BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thanh Phương
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG CÁC
SÁNG TÁC THỜI KÌ ĐẦU CỦA NATSUME SOSEKI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thanh Phương
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG CÁC
SÁNG TÁC THỜI KÌ ĐẦU CỦA NATSUME SOSEKI
Chuyên ngành: Văn Học Nước Ngoài
Mã số: 60 22 02 45
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUAN NIỆM CON
NGƯỜI CÁ NHÂN.................................................................................................... 12
1.1 Quan niệm về Con người cá nhân .............................................................................12
1.1.1 Con người cá nhân phương Đông và phương Tây ................................................. 12
1.1.2 Con người cá nhân Nhật Bản ................................................................................. 16
1.2 Hành trình của Tiếng nói cá nhân trong văn học Nhật Bản ...................................18
1.3. Natsume Soseki và lập trường cá nhân ....................................................................24
1.3.1 Lập trường cá nhân trước xã hội ............................................................................ 24
1.3.2 Lập trường cá nhân trong sáng tác văn chương ..................................................... 26
CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI CÁ NHÂN-NỖI LÒNG TRƯỚC THỜI CUỘC .... 28
2.1. Cá nhân cô đơn giữa Nhóm.......................................................................................28
2.1.1 Cá nhân cô đơn giữa tình thân................................................................................ 28
2.1.2 Cá nhân kiếm tìm sự đồng cảm .............................................................................. 31
2.2. Cá nhân lạc lõng trong xã hội hiện đại hóa .............................................................35
2.2.1. Cá nhân “không theo kịp” xã hội .......................................................................... 36
2.2.2. Cá nhân sợ hãi trước dư luận xã hội...................................................................... 38
2.3. Cái Tôi và sự cảnh tỉnh ..............................................................................................40
2.3.1. Cái Tôi-Tự do-Ích kỉ ............................................................................................. 41
2.3.2. Thực trạng xã hội và sự cảnh báo.......................................................................... 45
2.3.3. Thực trạng giáo dục thời kì Minh Trị và sự phản ứng .......................................... 50
2.4. Cái Tôi và sự bình tâm ..............................................................................................52
2.4.1. Tìm về triết học, nghệ thuật .................................................................................. 53
2
2.4.2. Đề cao sự công bằng xã hội .................................................................................. 60
2.4.3. Tìm sự giải thoát trong cái chết ............................................................................. 63
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT ĐẶC TẢ NHÂN VẬT CON NGƯỜI CÁ NHÂN 65
Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á số 9, năm 2007). Kết quả khảo sát này cho thấy: là một
trong những tác giả quan trọng nhất của văn học thời Minh Trị, nhưng Soseki lại xuất hiện
khá muộn và chưa được đầu tư nghiên cứu ở Việt Nam.
Soseki là một hiện tượng trên văn đàn Nhật bản, cho đến nay, những tác phẩm của ông
vẫn nằm trong danh sách những tác phẩm bán chạy nhất. Ông được đánh giá là một trong ba
trụ cột của văn học Nhật Bản hiện đại cùng với Mori Ogai và Akutagawa Ryunosuke. Chân
dung của ông in trên tờ giấy bạc 1000 yên và được phát hành trong 20 năm liền. Là một học
giả xuất sắc sang Anh du học, Soseki đã tiếp thu bài bản nhuần nhuyễn tinh hoa văn học
Anh, ông đã kết hợp vốn kiến thức rộng lớn về văn hóa phương Tây cùng sự tinh thông
Thiền học và văn hóa cổ điển Trung Hoa. Sáng tác của Soseki là hành trình nỗ lực tìm kiếm
và khẳng định cái Tôi, đặc biệt là cái Tôi cô đơn của người trí thức trong xã hội tư sản còn
mang nhiều tàn tích phong kiến. Sự nghiệp sáng tác của ông dồi dào với hơn 20 tiểu thuyết
nhiều thi phẩm, phê bình, tiểu luận trong khoảng thời gian từ 1903 đến 1916. Giai đoạn đầu,
4
những sáng tác của ông đậm chất trào phúng, châm biếm dí dỏm. Càng về sau tác phẩm của
ông đã thể hiện một bút pháp bậc thầy, khám phá, lí giải nỗi lòng của con người trước thời
cuộc.
Tên tuổi của Soseki được biết đến với tiểu thuyết đầu tay Tôi là con mèo (Wagahai wa
neko daeru) mang màu sắc trào phúng. Tiếp sau đó là sự ra đời của Cậu ấm ngây thơ
(Botchan), tác phẩm được đọc nhiều nhất của Soseki cho đến tận bây giờ, được xem là điển
hình cho thanh niên Nhật. Gối đầu lên cỏ (Kushamakura) là sự thể nghiệm độc đáo, hòa
quyện giữa thơ và văn xuôi, không giống như tiểu thuyết thông thường…Đây là ba tác
phẩm tiêu biểu trong giai đoạn đầu khởi nghiệp của Soseki. Nhưng giá trị lâu bền của những
tác phẩm này là bàn về vấn đề con người cá nhân ngay khi sự va chạm giữa Nhật Bản và
phương Tây bắt đầu. Hòa vào tiếng nói con người cá nhân bùng phát trong văn học Minh
Trị, ba tác phẩm này là những phản ánh chân thực và sinh động suy nghĩ, hành động của
con người cá nhân, không được gia công gọt giũa nhiều như những tác phẩm giai đoạn sau.
Hấp dẫn và ăn khách nhưng những tác phẩm này chưa được nghiên cứu công phu và hệ
nhận định rằng quan niệm con người cá nhân trong văn học hiện đại Nhật Bản là một sự tiếp
biến từ quan niệm Nho học truyền thống: mỗi cá nhân là một mắt xích trong chuỗi dài quan
hệ xã hội. Tác phẩm Nỗi lòng (Kokoro) của Natsume Soseki là sự thể hiện rõ nét nhất của
một bản ngã cá nhân như vậy. Những nhân vật trong tác phẩm này không hề có những tên
tuổi cụ thể nhưng chính đời sống nội tâm phức tạp làm nên diện mạo con người cá nhân của
họ. Nhân vật Tiên sinh là “cái tôi” đang cố thoát ly khỏi giá trị truyền thống còn nhân vật
Tôi lại biểu hiện kiểu “cái tôi” theo một thang giá trị mới. Đây là công trình đi sâu vào vấn
đề con người cá nhân trong tác phẩm của Soseki nhưng trọng tâm nghiên cứu ở tác phẩm
giai đoạn sau.
(4) Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân trong sách Tổng quan lịch sử văn học Nhật
Bản đã nghiên cứu kĩ lưỡng văn nghiệp của Natsume Soseki và so sánh ông với Mori Ogainhà văn cùng thời và có quan điểm về phương Đông và phương Tây khác hẳn Natsume
Soseki. Ông nhận xét về tiểu thuyết Tôi là con mèo (Wagahai wa neko dearu): con mèo
đóng vai người kể chuyện, vờ ngây thơ quan sát môi trường nhà chủ và giới trí thức, công
chức thời Meji. Trong đó Soseki được miêu tả khôi hài qua hình ảnh Ông giáo hắt hơi. Với
tác phẩm Gối đầu lên cỏ (Kusamakura) muốn tìm về cái đẹp của một thế giới vượt hẳn
chúng nhân còn với Cậu ấm (Botchan), ông đề cao lý tưởng công bằng xã hội. Qua Cậu
ấm, Soseki trình bày những nghịch cảnh và khổ não mà con người gặp phải trong cuộc sống
và quyết tâm đập tan nó. Nguyễn Nam Trân đã nhận định sâu sắc về ba tác phẩm nổi bật
trong giai đoạn đầu sáng tác của Natsume Soske.
6
(5) Một công trình khác tương đối kĩ lưỡng trong việc trình bày cuộc đời và sáng tác của
Natsume Soseki là Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật Bản hiện đại của tác giả
Nguyễn Tuấn Khanh (Viện nghiên cứu Đông Bắc Á). Tác giả đã biên soạn và giới thiệu rất
công phu 10 tác giả nổi tiếng của văn học Nhật Bản hiện đại. Natsume Soseki được tác giả
khảo sát kĩ lưỡng từ cuộc đời, văn nghiệp với những thành tựu nổi bật về sáng tác và nghiên
cứu văn học. Những sáng tác của Soseki được Nguyễn Tuấn Khanh cung cấp nhiều nguồn
tư liệu quý báu, đặc biệt ở ý kiến của các nhà bình luận đối với từng tác phẩm. Đặc điểm
chung của ba tác phẩm Tôi là con mèo, Cậu ấm, Chiếc gối cỏ đều mang tính chất tự thuật.
trong số đó dẫn đến những câu hỏi về hiện đại hóa của Nhật Bản và chủ nghĩa cá nhân là
một trong những khía cạnh của nó. Tác giả bài viết này đã đề cập vấn đề cá nhân trong tác
phẩm Tôi là con mèo tuy nhiên do trọng tâm nghiên cứu là cấu trúc tác phẩm, nên vấn đề
con người cá nhân còn sơ lược.
(5) Một công trình đáng chú ý khác khi lấy tác phẩm của Natsume Soseki làm đối tượng
khảo sát là Giải phẫu cái tự ngã của TS Takeo Doi-Chuyên gia tâm thần học. Tác phẩm
Gối đầu lên cỏ và Cậu ấm ngây thơ được khảo sát ở chương 4 “Các phương thức quan hệ
giữa người với người”. Để minh họa cho mối quan hệ phức tạp của bộ đôi khái niệm
Tatemae và Honne (có thể hiểu sơ lược là tiếng nói chung của xã hội và tiếng nói cá nhân)
và nhận định rằng những thử thách trong cuộc sống mà nhân vật họa sĩ đang nói đến hầu hết
người Nhật đều đồng tình vì họ đều đã trải nghiệm sự khó khăn đối với cấu trúc bộ đôi
Tatemae và Honne. TS Takeo Doi cho rằng: Soseki đã cho chúng ta một nghiên cứu xuất
sắc về trường hợp điển hình trong nhân vật trung tâm Botchan, là hình mẫu của cá nhân
luôn thất bại trong các tình huống xã hội. Vấn đề con người cá nhân-Cậu ấm đã được Takeo
Doi phân tích tỉ mỉ, tuy nhiên vì là công trình tâm lý học nên giá trị văn chương của Con
người cá nhân Cậu ấm còn mờ nhạt.
Trong phạm vi hẹp tài liệu chúng tôi bao quát được, việc tiếp cận nhà văn Natsume
Soseki chỉ mới là sự giới thiệu, gợi mở và nghiên cứu chung với một số tác giả khác, chưa
nhiều những công trình nghiên cứu riêng tác phẩm của Soseki, đặc biệt là vấn đề con người
cá nhân trong sáng tác của ông. Hầu hết những bài nghiên cứu tập trung ở tác phẩm Nỗi
lòng (Kokoro) (được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp của Soseki). Vì vậy, đề tài luận văn
này mong muốn góp phần giới thiệu, lý giải vấn đề con người cá nhân trong các tác phẩm
giai ở đoạn đầu của Soseki (giai đoạn thử nghiệm sáng tác của ông từ 1904-1907), tạo tiền
đề để có cái nhìn so sánh đối chiếu với từng giai đoạn sáng tác, đặc biệt là giai đoạn sáng tác
chuyên nghiệp và đỉnh cao (từ 1907-1916) của Natsume Soseki.
8
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
của các tác giả khác trong và sau thời đại Minh Trị để có cái nhìn phong phú hơn về vấn đề
con người cá nhân.
(4) Hướng tiếp cận tâm lý học
Khi nghiên cứu tác phẩm của Soseki, chúng tôi nhận thấy hướng tiếp cận này đặc biệt
quan trọng. Tác phẩm của Soseki cũng được sử dụng làm cứ liệu trong các công trình tâm lý
học. Chúng tôi chú trọng đặc trưng tâm lý của người Nhật, dùng làm cơ sở khám phá đặc
trưng tâm lý nhân vật trong tác phẩm của Soseki.
(5) Hướng tiếp cận xã hội học
Hướng tiếp cận này rất cần thiết trong việc nghiên cứu vấn đề cá nhân và xã hội ở Nhật
Bản; tìm hiểu sự tiếp nhận của độc giả với các tác phẩm của Soseki.
5. Đóng góp của luận văn
Đề tài luận văn nghiên cứu vấn đề con người cá nhân trong tác phẩm giai đoạn đầu của
Soseki, những tác phẩm này trước nay vẫn được tập trung nghiên cứu ở các vấn đề: thống
nhất văn nói và văn viết, thi pháp tiểu thuyết…
Lý giải quan niệm lập trường cá nhân (tự chủ bản thân) còn ở dạng thử nghiệm của
Soseki trên nền tảng về Chủ nghĩa nhóm tại Nhật Bản.
Góp phần khám phá nghệ thuật xây dựng nhân vật con người cá nhân trong tác phẩm
của Soseki.
6. Bố cục của luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Phân biệt rõ quan niệm con người cá nhân, con người cá nhân trong văn
học Nhật Bản, giới thiệu tác giả Soseki và những lập trường cá nhân của ông, chú trọng lập
trường cá nhân trong sáng tác.
Chương 2: Chỉ ra bản chất của con người cá nhân trong sáng tác thời kì đầu của
Soseki, lý giải vì sao con người cá nhân phải tìm đến những phương cách giải thoát.
và tự nhiên: nó đắm sâu vào bản thân nó, tự tách ra khỏi mọi cái xung quanh, chủ yếu sống
bằng những cảm xúc của mình, khép mình lại; và nếu như nó hướng tới thiên nhiên thì điều
đó diễn ra không phải bằng con đường tự nhiên và tự phát, hữu cơ, mà chỉ là do những nỗ
lực có ý thức của nó, những nỗ lực trí tuệ, tình cảm và ý chí, bằng cách khúc xạ những dữ
kiện thiên nhiên và xã hội qua một bộ máy cực kỳ phức tạp của đời sống độc lập bên trong
nó…”
Như vậy các ý kiến trên đều gặp nhau ở những đặc điểm về con người cá nhân: “đối
lập với xã hội và tự nhiên”, “đắm sâu vào bản thân”, “chủ yếu sống bằng cảm xúc của
mình”, “có bộ máy cực kỳ phức tạp của đời sống độc lập bên trong”…
12
Những quan niệm về con người cá nhân này đều xuất phát từ phương Tây. Nhận định
về văn hóa phương Tây, hầu hết các ý kiến đều cho rằng đặc trưng của nền văn hóa này là
lấy cá nhân làm nền tảng. Đó là nền văn hoá thúc đẩy cá nhân làm chủ thiên nhiên và xã hội
và trong những thế kỷ qua chính nó thay đổi thế giới dựa trên ba khái niệm chủ đạo là tiến
bộ, khoa học và nhân quyền (Theo Phan Ngọc). Nhà sử học và xã hội học Troeltsch đã viết
như sau: “Ý tưởng Nhân cách trong hình thức của Tự do, xác định mọi thứ trong đạo lý của
lương tâm, và trong hình thức của Khách thể, xác định mọi thứ trong đạo đức học của giá
trị-ý tưởng ấy rốt cuộc là một niềm tin phương Tây, không được biết đến ở Viễn Đông, và là
định mệnh nổi bật và đặc hữu của người châu Âu” 1
F
0
Người phương Tây vẫn tôn thờ chủ
nghĩa tự do và hành xử theo phương châm cá nhân là tự do nhưng đặc tính này đối với
người phương Đông lại khá mờ nhạt:
“Luân lý học Đông Phương nghiên cứu về gián chủ quan tính 間主観性, tức là
nghiên cứu về cộng đồng thể 共同体, nhưng luân lý học Tây Phương lại xuất phát từ nghiên
nông nghiệp làm gốc thì yếu tố tập thể luôn được đề cao, sức mạnh tập thể có thể chống
chọi lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên và cần thiết cho những công việc đồng áng yêu cầu
nhiều sức người. Cộng đồng các quốc gia Đông Á đã tiếp thu nền văn minh Trung Hoa, đặc
biệt là Nho giáo, chữ “Lễ” là nội dung căn bản để xây dựng học thuyết của Nho gia và sau
này là Nho giáo. Nho giáo chủ trương “Khắc kỷ phục lễ” tức kiềm chế bản thân của mình để
phục tùng “Lễ”. Cá nhân phải hy sinh tất cả cho sự phục tùng đó điều này giải thích vì sao
con người cá nhân phương Đông mang đặc điểm phụ thuộc cộng đồng.
Như vậy Con người cá nhân phương Đông được hiểu như thế nào? Nhà nghiên cứu
Nguyễn Kiến Giang trong bài viết Có quan niệm về con người cá nhân ở phương Đông
không? sau khi trình bày những ý kiến khác nhau về con người cá nhân dưới ánh sáng của
Đạo giáo, Khổng giáo, Phật giáo, Nguyễn Kiến Giang đã đúc kết ba đặc điểm chung: (1)
Con người cá nhân cố gắng hòa nhập với tự nhiên; (2) Cá nhân ý thức vị trí của mình và
phục tùng xã hội một cách tự nguyện chứ không phải do sự cưỡng chế; (3) Con người cá
nhân được nhấn mạnh ở đời sống tâm linh của chủ thể. Đặc điểm thứ hai đã phản ánh phần
nào bản chất của con người cá nhân phương Đông được hình thành từ ảnh hưởng của văn
hóa Nho giáo rõ nét. Nho giáo đề cao sự kiềm chế của bản thân, không thừa nhận cái Ngã
nhưng lại yêu cầu cái Tôi “tu thân” rèn luyện đạo đức, hoàn thiện bản thân. Nếu so sánh với
Phật giáo ở sự phân biệt Vô Ngã và Hữu Ngã sẽ thấy sự tương đồng: không có một Ngã,
một cái gì trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong sự vật. Như thế, theo
đạo Phật, cái ngã (hữu ngã) là cái “Tôi”, cái "Tôi" cũng chỉ là một tập hợp của Ngũ uẩn,
luôn luôn thay đổi, mất mát vì vậy "Tôi" chỉ là một sự giả hợp, gắn liền với cái Khổ. Nhưng
theo quan điểm nhà Phật vẫn tồn tại một nghịch lý: càng hướng tới vô ngã thì hữu ngã càng
mạnh, để đạt đến vô ngã con người phải tự ý thức đến tận cùng. Như vậy có thể hiểu con
người cá nhân phương Đông một mặt bị kiềm tỏa, hạn chế giữa tập thể, phải phục tùng tập
14
thể mặt khác lại được mở đường cho sự đào sâu đến tận cùng bản thân, cái Tôi của chính
mình.
Thực chất lịch sử của nhân loại là lịch sử của sự tìm kiếm tự do, tìm kiếm bản thân
cạnh, còn Cá nhân mang tính chất khái quát, nghiêng về đạo đức và sự ràng buộc về trách
nhiệm.
1.1.2 Con người cá nhân Nhật Bản
Trở lại với đặc tính của con người phương Đông là sự thống thuộc và tính cộng đồng,
yếu tố này được phát triển thành đỉnh cao tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Ở Hàn Quốc, tính
cộng đồng thể hiện rõ ở Chủ nghĩa gia đình, mối quan hệ và tính chất của nó trở thành hạt
nhân trong tất cả mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế và chính trị. Tính tôn ti trật tự và gia đình
trị là nền tảng và phương châm sống của quốc gia này. Tại Nhật Bản, chủ nghĩa nhóm là cốt
lõi xã hội.
Trong một xã hội theo định hướng nhóm như Nhật Bản, có rất nhiều từ mang nghĩa
"nhóm": グループ (guruupu); Từ gốc Trung Quốc 集団 (shuudan);球団 (kyuudan: đội);
连中 (renchuu: nhóm trong công ty)… Khi họ trò chuyện với người nước ngoài người Nhật
thường xưng “Chúng tôi”: “Chúng tôi không thích món ăn này”, “Chúng tôi thích vẻ đẹp
của tự nhiên”... Theo Eiko Takamizawa trong Group orientation in Japan: Analysis and
application to missions, một công trình tìm hiểu mô hình khung của xã hội Nhật Bản thì lời
xưng"Chúng tôi" bao hàm một quan điểm đồng bộ. Nếu xem xét từ góc độ lịch đại, "Chúng
tôi" không chỉ là người Nhật sống trong thế kỷ này mà còn bao gồmcả tổ tiên của họ. [78]
Takeo Doi (chuyên gia tâm thần học người Nhật) khẳng định: “Ta thường nói người Nhật
có đặc trưng là chủ nghĩa nhóm, trong khi người Mỹ là cá nhân chủ nghĩa.” [9, tr.77] đồng
thời ông cũng đưa ra bộ đôi Tatemae-Hone nhằm minh chứng cho mối quan hệ giữa cá
nhân và nhóm. Từ Tatemae được định nghĩa là một loại nguyên tắc hay luật lệ đã được xác
lập là tự nhiên và hợp thức. Tatemae luôn bao hàm sự tồn tại của một nhóm người đứng sau
lưng nó, tán thành nó. Ngược lại Hone chỉ các cá thể thuộc về một nhóm, trong sự đồng
thuận với Tatemae, mỗi cá nhân vẫn có động cơ và ý kiến riêng khác với Tatemae và giữ
cái riêng đó đằng sau Tatemae. Tatemae chính xác là một sản phẩm của xã hội hóa, và
Honne là biểu hiện của sự tự ý thức.Nhật Bản đặc biệt nhấn mạnh sự hòa hợp xã hội và sự
đồng thuận nhóm.Qua những khái niệm như Wa (sự hài hòa), Giri (trách nhiệm, lòng biết
ơn và nghĩa vụ đối với cộng đồng) và Kazoku (trung thành với nhóm, công ty). Tính chất
nhóm cao độ dẫn đến sự thỏa mãn khi phù hợp với nhóm, cảm giác phù hợp với mọi người
rất mạnh mẽ ở Nhật Bản. Người Nhật ghét bỏ lỡ những gì mà người hàng xóm, bạn bè hoặc
chất Nhật Bản. Vậy lịch sử văn học Nhật Bản có hay không có vấn đề con người cá nhân và
tại sao thời kì Minh Trị được coi là thời kì tiếng nói cá nhân phát triển mạnh mẽ nhất?
17
1.2 Hành trình của Tiếng nói cá nhân trong văn học Nhật Bản
“Yếu tố văn học chủ đạo ở các tác phẩm là nỗi buồn chứ không phải niềm vui, là nước
mắt chứ không phải nụ cười, bởi thế mà văn học Nhật Bản hướng tới những mưu cầu mang
tính trữ tình của nội tâm cá nhân hơn là đối diện với các yếu tố mang tính lịch sử, xã hội”
đây là nhận định của nhà nghiên cứu Numano Mitsuyosh về văn học Nhật Bản. Đọc văn học
Nhật Bản, dễ dàng nhận ra những xúc cảm thường nhật, dễ đi sâu vào lòng người, không
đao to búa lớn, không mang tầm vóc cao siêu, văn học Nhật Bản đem đến những điều bình
dị, sâu xa về nhân sinh.
Văn học Nhật Bản là một nền văn học trữ tình, từ Tanka đến Haiku, từ tiểu thuyết đến
tùy bút, tất cả đều là những nỗi niềm, những lời bộc bạch, là tâm sự mang tính cá nhân hơn
là cái nhìn về xã hội, chính trị. Văn học Nhật Bản cho đến trước thời kì Minh Trị không gắn
với yếu tố chính trị. Cổ sự kí (Kojiki) là huyền sử lập nước Nhật Bản, không mang nặng sự
kiện lịch sử, điểm nổi bật của Cổ sự kí là niềm vui và nỗi buồn nhân thế. Từ sự tự ái và tính
hiếu kì của nữ thần ánh sáng Amaterasu đến tâm trạng thổn thức thương nhớ người yêu của
hoàng đế Nintoku rồi lòng ghen tuông của hoàng hậu Iwa… Huyền sử của dân tộc Nhật Bản
được xây dựng bằng tâm lý thường nhật của con người, vĩ đại từ những điều nhỏ nhặt, sống
động từ những gì tĩnh lặng. “Ngọn hải đăng của thơ ca Nhật Bản”: Vạn diệp tập
(Manyoshu) là thế giới của cảm xúc và tình yêu, là khởi nguồn của thơ công dân. Trong
“Vạn diệp ngũ đại gia” nhà thơ Yamanoue no Okura có một phong cách riêng, thơ ông vang
lên âm điệu chống bất công xã hội: Trường ca Đối đáp của những người nghèo (Kinkyumondo-uta) thể hiện sâu sắc tình cảm nhân đạo yêu thương cảm thông với những số phận
khốn khổ trong xã hội:
“Giá rét run cầm cập
Quấn vội mảnh vải gai
Trùm thêm áo khoác ngắn
đề tài thực tế, khám phá hiện thực “trần trụi” của con người. Đỉnh cao của văn học Heian
còn được đánh dấu ở sự nở rộ của thể loại tùy bút và nhật kí, với thể loại này tâm tư tình
cảm của con người được biểu lộ chân thật nhất, rõ ràng nhất. Chính những tập tùy bút này
lại khắc họa rõ nét chân dung của tác giả, trong khi những tư liệu về họ chẳng còn lại được
bao nhiêu. Tùy bút Chẩm thảo tử (Makura no Soshi) của Sei Sonagon là đỉnh cao của thể
loại này, cách viết của Chẩm thảo tử rất tự do, đề tài bao gồm tất cả kinh nghiệm, những
điều mắt thấy tai nghe, cảm tưởng về cuộc sống xung quanh. Tác phẩm này có 300 đoạn in
đậm dấu ấn cảm xúc và thẩm mỹ nhạy bén của tác giả… Thể loại tùy bút và nhật kí với đặc
19
trưng theo dõi những biến chuyển nội tâm, khả năng tự chiếu đã tạo điều kiện cho con
người “bật ra” tiếng nói cá nhân mạnh mẽ và nhạy bén.
Văn học thời cận đại (thời kì Edo) là văn học bình dân, thời kì của văn chương phù thế
nổi tiếng với Ihara Saikaku (Tiểu thuyết), và Chikamatsu Mozaemon (Múa rối Joruri và ca
kịch Kabuki)…Đề tài nổi bật trong các tác phẩm của Chikamatsu là sự xung đột giữa Ninjo
và Giri. Ninjo (nhân tình) là những tình cảm và đam mê của con người, trong khi đó giri
(nghĩa lí) là những bổn phận và đạo lí. Mối xung đột giữa cá nhân và xã hội đó rất khó hòa
giải, dẫn đến cái chết bi thảm của các nhân vật chính. Giri của mỗi người tùy thuộc vào
hoàn cảnh: gia đình, thị tộc, giai cấp, xứ sở, thời đại, tư tưởng….Trong khi đó Ninjo là
những tình cảm cuồng nhiệt, say đắm của con người muốn vượt ra ngoài những ràng buộc
đó. Tác phẩm tiêu biểu của đề tài này là Tự sát đôi ở Sonezaki, Tự sát đôi ở Amijima, Cây
thông bật rễ, Cuộc chiến Kokusenya…), trong đó nổi bật tư tưởng của Chikamatsu muốn
nhân tình và nghĩa lí bổ sung lẫn nhau, quân bình trong cuộc sống. Dù nhân tình thường
phải hi sinh nhưng chính vì vậy mà nghĩa lí trở nên khoan dung hơn. Đóng góp lớn nhất của
thời kì Edo đối với văn học Nhật Bản là đã sản sinh ra thi sĩ-thiền sư kiệt xuất Basho với thể
thơ Haiku thâu tóm “vũ trụ trong một hạt cát”:
Ta nhìn sâu xa
Đóa hoa nở ở vết nứt trên tường
yêu quý thiên nhiên rất mực, còn Tennyson thì ngắt bông hoa ra khỏi sự sống của nó, xem
xét nó từng “đường gân thớ thịt” bằng con mắt của lý trí, lối tư duy khoa học…Nhưng rõ
ràng tư thế và khát vọng trước thiên nhiên của Tenyson là sự chủ động, dứt khoát và ham
học hỏi khác hoàn toàn so với Basho. Thiền sư Basho ngắm cành hoa trong sức sống của nó,
ông như một người bạn rất đỗi dịu dàng của hoa. Nhưng có lẽ sâu xa hơn là sự tôn sùng tự
nhiên và cảm nhận mình là một phần tự nhiên của Basho. Người phương Tây nhận thức,
khám phá và chinh phục tự nhiên còn người phương Đông thì dừng ở sự nhận thức, khám
phá. Họ luôn trong tâm trạng nương theo thiên nhiên để đạt đến trạng thái hòa hợp cùng vũ
trụ.
Tennyson muốn từ bông hoa để hiểu hoa, hiểu mình, hiểu Chúa trời hay nói cách khác
là muốn truy nguyên về nguồn cội. Nhà thơ tách mình ra, độc lập hoàn toàn với đối tượng
đang tìm hiểu để nghiên cứu. Con người cá nhân ở đây khao khát hiểu mình, hiểu người và
muốn hiểu cả vũ trụ bao quanh mình, đó là sự ham muốn vô cùng vô tận của một người tự
chủ, tự tin, độc lập và không bị ràng buộc. Còn Basho thì lại tìm sự giải thoát ở một bông
hoa, con người cá nhân tìm sự đồng cảm, đồng thuận để cùng ngẫm nghĩ và thâm nhập.
Không như Tenyson, để hiểu được bông hoa, Basho đã trở thành bông hoa và từ bông hoa
Basho thẩm thấu bí mật của vũ trụ rồi quay trở lại chiêm nghiệm bản thân mình. Đặc điểm
của con người cá nhân Nhật Bản hiển hiện rõ ràng qua bài Haiku của Basho.
Về thực chất, Con người cá nhân trong văn học truyền thống Nhật Bản được hiểu
như thế nào? Đó không phải là con người thức tỉnh (trong xã hội Việt Nam thời trung đại)
vốn đã quen làm theo, nghe theo tiếng nói của một cộng đồng. Đó cũng không phải con
người cá nhân mạnh mẽ, dứt khoát của phương Tây luôn tìm cách vượt trội so với cộng
đồng và cộng đồng tôn trọng điều đó như một giá trị thuộc về quyền và tư cách con người,
do đó con người được phát huy tự do và năng lực cá nhân một cách tối đa. Ở Nhật Bản đó là
tự do trong phụ thuộc, cá nhân vẫn có mong muốn riêng, vẫn làm những điều mình thích
nhưng họ vẫn nhìn về nhóm của mình. Nữ thi sĩ Komachi thổn thức với tình yêu của mình
21
trong bài thơ Tanka, là đang hòa vào dòng chảy chung của những vần thơ trữ tình, của trào
22
Sau hơn ba trăm năm đóng cửa tuyệt giao với thế giới bên ngoài, Nhật Bản ngủ kĩ đã
thức dậy trước làn gió mới từ phương Tây thổi tràn vào trên tất cả mọi lĩnh vực. Nền văn
học hiện đại, được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cá nhân. Văn học truyền
thống, cổ đại của Nhật Bản, khi tiếp nhận ảnh hưởng văn học và tư tưởng mới của Tây Âu,
thay đổi đặc thù thành nền văn học tôn trọng tính cá nhân và việc miêu tả con người, miêu
tả cá tính trở thành mục tiêu lớn nhất, được gọi là phương pháp tả thực, tiểu thuyết trở thành
trung tâm của nền văn học hiện đại. Vào thời kỳ này, văn học Nhật Bản đã hiện đại hóa với
vai trò là nền văn học của nhân dân (từ văn học chính trị đến văn học của quần chúng nhân
dân). Các trào lưu văn học nở rộ cùng nhiều trường phái lý thuyết khác nhau đã tạo nên bức
tranh phong phú đầy màu sắc cho văn học thời kì này.
Tiểu luận Bản chất của tiểu thuyết (Shosetsu shinzui) của Tsubouchi Shoyo (18591935) xuất bản năm 1885, đã đặt nền móng cho nền lý luận văn học hiện đại: phủ nhận lập
trường luân lý “khuyến thiện trừ ác” của những tác phẩm thời kì trước, chủ trương tôn trọng
thái độ tâm lý khách quan, đề cao cảm xúc của con người. Vì vậy nó còn được gọi là Chủ
nghĩa tả thực, tác phẩm tiêu biểu theo khuynh hướng này là Phù vân (Ukigumo) của
Futabatei Shimei. Tác phẩm này diễn tả ảnh hưởng đậm nét của phong trào Âu hóa lên đời
sống tình cảm của con người, đặc biệt là những thanh niên, đồng tiền và sự hào nhoáng có
sức mạnh vô cùng chi phối tính cách của con người.
Chủ trương của chủ nghĩa tả thực là nội dung của cuộc tranh luận văn học đầu tiên vào
những năm 1890 khi một số nhà phê bình khác như Ozaki Yukio (1858-1954) và Shimada
Saburo (1852-1923) nêu cao vai trò của một nền “văn học khai hóa” mang nặng tính giáo
dục và xem cảm xúc con người như là biểu hiện của một loại văn học suy đồi. Cuộc tranh
luận giữa Kitamura Tokoku (1868-1894) và Yamaji Aizan (1864-1917) về những cá nhân
kiệt xuất và con người bình thường trong văn học. Trong khi Aizan quan niệm những con
người bình thường cần được giáo hóa những vấn đề luân lý thông qua sự ngưỡng vọng
những cá nhân kiệt xuất thì Tokoku lại ý thức sâu sắc về sự cảm thông của những cá nhân
kiệt xuất hướng tới đám đông vô danh, và nhấn mạnh giáo dục không thể thực hiện được
nếu thiếu sự cảm thông.