Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Hiện nay đã có 149 quốc gia và vùng lãnh thổ trở thành thành viên Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), một tổ chức gia đời từ tháng Giêng 1995,
nhưng tiền thân của nó là Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch
(GATT) hoạt động từ năm 1947.
Đây là tổ chức thương mại đa phương toàn cầu chiếm tới hơn 90% thương
mại thế giới. Do đó, các nước đều muốn tham gia để tận dụng lợi thế thành
viên của WTO. Việt Nam gia nhập WTO có thể có được những thuận lợi
như: thuế nhập khẩu hàng Việt Nam ở nước ngoài sẽ giảm đáng kể; sự hạn
chế về định lượng đối với một số hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm
do các nước WTO sẽ bỏ chế độ hạn ngạch và thị trường được mở rộng hơn;
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng hơn; hàng hóa và dịch vự nước
ngoài tại thị trường nước ta sẽ trở nên phong phú và có chất lượng hơn.
Tham gia WTO, Việt Nam cũng có thể giảm bớt tình trạng bị chèn ép, bị
kiện cáo trong kinh doanh nhờ có công cụ trọng tài xử lý tranh chấp ít nhiều
chú ý tới các nước đang phát triển.
Tuy nhiên việc gia nhập WTO cũng đặt Việt Nam phải đối mặt với một loạt
vấn đề: mối đe dọa các ngành sản xuất trong nước chưa đủ sức cạnh tranh;
việc hạ thấp hàng rào thuế quan làm giảm nguồn thu ngân sách; trợ cấp cho
một số sản phẩm sẽ khó khăn hơn. Nói chung, việc thực hiện các chương
trình xã hội, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc y tế và giáo dục cũng như các
mục tiêu trong chiến lược phát triển sẽ phải có nhiều sự điều chỉnh, kể cả
những luật lệ kinh doanh liên quan đến luật lệ và quy tắc của WTO.
Sinh viên: Lê Ngọc Nam
Lớp : QTDN K48
1
Để minh chứng cho sự cần thiết phải xét đến vấn đề “cơ hội và thách thức
của Việt Nam khi gia nhập WTO”, em xin đưa ra bài viết trên báo cáo 67
Oxfam Quốc tế 2004 “ Khi Việt Nam đàm phán để gia nhập WTO thì cũng
MFA: Multifibre Arrangement - Hiệp định đa sợi .
MFN: Most-favored nation - Đối xử tối huệ quốc .
NT: Nation Treatment -Đãi ngộ quốc gia .
TRIMS: Trade - related investment measures - Các biện pháp đầu tư liên
quan đến thương mại .
TRIPS: Trade - related intellectual propecty rights - Khía cạnh về quyền
sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại .
WTO: World Trade Organization - Tổ chức thương mại quốc tế .
Sinh viên: Lê Ngọc Nam
Lớp : QTDN K48
3
CHƯƠNG 1
Tổng quan về Tổ chức
thương mại thế giới WTO
1.1. Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO
1.1.1. Vòng đàm phán Uruguay
Vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán lớn nhất cả về thời gian và
các lĩnh vực thương mại. Vòng này kéo dài 7 năm rưỡi, gần bằng 2 lần thời
gian dự định ban đầu. Đến cuối vòng đàm phán số nước tham dự đă lên tới
125 nước; đây thực sự là vòng đàm phán thương mại lớn nhất từ trước tới
nay và có lẽ đây cũng là cuộc đàm phán thuộc loại lớn nhất trong lịch sử.
Một số thời điểm chủ chốt của vòng Uruguay:
• Tháng 9/86 Punta del Este: bắt đầu.
• Tháng 12/88 Montreal: rà soát giữa kỳ của các bộ trưởng.
• Tháng 4/89 Geneva: Rà soát giữa kỳ hoàn thành.
• Tháng 12/90 Brussels: bế mạc hội nghị bộ trưởng trong bế tắc.
• Tháng 12/91 Genneva: Dự thảo đầu tiên của "Hiệp định cuối cùng"
được hoàn thành.
• Tháng 11/92 Washington: Mỹ và EC đạt được mức bột phá mang tên
Lớp : QTDN K48
5
đàm phán tiếp theo. Tuy nhiên, đàm phán đã đi đến bế tắc. Mọi vấn đề chỉ
được giải quyết tại hội nghị ở Geneva 4 năm sau đó. Mặc dù gặp phải nhiều
khó khăn, tại hội nghị Montreal các vị bộ trưởng đều thống nhất thông qua
hầu hết các kết quả ban đầu gồm: các nhượng bộ mở cửa thị trường cho
hàng nhiệt đới nhằm mục đích giúp đỡ các nước đang phát triển; cơ chế giải
quyết tranh chấp được đơn giản hóa và một cơ chế rà soát chính sách thương
mại. Từ trước đến nay, đây là lần đầu tiên đưa ra được một cơ chế thường
xuyên, mang tính hệ thống và toàn diện để rà soát chính sách và thực hành
thương mại đối với các nước thành viên của GATT. Vòng đàm phán này đã
dự định kết thúc tại Brussels vào tháng 12 năm 1990, nhưng do bất đồng
quan điểm giữa các bên về cách thức tiến hành cải cách hệ thống thương mại
hàng nông sản nên đã phải kéo dài. Đây là thời kỳ vòng Uruguay đang đi
vào giai đoạn khó khăn nhất. Cho dù viễn cảnh chính trị đen tối, một khối
lượng công việc kỹ thuật đáng kể đã được thực hiện và dẫn đến kết quả là có
một dự thảo hiệp định pháp lý cuối cùng, dự thảo này được gọi là “Dự thảo
luật cuối cùng”. Dự thảo này được đệ trình tại Geneva vào năm 1991. Dự
thảo đã hoàn tất được tất cả các mục tiêu đề ra tại Punta del Este, ngoại trừ
danh mục cam kết cắt giảm thuế quan và mở cửa thị trường dịch vụ của các
nước. Dự thảo này đã trở thành cơ sở để có được sự thống nhất cuối cùng.
Trong vòng hai năm tiếp theo, các cuộc đàm phán đã đứng giữa hai
ngả, một bên là thất bại cận kề, một bên là thành công với tới được. Một vài
thời hạn cuối cùng được đưa ra và bị vượt quá. Tại vòng đàm phán đã nảy
sinh những bất đồng quan điểm bên cạnh vấn đề nông nghiệp; đó là dịch vụ,
mở cửa thị trường, các qui tắc chống bán phá giá và đề xuất về việc thành
lập một tổ chức thương mại mới. Tại đây, bất đồng quan điểm của Mỹ và
Sinh viên: Lê Ngọc Nam
Lớp : QTDN K48
thương mại của các nước thành viên, đây là một bước tiến hết sức quan
trọng nhằm làm minh bạch hóa hệ thống chính sách của các nước trên thế
giới.
Với kết quả của vòng đàm phán Uruguay người ta ước tính thuế quan
nói chung sẽ giảm đi trung bình khoảng 40%. Dự kiến Mĩ sẽ giảm 35%,
Canada 45%, ấn Độ 55%, Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) 41%, Đài Loan giảm
khoảng 30 - 50% cho hàng công nghiệp và nông sản. Với mức thuế hàng
nông sản nói riêng, trong vòng 6 năm tới tính từ năm 1995 sẽ giảm 36% và
mức trợ cấp gây phương hại cho thương mại bình đẳng cũng sẽ giảm 20%.
Do đó, người ta dự đoán rằng từ năm 1995 đến năm 2002, buôn bán quốc tế
sẽ tăng thêm từ 213 - 272 tỷ đô la mỗi năm, xuất khẩu thế giới mỗi năm tăng
5% nhập khẩu tăng 3,5%.
Chương trình nghị sự : 15 chủ đề tại vòng đàm phán Uruguay
• Thuế quan
• Hàng rào phi thuế quan
• Sản phẩm tài nguyên thiên nhiên
• Hàng dệt may
• Nông nghiệp
• Sản phẩm nhiệt đới
• Các điều khoản của GATT
• Các hệ thống qui định của vòng đàm phán Tokyo
• Chống phá giá
• Trợ cấp
• Tài sản trí tuệ
Sinh viên: Lê Ngọc Nam
Lớp : QTDN K48
8
• Các biện pháp đầu tư
so với cơ chế của GATT. Đây là đóng góp lớn nhất của WTO đối với hệ
thống thương mại thế giới.
Trước đây việc giải quyết tranh chấp giữa các nước ký kết GATT được dựa
vào hai cơ chế chủ yếu :
+ Theo điều khoản tham vấn và điều khoản Bảo vệ các ưu đãi và lợi ích.
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của mỗi hiệp định đa phương.
Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT còn bị những hạn chế :
+ Các nghị quyết đạt được không giải quyết được những tranh chấp
phát sinh, thường dẫn đến việc các bên thương lượng hoà giải là chính.
+ Hệ thống giải quyết tranh chấp không mang tính tự động do vậy bên
bị kiện có thể dễ dàng gây khó khăn để ngăn cản một nhóm chuyên trách
(Ban hội thẩm) tiến hành hoạt động của mình.
+ Thời hạn tiến hành qui trình giải quyết tranh chấp quá dài.
+ Hệ thống không có cơ chế bảo đảm cho các nghị quyết được thực hiện.
Những khiếm khuyết trên làm giảm bớt những giá trị của tự do hoá
thương mại mà hệ thống thương mại đa phương đem lại các nước đã vấp
phải nhiều khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp với các đối tác mạnh
hơn mình.
Đối với WTO, tổ chức thương mại thế giới đã đưa ra được một cơ chế
giải quyết tranh chấp hoàn chỉnh hơn, cho phép các mối quan hệ trong
Sinh viên: Lê Ngọc Nam
Lớp : QTDN K48
10
thương mại quốc tế được giải quyết một cách công bằng hơn, hạn chế được
những hành động đơn phương, độc đoán của các cường quốc thương mại,
cho phép nhanh chóng tháo gỡ những ách tắc thường xảy ra và khó giải
quyết trước đây. Các thủ tục của WTO dựa trên qui định luật pháp và giúp
cho hệ thống thương mại an toàn và dễ dự báo hơn. Hệ thống này dựa trên
các qui tắc được xác định rõ ràng với cả biểu thời gian để hoàn thành một vụ
quyết các qui định về thương mại giữa các quốc gia với nhau. Nội dung
chính của WTO là các hiệp định được hầu hết các nước có nền thương mại
cùng nhau tham gia đàm phán và ký kết. Các văn bản này qui định các cơ sở
pháp lý làm nền tảng cho thương mại quốc tế. Các tài liệu đó về cơ bản
mang tính ràng buộc các chính phủ phải duy trì một chế độ thương mại
trong một khuôn khổ đã được các bên thống nhất. Mặc dù các thoả thuận đạt
được là do các chính phủ đàm phán và ký kết nhưng mục đích lại nhằm giúp
các nhà sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ trong nước; các nhà hoạt
động xuất nhập khẩu có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh dễ dàng
hơn.
1.2.1. Mục tiêu
Mục tiêu chính của hệ thống thương mại thế giới là nhằm giúp thương
mại được lưu chuyển tự do ở mức tối đa, chừng nào nó còn nằm trong giới
hạn không gây ra các ảnh hưởng xấu không muốn có.
Ngoài ra, WTO còn có những mục tiêu sau:
• Nâng cao mức sống của con người.
Sinh viên: Lê Ngọc Nam
Lớp : QTDN K48
12
• Bảo đảm tạo đầy đủ công ăn việc làm, tăng trưởng vững chắc thu nhập
và nhu cầu thực tế của người lao động.
• Sử dụng hợp lý các nguồn lực của thế giới, đặc biệt là nguồn nhân lực.
• Mở rộng việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dịch vụ trên phạm vi toàn thế
giới.
1.2.2. Chức năng của WTO
WTO có những chức năng sau đây:
Chức năng thứ nhất của WTO: Tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch
đa biên mà nội dung của nó rất đa dạng đề cập lớn tới nhiều lĩnh vực khác
nhau. Thông qua các cuộc đàm phán như vậy, việc tự do hoá mậu dịch của
phán cần thiết để gia nhập WTO, các nước này có thể tìm hiểu được về hệ
thống kinh tế thị trường và đồng thời xắp xếp lại những chế độ và qui tắc để
có thể quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường.
1.2.3. Các nguyên tắc của WTO
Các hiệp định của WTO mang tính chất lâu dài và phức tạp vì đó là
những văn bản pháp lý bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn. Các
hiệp định này giải quyết các vấn đề liên quan đến: nông nghiệp, hàng dệt
may, ngân hàng, bưu chính viễn thông, mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn công
nghiệp, các qui định về vệ sinh dịch tễ, sở hữu trí tuệ và nhiều lĩnh vực khác
nữa. Tuy nhiên có một số các nguyên tắc hết sức cơ bản và đơn giản xuyên
suốt tất cả các hiệp định. Các nguyên tắc đó chính là nền tảng của hệ thống
thương mại đa biên. Sau đây là chi tiết các nguyên tắc đó.
Sinh viên: Lê Ngọc Nam
Lớp : QTDN K48
14
Nguyên tắc thứ nhất: Thương mại không phân biệt đối xử. Nguyên tắc
này được áp dụng bằng hai loại đãi ngộ song song, đó là đãi ngộ tối huệ
quốc và đối xử quốc gia.
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): Đối xử mọi người bình đẳng
như nhau. Theo qui định của các hiệp định WTO, nguyên tắc này được áp
dụng như sau: Mỗi thành viên đối xử với mọi thành viên khác bình đẳng với
nhau như là các bạn hàng được ưu đãi nhất. Nếu như một nước cho một
nước khác được hưởng lợi nhiều hơn thì đối xử "tốt nhất" đó phải được
giành cho tất cả các nước thành viên WTO khác để các nước khác vẫn tiếp
tục có được đối xử tối huệ quốc. Nguyên tắc MFN đảm bảo rằng mỗi thành
viên WTO đối xử 150 thành viên khác tương tự nhau.
Nguyên tắc này rất quan trọng vì vậy nó được ghi nhận tại điều đầu
tiên của hiệp định chung về quan thuế và thương mại GATT về thương mại
hàng hoá. Nguyên tắc MFN cũng được đề cao trong hiệp định chung về dịch