Đề tài "Nâng cao vị thế của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trong tiến trình hội nhập tổ chức thương mại thế giới WTO" - Pdf 76

Luận văn
Đề tài "Nâng cao vị thế của doanh nghiệp nhà nước
Việt Nam trong tiến trình hội nhập tổ chức thương
mại thế giới WTO"

1
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay toàn kinh tế đang trở thành xu thế khách quan của sự phát
triển kinh tế thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập và gia
nhập tổ chức thương mại WTO nói riêng sẽ tạo cho nền kinh tế nước ta có xu
hướng mở, để đón nhận sự cạnh tranh gay gắt, bên cạnh thuận lợi thì chúng ta
cũng gặp không ít khó khăn, đặc biệt là yêu cầu phát triển để cạnh tranh đặt ra
cho các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta là rất lớn. Một vấn đề đặt ra là làm

đều có môi trường hoà bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa các nền
kinh tế ngày càng gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau tạo động lực cho tăng trưởng
kinh tế, các thể chế đa phương trên thế giới và khu vực có vai trò ngày càng
tăng cùng với sự phát triển của ý thức độc lập tự chủ, tự lực của các dân tộc.
Toàn cầu hoá đang là một trong những xu thế phát triển chủ yếu của
quan hệ quốc tế hiện đại, cuộc cách mạng KTKT đã và đang thúc đẩy mạnh

3
mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực lượng
sản xuất được quốc tế hoá cao độ những tiến bộ khoa học kỹ thuật đặc biệt là
lĩnh vực thông tin đã đưa các quốc gia tiến lại gần nhau hơn dần đến sự hình
thành của mạng lưới toàn cầu, trước biến đổi to lớn về khoa học công nghiệp
này, tất cả các quốc gia trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế,
điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và dỡ bỏ hàng rào thuế quan
làm cho việc trao đổi hàng hoá, di chuyển vốn, lao động và các kỹ thuật trên
thế giới ngày càng thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế
mở rộng và phát triển.
3. Mục tiêu của WTO
Tiếp tục kế thừa những mục tiêu nêu ra trong lời nói đầu của CĐTT là:
nâng cao đời sống nhân dân ở các nước thành viên đảm bảo việc làm và tăng
trưởng kinh tế, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới. Đồng
thời WTO còn thực hiện thêm 3 mục tiêu sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá, dịch vụ trên thế giới phục
vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường.
- Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết bất đồng và
tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ
thống thương mại đa phương phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của công
pháp quốc tế, đảm bảo cho các nước đang phát triển đặc biệt là các nước kém
phát triển được hưởng lợi ích thực sự từ tăng trưởng thương mại quốc tế, phù
hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các

Nếu nhìn hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và những đóng góp của
doanh nghiệp nhà nước hiện nay thì rõ ràng doanh nghiệp nhà nước đang có
vai trò hết sức quan trọng trọng trong nền kinh tế nước ta. Thể hiện trên
những khía cạnh chủ yếu sau:
- Doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ những ngành, những lĩnh vực
then chốt hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng nhất cho công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước, nắm giữ toàn bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội có tính huyết mạch, hầu hết các doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp nhà

5
nước trong các ngành xây dựng (giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp dân dụng)
cơ khí, chế tạo, luyện kim, xi măng, điện tử, hoá chất, phát dầu điện, dầu khí,
thông tin liên lạc, vận tải đường sắt, đường biển, đường không, ô tô… sản
xuất hàng công nghiệp tiêu dùng, chế biến nông, thuỷ hải sản xuất khẩu chiếm
thị trường áp đảo trong huy động vốn và cho vay.
Phần của doanh nghiệp nhà nước trong GDP chiếm tỷ trọng năm 1992:
40,2%, năm 1996: 39,9%, năm 1998: 41,2%, năm 2000: 39,5%.
Cụ thể tỷ trọng phần doanh nghiệp nhà nước trong số ngành như
sau:80% công nghiệp khai thác, trên 60% công nghiệp chế biến, 99% công
nghiệp điện - gaz - dầu khí, cung cấp nước, trên 82% vân chuyển hàng hoá,
50% vận chuyển hành khách,…74% thị phần đối với nền kinh tế.
- Các doanh nghiệp nhà nước đã góp phần quan trọng vào việc điều tiết
cung cầu, ổn định giá cả, chống lạm phát, ổn định tỷ giá, khắc phục mặt trái
của cơ chế thị trường.
- Doanh nghiệp nhà nước chiếm 1 phần rất quan trọng trong XNK,
trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ tỷ trọng tuyệt đối trong hoạt động XNK,
riêng công nghiệp năm 1999 đã xuất khẩu được 6,17 tỷ USD (chủ yếu do
doanh nghiệp nhà nước) chiếm gần 54% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn
bộ nền kinh tế tổng công ty lương thực miền Nam xuất khẩu, gạo chiếm tỷ
trọng 60 - 70% so với cả nước, năm 2000 doanh nghiệp nhà nước chiếm trên

đầu 2005 các nhà nước thành viên phải hoàn toàn xoá bỏ các hạn chế nghạch
đối với hàng dệt may. Nếu vào thời điểm đó Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của WTO thì triển vọng xuất khẩu dệt may là rất lớn.
Tiến hành thương mại không có phân biệt đối xử: nguyên tắc không
phân biệt đối xử còn biết đến dưới tên gọi "nguyên tắc đãi ngộ quốc gia".
Hiện nay do Việt Nam chưa là thành viên của WTO nên trong buôn bán với
các nước là thành viên của WTO, các nước này có thể giành quy chế đối xử
gây bất lợi đối với Việt Nam. Cùng với sự phát triển của hoạt động ngoại
thương, một số mặt hàng của Việt Nam đã có năng lực cạnh tranh trên một số

7
thị trường như gạo, cà phê, thuỷ sản, dệt may. Khi đó các quốc gia thành viên
WTO như Hoa kỳ, EU, Ca na đa… đưa ra lý do phân biệt đối với hàng xuất
khẩu của Việt Nam như các vụ kiện bán phá giá với cá basa ở Hoa kỳ và bán
bật lửa ở Châu âu. Trong việc giải quyết các vụ tranh chấp này Việt Nam
không được hưởng quy chế tranh chấp như các quốc gia thành viên WTO.
Gia nhập WTO là do động lực cho các cải cách môi trường kinh doanh
trong nước. Để trở thành thành viên của WTO, thì các quốc gia nộp đơn xin
gia nhập đều phải minh bạch hoá các chính sách kinh tế, đặc biệt là: Chính
sách thương mại . Kể từ khi Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO, Việt Nam
đã tiến hành một số biện pháp cải cách như:
- Mở rộng quyền kinh doanh cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế. Nếu như trước năm 1998, chỉ có các doanh nghiệp có giấy
phép xuất nhập khẩu mới được tham gia ngoại thương thì bỏ từ ngày 1-9-
2001 bất kỳ doanh nghiệp nào có đăng ký kinh doanh thì đều có quyền xuất
nhập khẩu. Chính phủ ban hành quyết định 46/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001
về quản lý xuất nhập khẩu trong giai đoạn 2001-2005, trong đó bãi bỏ hạn
ngạch và quản lý nhập khẩu thông qua đầu mối đối với gạo và phân bón, bãi
bỏ giấy phép nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng như xi măng, thép, dầu thực
vật…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status