phong trào đấu tranh của công nhân cao su tỉnh bà rịa vũng tàu thời kì 1945 1975 - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
________________

Võ Mỹ Liễu Linh

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN
CAO SU TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
THỜI KÌ 1945- 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
________________

Võ Mỹ Liễu Linh

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN
CAO SU TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
THỜI KÌ 1945- 1975

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số

: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ



MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU VÀ PHONG
TRÀO CÔNG NHÂN CAO SU CỦA TỈNH TRƯỚC CÁCH
MẠNG THÁNG TÁM .......................................................................... 7
1.1. Sơ lược về tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ..................................................................... 7
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ................... 7
1.1.2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu .... 8
1.2. Sự hình thành và phát triển đội ngũ công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ...... 15
1.2.1. Thực dân Pháp lập các đồn điền cao su ở Bà Rịa – Vũng Tàu .................. 15
1.2.2. Sự hình thành đội ngũ công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ............ 20
1.2.3. Tình cảnh công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu trước Cách mạng
tháng Tám 1945 ......................................................................................... 21
1.2.4. Sự chuyển biến về ý thức giai cấp, ý thức cách mạng của đội ngũ công
nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu ................................................................ 30
Chương 2: PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN CAO SU
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG PHÁP (1945 – 1954) ............................................................ 37
2.1. Chính sách của thực dân Pháp đối với ngành cao su và tình hình sản xuất
cao su ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sau năm 1945 ....................................................... 37
2.1.1. Chính sách của thực dân Pháp đối với ngành cao su sau năm 1945 ở
Bà Rịa – Vũng Tàu .................................................................................... 37
2.1.2. Tình hình sản xuất cao su ở Bà Rịa – Vũng Tàu sau Cách mạng tháng
Tám – 1945 ................................................................................................ 39
2.2. Phong trào đấu tranh của công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai

3.1.1.1. Tình hình sản xuất cao su ...................................................................... 68
3.1.1.2. Đời sống công nhân cao su sau hiệp định Genève ............................... 71
3.1.2. Chính sách của Mĩ và chính quyền Sài Gòn trên lĩnh vực khai thác cao su .... 73
3.1.2.1. Các thủ đoạn chính trị của Mĩ và chính quyền Sài Gòn........................ 73
3.1.2.2. Các thủ đoạn hành chính, kinh tế của Mĩ và Chính quyền Sài Gòn ........... 75
3.1.3. Phong trào đấu tranh của công nhân cao su giai đoạn 1954 – 1960 ............ 76
3.1.3.1. Chuyển hướng đấu tranh, củng cố xây dựng cơ sở Đảng, cơ sở
quần chúng trong công nhân cao su .................................................... 76


3.1.3.2. Đấu tranh đòi dân sinh, cải thiện đời sống, chế độ lao động và đòi
thi hành Hiệp định Genève .................................................................. 78
3.1.3.3. Phong trào “Đồng khởi” của công nhân cao su .................................. 82
3.2. Công nhân cao su làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ và
Chính quyền Sài Gòn (1961 – 1965) ........................................................................ 84
3.2.1. Quốc sách “Ấp chiến lược” của Mĩ và Chính quyền Sài Gòn ................... 84
3.2.2. Công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu đấu tranh chống gom dân lập ấp
chiến lược từ năm 1961 – 1965 ................................................................. 87
3.2.2.1. Tình hình sản xuất cao su .................................................................... 87
3.2.2.2. Tình cảnh công nhân cao su ................................................................ 88
3.2.2.3. Phong trào đấu tranh phá ấp chiến lược của công nhân cao su Bà
Rịa – Vũng Tàu từ năm 1961 – 1965 .................................................. 90
3.2.3.4. Công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu góp phần vào chiến thắng
Bình Giã (1964 – 1965) ....................................................................... 92
3.3. Công nhân cao su Bà Rịa- Vũng Tàu chiến đấu chống Mĩ, cứu nước
(1965 – 1972) ................................................................................................. 94
3.3.1. Vùng cao su – Vùng trọng điểm bình định của Mĩ và Chính quyền Sài Gòn...... 94
3.3.2. Tình hình khai thác cao su và đời sống công nhân cao su giai đoạn
1965 – 1972 ............................................................................................... 96
3.3.2.1. Tình hình khai thác cao su ..................................................................... 96

1.1. Lí do khoa học
Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu
là một lực lượng chính trị, là một đội quân chủ lực của phong trào cách mạng ở địa
phương, góp phần quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng trên địa bàn tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng và miền Đông Nam Bộ nói chung.
Bên cạnh đó, trong quá trình đấu tranh cách mạng, hơn nửa thế kỉ dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội ngũ công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu
ngày một trưởng thành về mặt nhận thức xã hội, về ý thức giai cấp, ý thức cách
mạng.
Tìm hiểu phong trào đấu tranh của công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu, luận
văn mong muốn làm sáng tỏ đặc điểm, vai trò, thành tích đấu tranh của họ trong hai
thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ.
1.2. Lí do thực tiễn
Sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, các đồn điền cao
su đã được khai thác khá ổn định. Qua quá trình đấu tranh, giai cấp công nhân ngày
một trưởng thành hơn. Đặc biệt, trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ,
công nhân cao su đã góp phần to lớn trong sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc.
Là một người sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đỏ miền Đông, là một giáo viên
dạy lịch sử ở trường phổ thông, tác giả muốn thông qua công trình của mình giúp
thế hệ trẻ không chỉ tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của ông cha mà còn
tự hào về những thành quả mà nhân dân Bà Rịa – Vũng Tàu đã đạt được trong công
cuộc đổi mới hiện nay.
Từ lí do khoa học và thực tiễn trên, đề tài “Phong trào đấu tranh của công
nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thời kì 1945 – 1975” nghiên cứu tổng hợp
nhằm để lại thành quả của đội ngũ công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu xưa, ghi
nhận những đóng góp của họ cho cuộc kháng chiến ở Nam bộ nói riêng, của lịch sử
dân tộc nói chung trong thời kì 1945 – 1975.


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ngoài ra còn có một số bài viết nghiên cứu khác ở các tạp chí chuyên ngành
trong chừng mực nhất định có đề cập đến một số mặt về đội ngũ công nhân cao su ở
miền Đông Nam Bộ nói chung và Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng.
Tuy nhiên, mức độ nghiên cứu còn phân tán, lẻ tẻ trong các chuyên đề, các
giáo trình, các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
một địa phương cụ thể.
• Thời gian gần đây, còn có một số luận văn, luận án như:
-

Luận án Phó Tiến Sĩ khoa học lịch sử của Trần Toản với đề tài “Sự
hình thành và phát triển của đội ngũ công nhân cao su Đồng Nai qua
các thời kì lịch sử (1906 – 1991), TPHCM, 1994.

-

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Mộng Tuyền với đề tài “Phong trào đấu
tranh của công nhân cao su Thủ Dầu Một trong 30 năm chiến tranh giải
phóng”, TPHCM, 2010.

Ngoài ra còn có một số tập sách về lịch sử địa phương như “Từ đồn điền Cuộc
– tơ – nay đến công trường Cẩm Mỹ” xuất bản năm 1987, “Xà Bang xưa và nay”
xuất bản 1990…
Đây là những công trình nghiên cứu rất cụ thể và gợi mở cho luận văn định
hướng về nguồn tài liệu cần thiết khi bước vào nghiên cứu đề tài.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa thể hiện được một cách hệ
thống và toàn diện về phong trào đấu tranh của công nhân cao su Bà Rịa – Vũng
Tàu thời kì 1945 – 1975.
Hi vọng với đề tài “Phong trào đấu tranh của công nhân cao su tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu thời kì 1945 – 1975”, luận văn có thể đóng góp thêm một mảng màu ở
một địa phương cụ thể trong bức tranh đa sắc màu của phong trào đấu tranh của

làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu trong các thời kì lịch sử, đồng thời cũng để góp
phần xác định tính chính xác của những cứ liệu, số liệu lịch sử.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu, kế
thừa những thành quả của các bộ môn khoa học xã hội khác như: văn học dân gian,
lịch sử quân sự… để vấn đề được lí giải một cách khoa học và có tính thuyết phục
cao.
5. Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu được khai thác và sử dụng trong luận văn gồm:
- Các tác phẩm, lí luận của chủ nghĩa Mác Lê – nin, của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về giai cấp công nhân, về đường lối,
tư tưởng quân sự….


- Các công trình nghiên cứu sử học có liên quan đến đề tài được công bố trên
sách báo, tạp chí…đang lưu trữ tại Phòng khoa học – công nghệ và Môi trường
quân khu 7; thư viện Khoa học xã hội & Nhân văn TP.HCM, thư viện Tổng hợp
TP.HCM, Liên đoàn lao động tỉnh BRVT, thư viện tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu…
- Các biên bản hội thảo, hồi kí, lời kể của các nhân chứng lịch sử, tài liệu tổng
kết chiến tranh lưu tại Ban lịch sử của Bộ chỉ huy quân sự và phòng lịch sử Đảng
Ban tuyên giáo tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu
Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu, khai thác nguồn tài liệu trong các công trình
lịch sử địa phương và các tác phẩm của người Pháp viết về cuộc chiến tranh Việt
Nam và Đông Dương.
6. Đóng góp mới của luận văn
Qua nghiên cứu, luận văn có những đóng góp mới như sau:
- Trình bày một cách hệ thống, tương đối toàn diện sự ra đời và phát triển của
đội ngũ công nhân cao su Bà Rịa – Vũng Tàu trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, văn hóa xã hội của đội ngũ công nhân qua các thời kì lịch sử từ 1945 – 1975.
- Góp phần làm phong phú thêm tư liệu về các phong trào đấu tranh nói chung
và phong trào đấu tranh của công nhân cao su ở Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng từ

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
VÀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN CAO SU CỦA TỈNH
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
1.1. Sơ lược về tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trên tọa độ địa lí được xác định từ 10°20’ đến
10°45’ vĩ bắc và 107° đến 107°35’ kinh đông, là vùng đất ở cửa ngõ phía Đông của
miền Đông Nam bộ, là một tỉnh được thành lập trên cơ sở hai địa danh là Bà Rịa –
Vũng Tàu, theo nghị quyết kì họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII, ngày 12 tháng 8 năm
1991 bao gồm 7 đơn vị hành chính: thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa, huyện Côn
Đảo, huyện Long Đất, huyện Xuyên Mộc, huyện Châu Đức, huyện Tân Thành.
Trong đó thành phố Vũng Tàu và huyện Côn Đảo trước 12 – 8 – 1991 được gọi là
Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, và các huyện : Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc,
được tách ra từ tỉnh Đồng Nai. Ngày 2 tháng 6 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Nghị định 45/CP chia huyện Châu Thành thành ba đơn vị hành chính là thị xã
Bà Rịa, huyện Châu Đức và huyện Tân Thành. Ngày nay Bà Rịa – Vũng Tàu trở
thành một tỉnh có 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện như hiện nay.
Với 2047,66 km², Bà Rịa – Vũng Tàu có diện tích tương đương thành phố
Hồ Chí Minh, bằng 1/3 tỉnh Đồng Nai và chiếm 0,6% diện tích của cả nước. Bên
cạnh đó, Bà Rịa – Vũng Tàu còn quản lí hơn 100,000 km² thềm lục địa Nam biển
Đông, có tiềm năng to lớn về kinh tế, có nguồn tài nguyên dầu khí và một ngư
trường rộng lớn. Trải qua một quá trình tích hợp, trong điều kiện tự nhiên của một
vùng ven biển, miền đất Bà Rịa – Vũng Tàu đã hình thành hai loại thổ nhưỡng
chính: hệ Peralit, chủ yếu hình thành trên nền đá của vùng đồi núi thấp, chiếm
khoảng 58% diện tích đất tự nhiên (113,000ha), tập trung chủ yếu ở các huyện: Tân
Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc và Côn Đảo. Xen lẫn trong hệ đất đỏ Ba-zan, thích
hợp với các loại cây công nghiệp như cao su, chè, cà phê, điều, tiêu… và các loại
cây ăn quả nhiệt đới. Hệ phù sa được kiến tạo từ sự bồi đắp của các con sông, suối




sản xuất và nhu cầu của vùng đất Nam bộ.
Đến đầu thời Trung Hưng (1788), chúa Nguyễn đã cho lập Phong hỏa đài
(đài quan sát, truyền tin) ở núi Ngọa Ngưu (vị trí của Bạch Dinh ngày nay) để bảo
vệ cửa biển và bán đảo, đồng thời tăng cường lực lượng thân binh để ngăn chặn bọn
hải tặc hoành hành, đe dọa đối với dân cư và ghe thuyền buôn bán qua lại Vũng
Tàu. Đến đời vua Minh Mạng (1820), ba viên đội đã được phái đến trấn ải, lập đồn
binh, dẹp nạn cướp biển. Theo chính sách “Ngụ binh ư nông”, ba viên đội lần lượt
lập nên các làng Thắng Nhất, Thắng Nhì và Thắng Tam. Vì vậy, Vũng Tàu thời ấy
còn có tên là Tam Thắng và ba viên đội Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn
Huyền có công lập làng ngày ấy được nhân dân thờ trong ba ngôi đình của ba làng
Tam Thắng cho đến tận ngày nay.
Bên cạnh Tam Thắng, làng Núi Nứa dù có muộn hơn nhưng cũng được hình
thành theo một mô thức như thế. Nứa là tên núi, theo truyền thuyết Bà Trao là tên
một vùng đất phía Đông núi Nứa, cũng mang tên một người phụ nữ đã đến đây khai
hoang, lập ấp nhưng không thành. Đầu đời Minh Mạng (1820), triều đình phong
kiến cho lập một đồn binh tại Bến Đá, và người Việt đến định cư quanh vùng Bến
Đá, bến Điệp, Rạch Già ngày càng đông. Trong khi đó vùng phía Đông Núi Nứa
vẫn còn hoang vu. Đến năm 1900, ông Lê Văn Mưu (thường được gọi là ông Trần)
về đây khai khẩn lập ấp Bà Trao. Nhiều người dân ở các tỉnh miền Tây Nam bộ đã
theo Lê Văn Mưu đến đây định cư sinh sống.
Ông Lê Văn Mưu vừa tổ chức khai hoang, lập ấp, vừa truyền bá đạo Hiếu
Nghĩa (dân trong vùng quen gọi là đạo ông Trần). Vốn có nguồn gốc từ đạo Tứ Ân
Hiếu Nghĩa, ra đời từ giữa thế kỉ XIX, do Đức Bổn Sư Ngô Lợi sáng lập, nhằm tập
hợp lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Tây Nam bộ. Đạo ông Trần
có những nét khác lạ, kì thú với những công trình kiến trúc, lễ hội sinh động, những
phong tục, tập quán có sức cuốn hút lòng người. Người dân Bà Trao, ngày nay là
Long Sơn, hầu như ai cũng theo đạo ông Trần. Người theo đạo ông Trần là đàn ông
thường để râu và búi tóc củ tỏi, mặc đồ bà ba đen, luôn làm điều nhân nghĩa, cứu
giúp người gặp khốn khó, hoạn nạn, căm ghét điều ác. Trong suốt hai cuộc kháng

không may. Ngày nay, lễ tục ấy vẫn được giữ gìn và phát triển. Các lễ hội hàng năm


ở Dinh Cô Long Hải, miếu Bà Ngũ Hành, lăng Ông Nam Hải ở Thắng Tam (Vũng
Tàu), Phước Tỉnh (Long Đất) và lễ hội tại các đình thần ở hầu khắp các làng xã
trong tỉnh, cầu cho xóm làng bình yên, mưa thuận gió hòa, được mùa tôm cá…phản
ánh phần nào nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc, sinh động và có sức hấp dẫn đặc biệt
của cư dân Bà Rịa – Vũng Tàu từ ngày xưa cũng như hiện nay.
Trải qua nhiều thế kỉ, địa danh của tỉnh được thay đổi rất nhiều lần. Từ năm
1698, Bà Rịa, bao gồm cả Vũng Tàu thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên; năm
1808 là huyện Phước An, trấn Biên Hòa, thành Gia Định. Năm Minh Mệnh thứ thứ
13 (1832), nhà Nguyễn cải cách hành chính, chia lại tỉnh, đặt quan cai trị từ trấn
Quảng Nam trở vào thành 12 tỉnh, vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc huyện Phước
An của tỉnh Biên Hòa, một trong sáu tỉnh của xứ Nam Kì [54].
Năm 1837, nhà Nguyễn đặt phủ Phước Tuy (thuộc tỉnh Biên Hòa) gồm hai
huyện Long Thành và Phước An. Năm 1838, phủ Phước Tuy kiêm thêm huyện
Long Khánh; năm 1851, phủ Phước Tuy lại gồm hai huyện Long Thành và Phước
An như năm 1837. Hiện trạng này được duy trì cho đến khi thực dân Pháp xâm lược
các tỉnh miền Đông Nam Bộ [54].
Năm 1865, thực dân Pháp chia toàn cõi Nam Kì thành 13 sở tham biện. Phủ
Phước Tuy của nhà Nguyễn bấy giờ là sở tham biện Bà Rịa. Năm 1876, thực dân
Pháp chia tỉnh Biên Hòa thành bốn tỉnh. Phủ Phước Tuy cũ là tỉnh Bà Rịa mới. Địa
danh Bà Rịa, với tư cách là tên gọi của một tỉnh tồn tại từ ngày đó đến năm 1956
mới đổi làm tỉnh theo tên phủ cũ Phước Tuy.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu, với tư
cách là một đơn vị hành chính độc lập, từ đầu thế kỉ XIX đến nay, địa phận Vũng
Tàu được nhiều lần tách ra và nhập vào với Bà Rịa. Năm 1887, thực dân Pháp chia
tỉnh Bà Rịa thành Bà Rịa và Cap Saint Jacques. Ngày 1 tháng 5 năm 1895, thực dân
Pháp thành lập đô thị Cap Saint Jacques (đứng đầu là chức danh Résident
maire:Đốc lý). Kể từ đây Vũng Tàu phát triển độc lập theo mô hình, xu hướng của

– Vũng Tàu ngày nay. Điều đó phản ảnh một sự thống nhất trong quá trình tạo lập
và phát triển trong đời sống kinh tế cũng như văn hóa – xã hội và phong trào yêu
nước, đấu tranh cách mạng của nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ trước đến nay.


Địa danh Bà Rịa – Vũng Tàu là tên gọi ghép của hai địa bàn xác định là Bà
Rịa và Vũng Tàu. Địa danh Vũng Tàu vốn là tên một vịnh biển nhỏ, là bến đỗ của
tàu thuyền. Vị trí của vịnh biển này được Đại Nam nhất thống chí xác định như sau:
“Núi Lãi Kỵ ở đông nam huyện Phước An 26 dặm, đầu ghềnh thường có con rái
biển bơi lặn ở đấy, nên gọi là Lãi Kỵ (Ghềnh Rái)… Đột khởi ba hòn núi đá đứng
sững như trụ biểu ở giữa biển, nên làm tiêu chí cho ghe thuyền nam bắc qua lại (…)
Đầu núi làm cửa hữu cho Ngọc Tỉnh, cuối núi làm ngoại hình cho Cần Giờ, ở trong
có vũng lớn tục gọi là Vũng Tàu, vũng này bảo vệ cho ghe thuyền đậu nghỉ. Trên
núi có suối nước ngọt, dưới có dân chài nhóm ở đông được đúc, làm chỗ cửa bể rất
là xinh đẹp”. [5].
Địa danh Bà Rịa được Trịnh Hoài Đức chép trong Gia Định thành thông chí,
cuốn địa chí đầu tiên của triều Nguyễn viết về Bà Rịa: “Bà Rịa là ở đầu trấn Biên
Hòa, là đất có danh tiếng, cho nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: “Cơm Nai –
Rịa, cá Rí – Rang là lấy xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến
Nghé, Sài Gòn, Mỹ Tho, Long Hồ cũng ở vào trong đó (…) Đất này dựa lưng vào
núi, quay mặt ra biển, rừng rậm tre cao, trên có tuần – trường để chiêu dụ bọn man
– mạch đến đổi chác, dưới có quan – tân để xem xét ghe thuyền lúc đi ra biển.
Đường trạm thủy lục giao thông, thổ sản núi rừng cung cấp. Chế ngự Đê – man
phòng ngự đạo tặc, có huyện, nha, đạo, thủ chia giữ nhiệm vụ, vẫn là địa hạt xung
yếu thứ nhất”. [9, tr 35].
Đại Nam nhất thống chí có chép rõ chuyện việc nhà Nguyễn đã đầu tư vào
việc khai phá vùng đất Bà Rịa: “Sông Xích Lam: ở cách huyện Phước An 31 dặm
về phía đông… Ở bờ phía Đông trước kia úng thủy, không tiện cho việc nông, năm
Minh Mệnh thứ 19 mới khơi cho nước úng theo sông mà tiêu, khẩn được hơn 300
mẫu ruộng hoang làm ruộng công cho các xã thôn phụ cận”. [5, tập V, tr 60].

Thắng Tam thuộc tỉnh hạt Bà Rịa, đến năm 1895, mới trở thành tỉnh hạt Vũng Tàu.
Từ năm 1956, cùng với việc thành lập tỉnh Phước Tuy gồm đất Bà Rịa, Vũng
Tàu và quần đảo Hoàng Sa, người ta không dùng địa danh Bà Rịa chỉ một tỉnh nữa.
Tháng 8 năm 1991, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được thành lập với cách gọi bằng tên
ghép của hai địa danh đã từng ghi trong cổ sử.


1.2. Sự hình thành và phát triển đội ngũ công nhân cao su tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
1.2.1. Thực dân Pháp lập các đồn điền cao su ở Bà Rịa – Vũng Tàu
Năm 1858, thực dân Pháp do Trung tướng Rigault de Genoiuilly chỉ huy nổ
súng vào Cửa Hàn – Đà Nẵng, mở đầu cuộc tiến công xâm lược nước ta. Đà Nẵng
được xem là cửa ngõ quan trọng đánh vào kinh đô Huế. Nhưng chiến lũy Liên Trì,
chiến thuật vườn không nhà trống và khí hậu khắc nghiệt đã khiến Rigault de
Genouilly thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh.
Cuối cùng, Rigault de Genouilly đã quyết định đánh chiếm Nam Kỳ khi yêu
cầu tăng viện của y không được Napoléon III đáp ứng, vì triều đình Pháp đang mở
cuộc chiến chống Áo. Nam Kỳ trong mắt người Pháp là nơi có nguồn dự trữ lương
thực của cả nước. Đánh chiếm Nam Kỳ vào thời điểm đó còn cắt đứt ngay được ý
đồ xuất hiện của người Anh trong vùng hoạt động của Pháp.
Ngày 2 tháng 2 năm 1859, Rigault de Genouilly đã đưa một phần lớn lực
lượng vào đánh chiếm Nam Kỳ. Sau 8 ngày chuyển quân, tối ngày 9 tháng 2 năm
1859 (mồng 7 Tết Kỉ Mùi), 12 chiếc thuyền do đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy
tập kết ở vịnh hàng Dừa (Bãi Trước) Vũng Tàu.
Suốt ngày 10 tháng 2 năm 1859, pháo đài Phước Thắng phòng thủ bờ biển
bên sườn Núi Lớn (khu vực Bạch Dinh ngày nay) đã nã đạn vào đoàn chiến hạm
của liên quân thực dân Pháp – Tây Ban Nha, mở đầu cuộc kháng chiến của quân và
dân Nam Bộ. Thống chế Trần Đồng, tổng chỉ huy lực lượng thủy, lục quân nhà
Nguyễn đã huy động toàn bộ lực lượng, anh dũng và kiên quyết đánh địch. Buổi
chiều, thống chế Trần Đồng bị tử trận. Cuộc đấu pháo giữa pháo đài Vũng Tàu và
liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã diễn ra quyết liệt, làm cho các chiến hạm Pháp

khai thác đồn điền cao su, cây có dầu và nứa ở Đông Dương. Số vốn ban đầu là
500, 000 phơ răng, gồm 5 nghìn cổ phần, mỗi cổ phần 100 phơ răng. Năm 1911, số
vốn tăng lên thành 2 triệu phơ răng, năm 1919: 6 triệu phơ răng [19, tr 15]. Trong
các năm 1914 – 1918, công ty tập trung khai phá rừng vùng Trảng Bom, Cây Gáo,
Túc Trưng và vùng sau này gọi là Chiến khu Đ.
- Công ty đồn điền Đất Đỏ (Plantations des terres rouges) thành lập năm
1910, trụ sở đóng tại Sài Gòn. Chủ công ty là một viên toàn quyền Pháp làm việc ở


Hà Nội. Đối tượng của nó là khai thác các đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một, Biên
Hòa, Bà Rịa. Số vốn ban đầu là 2,300,000 phơ răng, gồm 23,000 cổ phần, mỗi cổ
phần 100 phơ răng. Năm 1923, số vốn tăng lên tới 36 triệu phơ răng. Năm 1925: 46
triệu, năm 1935: 110 triệu, công ty này có phòng thí nghiệm, phòng nghiên cứu cây
cao su đặt tại bàu Ông Yêm, huyện Tân Uyên, tỉnh Thủ Dầu Một cũ (nay là tỉnh
Bình Dương) [19, tr 15].
- Công ty cao su Viễn Đông (Société de Caoutchoues d’Extrêne – Orient),
tên thường gọi là Công ty CEXO, thành lập năm 1910, trụ sở đặt tại Pa – ri. Chủ là
Đờ La – lăng người Pháp. Đối tượng của nó là khẩn hoang và canh tác đất đai ở
Viễn Đông, đặc biệt là ở Đông Dương và chủ yếu trồng cây cao su. Số vốn ban đầu
là 1,500,000 phơ răng, gồm 15 nghìn cổ phần, mỗi cổ phần 100 phơ răng. Sau đó
vốn ngày một tăng lên: 8 – 1903: 3 triệu phơ răng, 1912: 4 triệu 5 trăm nghìn phơ
răng, 1917: 6 triệu phơ răng, 1920: 8 triệu, 1934: 28 triệu [64; tr 6,29,47].
- Công ty đồn điền Xuân Lộc (Hàng Gòn): thành lập năm 1911 đóng trụ sở
tại Sài Gòn. Chủ công ty là một người Pháp tên là Đờ Ba – bê (De Babet). Đối
tượng của công ty là trồng cây cao su và các loại cây công nghiệp khác. Số vốn ban
đầu là $360,000, gồm 7,200 cổ phần, mỗi cổ phần $50. Năm 1914, tăng them 800
cổ phần nữa, nâng số vốn lên thành $400,000 [64; tr 6,29,47].
- Công ty cao su Tây Ninh (Société des Hévéas de Tây Ninh): thành lập
năm 1913, có trụ sở ở Sài Gòn. Đối tượng hoạt động của công ty này là kinh doanh
đồn điền cao su ở Tây Ninh. Số vốn ban đầu là 3,800,000 phơ răng, gồm 38 nghìn

84,100 hecta ở miền Nam.[10, tr 153].
Ngoài sự đầu tư thiết bị máy móc các chủ tư bản còn quan tâm đổi mới kĩ
thuật gieo trồng. Trong thời gian này số vườn cây lai ghép được trồng ở nhiều đồn
điền cao su.
Bên cạnh việc trồng mơi các lô cao su ở các đồn điền, các công ty cao su đã
tiến hành xây dựng 3 nhà máy chế biến mủ ở Dầu Giây, An Lộc và Long Thành với
công suất hàng ngàn tấn mủ trong 1 năm.
Năm 1935 nhiều đồn điền của các Công ty nhỏ ở Biên Hòa và Bà Rịa sáp
nhập vào Công ty cao su Đông Dương. Công ty này trở thành một Công ty cao su



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status