % cho là „thành công
hay thất bại trong tương lai là do số phận định đoạt‟. Tương tự như vậy,
có 9.2% học sinh-sinh viên thích quan điểm „sống cho hiện tại đi, tương

 Phần lớn học sinh-sinh viên cho rằng cần phải trang bị các kỹ năng
„cứng‟, tức là kiến thức về ngoại ngữ (91.6%), vi tính (86.1%) và cố
gắng học giỏi các môn học (83.5%) để chuẩn bị cho tương lai của mình;
 Hầu hết sinh viên học sinh đều cho là các phẩm chất được đề tài liệt kê
là quan trọng đến rất quan trọng theo thứ tự như sau: Có tinh thần trách
nhiệm, Có tính kiên trì, Nhiệt tình, thật thà, trung thực, tế nhị, nhân ái và
khiêm tốn;
 Những phẩm chất cần thiết cho làm việc nhóm (khiêm tốn, nhân ái, tế
nhị) không được sinh viên học sinh đánh giá cao bằng nhiệt tình, kiên trì
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu” Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về
định hướng tương lai”

7
_____________________________________________________________________

và có tính trách nhiệm. Có đến khoảng hơn 1/5 học sinh-sinh viên cho là
các đức tính này (khiêm tốn, nhân ái, tế nhị) là bình thường;
 Các kỹ năng như „có cá tính‟, „có khả năng lãnh đạo‟, „biết làm việc độc
lập‟, „biết tham gia các hoạt động xã hội‟, „có niềm đam mê một lĩnh
vực nào đó‟ và „có nhiều năng khiếu khác nhau‟ không được học sinh-
sinh viên đánh giá cao.
Các giải pháp nhằm có đƣợc kiến thức/kỹ năng cần thiết
 Phần lớn học sinh-sinh viên cho là nhà trường cần tổ chức tham quan
thực tế (81.6%) và các câu lạc bộ nhằm giúp cho học sinh-sinh viên thực
hành các kỹ năng (78.8%) cũng như tổ chức các khóa tập huấn về các kỹ
năng sống (77.0%), các hoạt động sinh hoạt tập thể (73.8%).
 Các giải pháp khác cũng được hơn phân nữa học sinh-sinh viên đồng
tình: tổ chức các bài test hướng nghiệp (68.7%); mời các chuyên gia
hướng nghiệp đến tư vấn định kỳ (63.5%); mời những người thành đạt
đến trường để nói chuyện (63.4%) và thành lập phòng tư vấn ngay trong

không?
b. Nếu có, họ lập kế hoạch gì?
c. Các kiến thức/kỹ năng gì mà học sinh-sinh viên cho là cần thiết
cho tương lai của mình?
3. Các kiến nghị nhằm giúp đỡ học sinh-sinh viên có được một tương lai tốt
đẹp.

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu” Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về
định hướng tương lai”

9
_____________________________________________________________________ Phần V: Phƣơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng kết hợp các cách tiếp cận định lượng lẫn định tính trong đề
tài của mình. Các dữ liệu có được từ các bảng hỏi dành cho học sinh và sinh
viên sẽ được phân tích theo phương pháp định lượng. Bên cạnh đó, phương
pháp định tính chủ yếu được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp các ý kiến có
được thông qua phỏng vấn. Các cách tiếp cận này giúp cho chúng tôi vừa có
được cái nhìn tổng hợp vừa có thể đi sâu vào việc khám phá sâu nhận thức và
quan điểm của các đối tượng tham gia nghiên cứu.
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng:
 Khảo sát (chủ yếu là bảng hỏi)
 Phỏng vấn: chủ yếu dành cho các nhà quản lý giáo dục
 Phân tích thống kê (sử dụng phần mềm SPSS)
Mẫu nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này ở 4 thành phố lớn: Tp. HCM, Hà Nội, Đà
Nẵng và Cần Thơ. Sau khi thu thập dữ liệu ở các trường đại học, cao đẳng và
trung học phổ thông ở 4 tỉnh thành lớn Việt Nam (Tp. HCM, Hà Nội, Đà Nẵng


Loại trƣờng
Số lƣợng
Tỉ lệ
Phổ thông dân lập
330
16.5
Phổ thông công lập thường
426
21.3
Phổ thông công lập chuyên
225
11.3
Cao đẳng
322
16.1
Đại học công lập
332
16.6
Đại học dân lập (tư thục)
365
18.3
Tổng
2000
100

Trong số 2000 học sinh-sinh viên tham gia đề tài, có 592 từ Thành phố Hồ Chí
Minh, 550 từ Hà Nội, 431 từ Đà Nẵng và 427 từ Cần Thơ.

Ha Noi

Bảng 2: Giới tính

Giới tính
Số lƣợng
Tỉ lệ
Nam
921
46.0
Nữ
1074
53.6
Dữ liệu mất
5
.3
Tổng
2000
100

Bảng 3: Tuổi (2000)

Tuổi
Số lƣợng
Tỉ lệ
Dưới 18
958
47.9
Từ 18-23
957
47.9
Trên 23

40.1
Khác
152
7.6
Dữ liệu mất
115
5.8
Tổng
2000
100

Bảng 5: Danh hiệu Học sinh giỏi (N=2000)

Học sinh giỏi
Số lƣợng
Tỉ lệ
Cấp trường
546
27.3
Cấp quận
99
4.9
Cấp thành phố
282
14.1
Cấp quốc gia
26
1.3
Dữ liệu mất
1047

Tôi học để:
Từ rất đồng ý đến đồng
ý (%)
Không đồng ý cũng
không phản đối (%)
Từ hoàn toàn không đồng ý
đến không đồng ý (%)
1) có việc làm tốt trong tương lai
95.0
4.0
1.0
2) có sự hiểu biết rộng
94.0
5.4
.7
3) tự khẳng định mình
81.5
18.4
2.9
4) phục vụ cho đất nước
74.7
22.7
2.6
5) được mọi người kính trọng
71.5
23.1
5.4
6) trở nên giàu có
69.1
26.0


Hiểu biết
Giàu có
Phục
vụ
Tự khẳng
định
Vui lòng
gia đình
Nổi tiếng
Đề tài 2008
Mean
4.5
3.9
4.0
4.2
3.8
2.9
Đề tài 2004
Mean
4.6
3.5
4.2
4.0
3.9
2.9
Tổng
Mean
4.5
3.8

trọng
Đề tài 2008
Mean
3.4
3.7
4.6
3.5
3.6
4.0
Đề tài 2004
Mean
3.3
3.7
4.6
3.6
3.2
3.8
Tổng
Mean
3.3
3.7
4.6
3.5
3.4
3.9
Mean= Giá trị trung bình giữa 5 (rất đồng ý) và 1 (rất không đồng ý)

Kết quả này, nếu đem so sánh với kết quả thu được từ đề tài năm 2004, sẽ thấy
có một số khác biệt. Tất nhiên, các đối tượng khác nhau sẽ có cái nhìn khác
nhau về động cơ học tập. Ở đây, có thể đưa ra kết luận là ở lứa tuổi càng lớn,

Đồng ý
4
Không đồng ý cũng không
phản đối
3
Không đồng ý
2
Hoàn toàn không đồng ý
1
4 .4 9
3 .9 2
4
4 .18
3 .8
2 .8 7
3 .3 5
3 .6 7
4 .6 2
3 .4 5
3 .57
3 .9 7
1.00 2.00 3.00 4.00 5.00
Có hi ểu biết r ộng
Trở nên gi àu có
Phục vụ cho đất nước
T ự khẳng định mình
Làm vui l òng gi a đình
Trở nên nổi t i ếng
T hoả mãn ý t hích cá nhân
Không t hua kém bạn bè

của mình.
Cũng trên quan điểm cho rằng động cơ học tập cần thể hiện rõ tính định hướng
nghề nghiệp, chúng tôi nghĩ rằng trở nên giàu có (tất nhiên là một cách chính
đáng) hay làm lãnh đạo là những động cơ rất xứng đáng để phấn đấu. Trở nên
giàu có một cách chính đáng hay là làm lãnh đạo một cách sáng suốt thì có thể
tạo ra việc làm tốt không chỉ cho bản thân mà còn cho cả người khác nữa. Kết
quả khảo sát cho thấy các bậc phụ huynh, các giáo viên và cán bộ quản lý cũng
xếp các động cơ này ở thứ bậc khá thấp. Chúng tôi cho rằng cách nghĩ này sẽ
không cổ vũ học sinh phấn đấu học tập với các động cơ chính đáng.
Qua kết quả trả lời các câu hỏi mở của học sinh-sinh viên trong nghiên cứu này
và các nghiên cứu trước đây, có thể thấy cách dạy và học hiện nay rất hạn chế
khả năng cá nhân hoá việc học tập. Các hoạt động đồng loạt trên lớp với cùng
một chương trình, tài liệu, nhịp điệu học tập,… được tổ chức giống nhau cho
tất cả học sinh trong lớp chỉ thích hợp cho một mục đích chủ yếu là cung cấp
kiến thức. Nếu học sinh tự đặt cho mình mục tiêu rèn luyện các phẩm chất của
nhà lãnh đạo, nhà kinh doanh,… họ cũng khó có cơ hội được rèn luyện các
phẩm chất đó trong lớp học chính khoá.
Học sinh-sinh viên còn có nhiều suy nghĩ lệch lạc, lý thuyết và một số còn ngại
biểu lộ động cơ thực sự thúc đẩy hoạt động học tập của mình. Điều này có vẻ
như là bình thường đối với tập quán kín đáo của người phương Đông nói
chung. Nhưng đây lại là điểm thiếu sót của công tác hướng nghiệp, công tác tư
vấn học đường hiện nay nói chung. Học sinh nên được các giáo viên khuyến
khích để xác định mục tiêu phấn đấu, được giáo viên hướng dẫn để vạch kế
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu” Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về
định hướng tương lai”

17
_____________________________________________________________________

hoạch và giúp đỡ trong quá trình thực hiện. Quá trình này còn bị bỏ ngõ thì

định hướng tương lai”

18
_____________________________________________________________________

vậy, có 9.2% học sinh-sinh viên thích quan điểm „sống cho hiện tại đi, tương
lai biết thế nào mà chuẩn bị‟. Sơ đồ 5: Nhận thức của học sinh-sinh viên về bản thân và tương lai
(N=2000)

Dự định cho tƣơng lai

Hầu hết sinh viên-học sinh đếu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của kiến thức

23.7
21.3
3.4
1.7
1.6
3.1
58.7
4.6
32
18.7
2.4
1.1
67.1
67.8
0 20 40 60 80 100
1) sẽ rất thành công trong tương lai
2) có nhiều ước mơ đẹp cho tương lai
3) có thể thực hiện được những ước mơ của mình
4) thích lập kế hoạch để biến
những ước mơ của mình thành sự thật
5) rất mơ hồ về tương lai của mình
6) rất hăng hái tham gia vào những hoạt động
mà tôi nghĩ là sẽ cần thiết cho tương lai của tôi
7) sẽ là người nổi tiếng
8) thích tham khảo ý kiến của người khác
về tương lai của mình
9) thích quan điểm cho rằng tương lai
của mỗi người là do chính người đó quyết định
10) đang tự trang bị cho mình những kiến thức
và kỹ năng cần thiết cho tương lai của mình

1) Cố gắng học giỏi các môn học
83.5
14.7
1.8
2) Học thêm ngoại ngữ
91.6
7.2
1.2
3) Học thêm vi tính
86.1
12.2
1.7
B. Vể kỹ năng
4) Tham gia các hoạt động cộng đồng - xã hội
59.8
35.5
4.7
5) Đi làm thêm để có kinh nghiệm thực tế
65.0
28.2
6.8
6) Tham gia các câu lạc bộ, hoạt động đội nhóm
48.9
41.9
9.2
7) Lập thời gian biểu cho các kế hoạch của mình
67.9


Các số liệu khảo sát đã cho thấy ngoại ngữ và tin học được xem là lựa chọn của
phần lớn học sinh-sinh viên. Tuy nhiên, sau khi phân tích các ý kiến phỏng vấn,
nhóm nghiên cứu đề tài cho rằng chương trình học hiện nay chưa đáp ứng được
nhu cầu này.
Bảng 9: Nhận thức của học sinh-sinh viên về các kiến thức cứng cần
thiết (N=2000)

A. Kỹ năng cứng
Từ rất quan trọng
đến quan trọng (%)
Bình thường
(%)
Từ hoàn toàn không
quan trọng đến không
quan trọng (%)
1) Sử dụng thành thạo ngoại ngữ
94.0
5.3
.7
2) Biết sử dụng máy tính
92.9
6.7
.4
3) Có điểm cao trong hoc tập
70.6
25.0
4.4

Chỉ có 48.1% học sinh-sinh viên cho các hoạt động thể dục thể thao là quan

.9
3) Có sự tập trung cao
91.1
8.4
.5
4) Sáng tạo
90.2
9.4
.5
5) Làm việc có kế hoạch
90.2
9.1
.8
6) Biết nắm bắt thời cơ
89.3
9.4
1.4
7) Có tinh thần hợp tác
89.2
9.7
1.1
8) Kiến thức về cuộc sống thực tế
87.6
11.9
.6
9) Có năng lực giải quyết vấn đề
86.8
12.1
1.1
10) Có óc quan sát

1.8
18) Có nhiều ý tưởng độc đáo
77.0
20.7
2.3
19) Dám chấp nhận cái mới
76.4
21.3
2.3
20) Có óc cầu tiến
75.5
21.5
3.0
21) Có khả năng thuyết trình trước đám đông
72.7
23.7
3.6
22) Làm việc theo nhóm
71.7
25.3
3.1
23) Thích khám phá
71.3
25.7
3.0

Bảng 10.2: Nhận thức của học sinh-sinh viên về các kỹ năng mềm cần thiết
(N=2000)

B. Kỹ năng mềm

45.9
44.2
9.9

Các kỹ năng như „có cá tính‟, „có khả năng lãnh đạo‟, „biết làm việc độc lập‟,
„biết tham gia các hoạt động xã hội‟, „có niềm đam mê một lĩnh vực nào đó‟ và
„có nhiều năng khiếu khác nhau‟ không được sinh viên-học sinh đánh giá cao. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu” Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về
định hướng tương lai”

21
_____________________________________________________________________

Bảng 11: Nhận thức của học sinh-sinh viên về các phẩm chất cần thiết
(N=2000)

C. Các phẩm chất
Từ rất quan trọng đến
quan trọng (%)
Bình thường
(%)
Từ hoàn toàn không quan trọng đến
không quan trọng (%)
1) Có tinh thần trách nhiệm
94.4
4.9
.8
2) Có tính kiên trì

đức tính này (khiêm tốn, nhân ái, tế nhị) là bình thường. Quan điểm này được
chúng tôi cho là rất quan trọng để nhà trường và gia đình lưu ý.
Phần tiếp theo sau đây sẽ tập trung vào kết quả của câu hỏi khảo sát:
“Người/yếu tố nào có ảnh hưởng đến sự lựa chọn hướng đi của học sinh-sinh
viên”? Chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu này trong bảng dưới đây, trong
đó thể hiện sự đánh giá các mức độ quan trọng của những người/yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định lựa chọn hướng đi của học sinh-sinh viên.
Chúng tôi chỉ xét cột đánh giá mức độ ảnh hưởng quan trọng nhất theo học
sinh-sinh viên. Quan sát cột số ảnh hưởng số 1 của bảng trên đây, ta thấy học
sinh-sinh viên cho rằng “chính bản thân” là nhân tố quyết định quan trọng nhất
trong việc định hướng tương lai, sau đó mới đến “gia đình”. Xét đến
người/nhân tố kém ảnh hưởng nhất (mức độ 3 hoặc không ảnh hưởng) cho thấy
học sinh-sinh viên chọn “dự luận xã hội (báo chí)”, “tư vấn của Trường” “Bạn
cùng lớp” và “Ngôi sao điện ảnh, ca nhạc”. Đáng lưu ý là “tư vấn của Trường”
(89.4%) và „thầy cô‟ (76%) được cho là không có ảnh hưởng. Tất nhiên, yếu tố
là „bạn cùng lớp‟ không ảnh hưởng nhiều (97.1) cũng không làm chúng ta ngạc
nhiên nếu xét trong bối cảnh trường học nói chung.
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu” Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về
định hướng tương lai”

22
_____________________________________________________________________

Bảng 12. Sắp xếp mức độ quan trọng từ 1 đến 3 cho những ngƣời/nhân tố
ảnh hƣởng đến định hƣớng tƣơng lai của học sinh-sinh viên (N= 2000)
Người/Nhân tố
quyết định
Ảnh
hưởng số 1
Ảnh

6) Dư luận xã hội (Báo
chí, mạng Internet )
1.4
4.5
11.6
82.6
7) Tư vấn của Trường
1.3
2.4
7.0
89.4
8) Bạn cùng lớp
.9
.7
1.3
97.1
9) Ngôi sao điện ảnh,
ca nhạc nổi tiếng
.6
.5
.9
98.1
10) Những người khác
.4
.5
2.2
97.0

Từ kết quả này, có thể thấy sinh viên học sinh chúng ta là những người trưởng
thành hơn so với suy nghĩ của chúng ta, dù là có đến gần 20% sinh viên học

giáo viên của các trường cho thấy rằng việc tư vấn cho học sinh chọn lại hướng
đi không phải là trách nhiệm bắt buộc của mình. Giáo viên thực hiện công việc
này (nếu có) chủ yếu là vì tình cảm đối với học sinh và do đó họ thường làm
khi được học sinh hay gia đình muốn tham khảo ý kiến. Một vấn đề cần lưu ý
là giáo viên khi tư vấn cho học sinh thường chủ yếu dựa vào kinh nghiệm hay
sự tự đúc kết thông qua sách vở hay dư luận báo chí. Đây cũng là lý do mà các
giáo viên này không chủ động lập kế hoạch để thực hiện công việc tư vấn của
mình như các chuyên gia học đường chuyên nghiệp.
Trong tất cả các lý do mà chúng ta có thể ra đưa ra, có thể kể rất nhiều. Phần
lớn sinh viên học sinh tham gia nghiên cứu của chúng tôi, và chúng ta, biết rất
rõ là không ai có thể giúp họ tốt nhất bằng chính bản thân họ. Vấn đề là để có
thể trở thành những người trưởng thành thành và có cuộc sống tốt đẹp, họ phải
được chuẩn bị để trở thành những người trưởng thành, và chúng ta phải đối xử
họ như những người trưởng thành. Việc chuẩn bị đó, ở đây, là trách nhiệm
chung, mà nhà trường đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp và rèn
luyện cho sinh viên các kiến thức và kỹ năng cần thiết. Rất tiếc, sinh viên học
sinh cho rằng nhà trường, mà cụ thể là các thầy cô, không có ảnh hưởng gì
nhiều đến quyết định cho tương lai của họ. Điều này bao hàm cả yếu tố tích cực
lẫn yếu tố làm cho nhà trường phải suy nghĩ lại: sinh viên học sinh có thể tự
mình quyết định việc chọn lựa hướng đi trong tương lai mà không bị các ảnh
hưởng của sách vở, tuy nhiên, rõ ràng nhà trường: từ phổ thông cho đến đại
học, vẫn chưa giúp nhiều cho họ trong việc chuẩn bị đó.
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu” Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về
định hướng tương lai”

24
_____________________________________________________________________

Định hƣớng tƣơng lai của sinh viên học sinh
Có hơn 75 % học sinh trong mẫu khảo sát chọn tiếp tục học lên sau khi học

_____________________________________________________________________ Sơ đồ 6: Hướng đi của học sinh-sinh viên (N=2000)

Như vậy, kết quả cho thấy hầu hết sinh viên và học sinh được khảo sát có
nguyện vọng được tiếp tục học lên cao thay vì chọn học nghề hoặc ra đi làm
hay vừa học vừa làm. Điều này phần nào phản ánh được nhận thức sai lầm là:a/
nhà tuyển dụng sẽ coi trọng những người bước vào thị trường việc làm với văn
bằng, bằng cấp chuyên môn bậc cao hơn; b/ người ta có thể học được từ nhà
trường phần lớn kiến thức cần cho cuộc đời mình. Đây là quan niệm sai lầm vì
khoa học đã chứng minh rằng 75% kiến thức cần thiết trong cuộc đời của mỗi
người là học được qua thực tế việc làm và do đó người ta phải học suốt đời
1
.
Hơn nữa, thực tế này cho thấy một thực trạng: Đãi ngộ của xã hội hiện nay đối
với những người lao động giản đơn, người công nhân, người thợ còn quá thấp,
thực sự chưa tương xứng với sức lao động, sự hao phí và khả năng phục hồi,

Chọn
Không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status