BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
___________________
Đàm Thị Thu Hương
CẢM THỨC BI AI
TRONG CÁC KHÚC NGÂM
- NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
________________________
Đàm Thị Thu Hương
CẢM THỨC BI AI
TRONG CÁC KHÚC NGÂM
- NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
Chuyên ngành
: Văn học Việt Nam
Mã số
: 60 22 34
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề ..................................................................................................... 2
3. Mục đích - Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu ...................................................... 9
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 9
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .......................................................... 10
6. Cấu trúc luận văn .............................................................................................. 11
Chương 1: NGÂM KHÚC - VẤN ĐỀ VĂN BẢN VÀ THỂ LOẠI .................... 12
1.1. Ngâm khúc - nguồn văn bản .............................................................................. 12
1.1.1. Tình hình văn bản hiện nay ......................................................................... 12
1.1.2. Việc xác định lại hệ thống văn bản .............................................................. 18
1.2. Ngâm khúc - một thể loại của thơ ca trữ tình Việt Nam .................................... 23
1.2.1. Ngâm khúc - nguồn gốc ra đời .................................................................... 23
1.2.2. Các chặng đường phát triển ......................................................................... 30
1.2.3. Ngâm khúc - một thể loại thơ ca mang đậm bản sắc dân tộc ...................... 39
Chương 2: NGÂM KHÚC - THẾ GIỚI CỦA CẢM THỨC BI AI .................... 49
2.1. Khái niệm cảm thức bi ai ................................................................................... 49
2.2. Thế giới của cảm thức bi ai trong thể ngâm....................................................... 56
2.2.1. Cảm thức bi ai trước thiên nhiên ................................................................. 56
2.2.2. Cảm thức bi ai trước cuộc đời ..................................................................... 69
2.2.3. Cảm thức bi ai trước thân phận con người .................................................. 84
Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM THỨC BI AI TRONG THỂ NGÂM ..... 99
3.1. Thể song thất lục bát ........................................................................................ 100
3.1.1. Sự vận dụng tối đa các hình thức đối xứng ................................................ 101
3.1.2. Sự phá vỡ cách ngắt nhịp quen thuộc ........................................................ 106
3.1.3. Sự thành công của nghệ thuật trùng điệp................................................... 111
3.2. Ngôn ngữ thơ ca ............................................................................................... 116
3.2.1. Sự đa dạng của các kiểu câu ...................................................................... 116
đất màu mỡ ươm mầm cho hạt giống buồn thương; thế nên lần giở những trang thơ
của các tác giả đương thời như Nguyễn Du, Bùi Huy Bích, Đoàn Nguyễn Tuấn,
Phạm Nguyễn Du…, niềm bi cảm khi thì bàng bạc khi thì da diết neo đậu mãi trong
tâm hồn người đọc. Tuy nhiên, không phải tác giả nào cũng lựa chọn nỗi buồn làm
hạt nhân cho toàn bộ sáng tác của mình, cũng như không phải tác phẩm hay thể loại
1
- Theo cách phân kì lịch sử văn học trung đại của PGS.TS. Đoàn Thị Thu Vân trong công trình “Con người
nhân văn trong thơ ca sơ kì trung đại”, trang 9; trong đó giai đoạn sơ kì trung đại từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ
XV, trung kì trung đại từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVIII và hậu kì trung đại từ giữa thế kỉ XVIII đến
cuối thế kỉ XIX.
2
nào cũng đậm đặc cảm thức bi ai như thể ngâm. Không quá để nói rằng, cảm xúc bi
thương chính là yếu tính nuôi dưỡng sự sinh tồn và làm nên giá trị độc đáo không
thể lẫn giữa thể ngâm với các thể loại khác cùng thời. Tập trung vào vấn đề cốt lõi
này hẳn là chúng ta tìm đúng chiếc chìa khóa để mở ra cánh cửa nghệ thuật của thể
thơ trữ tình trường thiên trong giai đoạn thơ ca hậu kì trung đại Việt Nam.
1.3. Văn chương thế giới không thiếu những tác phẩm bi ca. Chỉ cần nhìn qua nền
văn học của các nước lân cận, văn học Nhật Bản ngay từ thời đại Heian, niềm bi
cảm (aware) đã thấm đẫm trong truyện Genji của Murasaki và trở thành một trong
những cảm thức chủ yếu xuyên suốt nền văn học của xứ sở Phù Tang. Từ thế kỉ X XI trước công nguyên, tác phẩm nổi tiếng Trung Quốc Li tao của Khuất Nguyên
cũng đã mang tinh thần bi kịch. Các nhà thơ Lí, Đỗ đời Đường (618 - 907) cũng để
hồn thơ của mình phiêu diêu trong nỗi buồn bi thiết của tha nhân. Nỗi buồn không
vắng mặt giữa dòng chảy của cuộc đời và vì thế cũng thường trực trong thơ ca như
một phạm trù thẩm mỹ mang tính phổ quát. Với thể ngâm và cụ thể hơn là “cảm
thức bi ai” được nói đến của thể loại, chúng ta sẽ thấy được sự gặp gỡ cũng như dấu
trung tìm hiểu từng tác phẩm cụ thể. Có những công trình tìm hiểu toàn bộ khúc
ngâm, thường dưới dạng chuyên luận, luận đề như: Luận đề về Chinh phụ ngâm (Tạ
Văn Ru), Luận đề về Cung oán ngâm (Sao Mai), Khảo luận về Cung oán ngâm
khúc (Thuần Phong), Giảng luận về Cao Bá Quát và Cao Bá Nhạ (Lam Giang)
Giảng luận Chinh phụ ngâm khúc (Vũ Tiến Phúc)… hay dưới dạng các giáo trình
văn học sử như Việt Nam văn học sử yếu (Nghiêm Toản), Văn chương chữ Nôm
(Thanh Lãng), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Phạm Thế Ngữ), Văn học
Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX (Nguyễn Lộc ), Lịch sử văn học
Việt Nam tập 3 (Lê Trí Viễn). Bên cạnh đó, cũng có những công trình tìm hiểu từng
vấn đề chuyên biệt như Đoàn Thị Điểm với Chinh phụ ngâm hay là một tác phẩm
chống chiến tranh (Văn Tân), Triết lý trong Cung oán ngâm khúc (Kiêm Đạt), Nỗi
buồn của người chinh phụ (Thế Viên), Thân phận của người cung nữ (Thế Viên),
Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát (Phan Ngọc)… Phần lớn các công trình
này đều hướng đến những tác phẩm có giá trị, được mọi người biết đến, nhiều nhất
vẫn là Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, sau mới đến các tác phẩm như Tự Tình
khúc, Thu dạ lữ hoài ngâm, Ai tư vãn. Ở mỗi công trình, hầu hết các học giả, dù tìm
4
hiểu các giá trị trong tác phẩm hay đi vào những vấn đề riêng biệt, đều nhận ra nỗi
buồn đậm nét trong mỗi khúc ngâm, từ nội dung đến hình thức nghệ thuật.
Về phương diện nội dung, các tác giả đều khái quát được tâm trạng buồn
thương tha thiết trong mỗi khúc ngâm. Dương Quảng Hàm nhận xét về Chinh phụ
ngâm “Một bài văn êm đềm ảo não, rõ ra giọng một người đàn bà buồn bã, nhưng
có vẻ thê lương hơn là đau đớn, không đến nỗi réo rắt sầu khổ như giọng văn Cung
oán” [73, tr.451]. Phạm Văn Diêu thấy tâm trạng bi thương bao phủ toàn bộ khúc
ngâm người chinh phụ “Sầu và oán là điệu chung của khúc ngâm. Nó tràn trề khắp
không gian, chan chứa trong ý nghĩ tâm tư, điều khiển hành động cử chỉ của nhân
vật, tắm lên sự vật một màu thương nhớ ngao ngán mênh mông như nỗi lòng” [13,
vì sao các khúc ngâm nhuốm màu sầu hận bi thương. Thanh Lãng khái quát nên
bốn nguyên nhân làm nên đau khổ của con người, đó là bản thân, thiên nhiên, xã hội
và ông trời, trong đó ông cho rằng “bản thân ta với những bệnh tật thể xác, những
phai nhạt về hình hài, những thất tình về tâm hồn là nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ
vô bờ bến” [29, tr.162]. Vũ Tiến Phúc trong Giảng luận Chinh phụ ngâm lại quan
tâm nhiều đến nguyên nhân xã hội, ông thấy rằng “giữa thi nhân và đại chúng có
một sợi dây liên lạc vô hình mà thiêng liêng. Chinh phụ ngâm khúc và Cung oán
ngâm khúc đều đã phản ánh đúng tâm trạng thê thảm của xã hội loạn li lúc bấy
giờ” [50, tr.101]. Nói cách khác, chính bối cảnh xã hội ngột ngạt của thế kỉ XVIII là
nguồn cội sâu xa cho những “xúc cảm bi ai, sầu hận” trong các khúc ngâm.
Nhìn chung, khi đi vào tìm hiểu, phẩm bình hay luận bàn về các khúc ngâm,
các học giả đều quan tâm đến nỗi buồn thể hiện trong nội dung hình thức của tác
phẩm. Tuy nhiên, tính chất chìa khóa ấy không được nhìn trên một diện rộng của
thể loại mà chỉ mới dừng lại ở một số tác phẩm cụ thể, tiêu biểu; đồng thời nó cũng
không được đặt hẳn thành một vấn đề riêng mà chỉ là những nhận định, đánh giá,
khái quát được rút ra để làm bật những vấn đề tìm hiểu khác như thế giới tâm trạng
của nhân vật, vấn đề số phận người phụ nữ, tính chất văn chương cổ điển, vấn đề
luân lí, thời đại… Vì thế chưa một công trình nào khái quát nên một tên gọi chung
đích đáng cho cảm xúc buồn thương có mặt thường trực trong nhiều khúc ngâm,
giống như văn học Nhật Bản có hẳn một cụm từ để nói về “niềm bi cảm” như
“aware”.
6
Chặng thứ hai: từ năm 1975 đến nay (2010). Nói chính xác hơn, từ khoảng
những năm 80 của thế kỉ XX đến nay, các nhà nghiên cứu bắt đầu đi sâu vào vấn đề
thể loại, dù rằng việc nghiên cứu về từng tác phẩm cụ thể vẫn được đồng hành
nhưng có phần kém sôi nổi và dồi dào hơn.
Trên phương diện tác phẩm, các nhà nghiên cứu thường tập trung đi sâu vào
ngâm khúc.
Trên phương diện thể loại, lịch sử nghiên cứu khúc ngâm được mùa với hàng
loạt các công trình có giá trị như: Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát (Phan
Ngọc), Diễn biến của hình thức song thất lục bát (Phan Ngọc), Những khúc ngâm
chọn lọc (Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải), Thể loại ngâm và Cung oán
ngâm (Niculin), Lục bát và song thất lục bát (Phan Diễm Phương), Mấy vấn đề thi
pháp văn học trung đại Việt Nam (Trần Đình Sử), Ngâm khúc - Quá trình hình
thành, phát triển và thi pháp thể loại (Ngô Văn Đức), Cung oán ngâm khúc và khúc
ngâm song thất lục bát (Nguyễn Ngọc Quang), và gần đây nhất là Khúc ngâm song
thất lục bát - Những chặng đường phát triển (Đào Thị Thu Thủy)… Các công trình
kể trên bên cạnh việc tiếp tục phẩm bình, đánh giá các giá trị của tác phẩm đã đặc
biệt chú ý đến quá trình hình thành và phát triển thể loại, đến đặc trưng của thể
ngâm ở cả nội dung và nghệ thuật. Phan Ngọc cho rằng “hình thức không chỉ là
những biểu hiện bề ngoài mà nó mang tính nội dung, hình thức khổ thơ với kiến
trúc 7-7-6-8 cho phép thể thơ này nói lên được sự đi về của cảm xúc, lên cao, xuống
thấp rồi lại dàn ra để đón lấy một đợt sóng khác, không phải chỉ để tán dương, kể
lại mà chủ yếu nói lên tiếng hát của con tim, ngâm khúc chính là bài ca nội tâm”
[41, tr.75]. Ngô Văn Đức tìm hiểu đặc trưng thể loại (chủ yếu ở giai đoạn thế kỉ
XVIII - XIX) xét dưới góc độ thi pháp như kết cấu, nhân vật trữ tình, không gian
nghệ thuật và thời gian nghệ thuật, lời thơ. Đào Thị Thu Thủy dựng lại diện mạo
của thể loại ngâm khúc thông qua việc nghiên cứu quá trình vận động, phát triển
nghệ thuật của chúng (ở các thế kỉ XVIII - XIX - đầu XX) trên các phương diện như
nhân vật trữ tình, kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, lời văn nghệ thuật. Liên
quan đến “cảm thức bi ai” trong thể loại, có một số nhận định rất gợi mở như “Nhân
vật trữ tình trong các khúc ngâm - hình bóng cái tôi của tác giả, đều cất lên những
lời ca bi thương để giãi bày nỗi đau trước sự đổ vỡ của tình yêu, hạnh phúc và cảm
giác quẩn quanh bế tắc trước sự ngột ngạt tăm tối của cuộc đời… Ở đây không có
8
9
3. Mục đích - Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu
a. Mục đích
Luận văn được thực hiện nhằm chỉ ra một trong những đặc trưng cơ bản nhất
làm nên thể loại ngâm khúc, đó chính là “cảm thức bi ai”.
b. Đối tượng
Để thực hiện đề tài, đối tượng mà luận văn hướng đến là tất cả các tác phẩm
được xác định là khúc ngâm. Người viết sử dụng nguồn tư liệu chính là Tổng tập
văn học Việt Nam tập 13 với các tác phẩm cụ thể như Chinh phụ ngâm, Cung oán
ngâm, Ai tư vãn, Tự tình khúc, Thu dạ lữ hoài ngâm. Tác phẩm Chinh phu ngâm
(Hồng Liệt Bá) được lấy từ Hợp tuyển ngâm khúc Việt Nam.
Các tác phẩm còn lại, người viết sẽ dựa trên những cuốn sách được xuất bản
riêng, không có trong các tuyển tập như Quả phụ ngâm (khuyết danh), Bần nữ thán
(khuyết danh), Hương thôn nữ thán (khuyết danh), Quá xuân nữ thán (Chu Ngọc
Chi), Thán Kiều (Chu Ngọc Chi), Chinh phu ngâm khúc (khuyết danh), Lí thị vọng
phu ngâm (Xuân Lan), Chinh phụ dạ tĩnh ngâm khúc (Ngô Văn Triện), Thiếu nữ
hoài xuân ngâm khúc (khuyết danh), Việt Tiên ngâm khúc (Nguyễn Bá Cảnh), Hàn
nho thán (Bùi Huy Đức), Hàn sĩ thán (khuyết danh).
c. Phạm vi
Đề tài chỉ tập trung vào “cảm thức bi ai” trong các khúc ngâm. Các nội dung
khác nếu có được bàn đến cũng chỉ để soi tỏ cho vấn đề trung tâm này.
Trong việc sử dụng nguồn tư liệu, người viết xin tạm thời bỏ qua các vấn đề
về văn bản dịch, dịch giả, thời điểm ra đời chính xác của một số khúc ngâm, những
vấn đề còn chưa được xác định cụ thể.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp như sau:
a. Phương pháp loại hình
Luận văn sẽ tìm hiểu “cảm thức bi ai” trong các khúc ngâm từ góc nhìn thể
loại, thể ngâm khúc. (Xuyên suốt trong luận văn khi dùng khái niệm các khúc ngâm
nay.
Luận văn cũng muốn chỉ ra một tên gọi riêng cho nỗi buồn vốn luôn thường
trực và ghi dấu ấn đậm nét trong thể loại. Nếu như văn học Nhật Bản vẫn được biết
đến với cảm thức aware, văn học Trung Quốc vẫn thường được nhắc đến với cảm
11
hứng ai oán, thì văn học Việt Nam cũng có quyền hãnh diện về một thể loại riêng
mang đậm “cảm thức bi ai”. Từ việc chỉ ra tên gọi, người viết cũng muốn nêu lên
nội dung và nghệ thuật thể hiện cho đặc trưng tiêu biểu ấy, xem đó như là một con
đường hữu hiệu nhất để đi vào thế giới của thể loại ngâm khúc.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài được thực hiện sẽ trở thành một nguồn tư liệu cho việc học tập và
nghiên cứu về thể loại ngâm khúc trong trường phổ thông cũng như các trường đại
học.
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận; trong đó phần chính
thức và quan trọng của luận văn là nội dung sẽ được triển khai cụ thể ở những
chương chính như sau:
Chương 1: Ngâm khúc - vấn đề văn bản và thể loại
1.1. Ngâm khúc - nguồn văn bản
1.2. Ngâm khúc - thể loại của thơ ca trữ tình Việt Nam
Chương 2: Ngâm khúc - Thế giới của cảm thức bi ai
2.1. Khái niệm “cảm thức bi ai”
2.2. Thế giới của cảm thức bi ai trong thể ngâm
Chương 3: Hình thức thể hiện cảm thức bi ai trong ngâm khúc
3.1. Thể song thất lục bát
3.2. Ngôn ngữ thơ ca
3.3. Giọng điệu nghệ thuật
tr.71] . Thêm vào đó, những tác phẩm viết bằng thể song thất lục bát thuộc giai
đoạn sau như Hà thành thất thủ ca, Lời người vợ hát chèo, Khóc Dương Khuê, Hải
13
ngoại huyết thư, Tỉnh quốc hồn ca… liệu có được xem là các khúc ngâm như những
tác phẩm “mẫu mực” thuộc giai đoạn đầu hay không chưa được xác định rõ. Có một
ranh giới thật mong manh, mơ hồ vắt giữa thể song thất lục bát và thể ngâm.
Kế đến, các nhà biên soạn tuyển tập cũng tìm cho mình một tiếng nói riêng khi
đưa ra những con số khác nhau về số lượng các tác phẩm. Trần Lê Sáng trong Hợp
tuyển ngâm khúc Việt Nam đã xác định 43 khúc ngâm (của 27 tác giả), trong đó thể
ngâm được nhìn từ một phạm vi rất rộng, ôm trọn cả thể ca, khúc, vãn, thán, oán…
trong 10 thế kỉ của nền văn học trung đại (từ thế kỉ X - XIX). Ở đây, tuy phần nào
đã chỉ ra sự khác biệt giữa thể ngâm với các thể khác nhưng soạn giả cũng cho rằng,
thể ngâm không đứng riêng trong thế đơn độc mà có quan hệ “ruột thịt” với các thể
khác như vãn, thán, ca, hành, từ… Riêng ở thể ngâm, tiêu đề các tác phẩm dứt
khoát phải xuất hiện chữ “ngâm”. Do đó, nhà biên soạn dễ dàng thừa nhận các tác
phẩm Phóng cuồng ngâm, Trừu thần ngâm (Tuệ Trung), Thu dạ lữ hoài ngâm (Kỳ
Đồng Nguyễn Văn Cẩm) thuộc thể loại này. Thêm vào đó, “tác phẩm ngâm không
hẳn đều buồn nhất là với các tác phẩm chữ Hán. Nhưng với các tác phẩm viết bằng
chữ Nôm (…) nhờ sức mạnh của nghệ thuật ngâm song thất lục bát với nhạc điệu
buồn” [57, tr.13-14] thì âm hưởng buồn thương nhất thiết đóng vai trò chủ đạo. Như
vậy, thể loại ngâm dung hợp cả những tác phẩm mang âm điệu buồn lẫn những giai
điệu vui và sự khác nhau trong âm hưởng đó tuỳ thuộc vào văn bản đó sử dụng văn
tự bằng chữ Hán hay chữ Nôm.
Đến Những khúc ngâm chọn lọc, các tác giả tuy đã kéo biên độ thời gian đến
văn học hiện đại, nhưng do mục đích biên soạn là tinh tuyển, chọn lọc nên số lượng
khúc ngâm chỉ nằm gọn trong 9 tác phẩm, bao gồm Phóng cuồng ngâm, Tứ thời
khúc vịnh, Tư dung vãn, Chinh phụ ngâm diễn ca, Cung oán ngâm, Ai tư vãn (Tự
(Khuyết danh), Hải ngoại huyết thư (Phan Bội Châu), Hai chữ nước nhà (Á Nam
Trần Tuấn Khải)…, nhà nghiên cứu xác định nó khác với giai đoạn trước khi thiên
về khuynh hướng thể hiện tâm trạng và nhiệt tình công dân đối với đất nước, giống
nòi. Ông không khẳng định đây là những khúc ngâm mà cho rằng đây là những tác
phẩm có sự đan xen giữa thể ngâm khúc và thể vịnh khúc.
Công trình nghiên cứu gần đây nhất là luận án tiến sĩ của Đào Thị Thu Thủy,
học giả này đã nâng số lượng các khúc ngâm lên đến con số cao nhất là 27 tác
phẩm. Đào Thị Thu Thủy đã chia từng thời kì của thể loại và xác định các tác phẩm
15
cụ thể như: 1- Thế kỉ XVIII có ba tác phẩm Chinh phụ ngâm (bản dịch), Cung oán
ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều) và Ai tư vãn (Ngọc Hân công chúa); 2- Thế kỉ XIX
có năm tác phẩm Thu dạ lữ hoài ngâm (Đinh Nhật Thận), Tự tình khúc (Cao Bá
Nhạ), Hoài cổ khúc (Miên Bửu), Bần nữ thán (khuyết danh), Quả phụ ngâm
(khuyết danh), 3- Nửa đầu thế kỉ XX có 19 tác phẩm Quả phụ ngâm (Nguyễn Thúc
Nghiêm), Hương thôn nữ thán (?), Hàn nho thán (Bùi Huy Đức), Thán Kiều (Chu
Ngọc Chi), Quá xuân nữ thán (Chu Ngọc Chi), Chinh phu ngâm khúc (?), Hạ dạ lữ
hoài (Xuân Lan), Lí Thị vọng phu ngâm (Xuân Lan), Chinh phụ dạ tĩnh ngâm khúc
(Ngô Văn Triện), Xà lim oán (Vũ Văn Cảo), Hàn sĩ thán (khuyết danh), Biệt xứ tù
ngâm (Bùi Hữu Diên), Tù phụ ngâm (khuyết danh), Thiếu nữ hoài xuân (?), Việt
Tiên ngâm khúc (Nguyễn Bá Cảnh), Thuật hoài (khuyết danh), Thư gửi chồng chưa
cưới (Hoàng Thị Tòng), Tự tình (Tương Phố), Tự tình (Đặng Trần Phất). Để xác
định những tác phẩm như thế, Đào Thị Thu Thủy đã đưa ra khái niệm về thể loại ở
phần mở đầu luận án “Khúc ngâm song thất lục bát là những tác phẩm trường thiên
tiêu đề thường chứa chữ ngâm, ngâm khúc, vãn, thán… có tính chất tự tình, thể hiện
nỗi buồn, sầu, đau đớn khắc khoải triền miên của một nhân vật trữ tình (có thể là
tâm sự riêng hoặc chung) xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử nhất định, được viết
theo thể song thất lục bát và bằng chữ viết dân tộc (chữ Nôm hoặc chữ quốc ngữ)”
định đây là thể loại thơ ca tuy ít nhiều ảnh hưởng yếu tố ngoại lai nhưng chủ yếu
vẫn sinh ra và lớn lên từ bầu sữa mẹ Việt Nam. Đây là ý kiến chiếm được sự đồng
thuận từ nhiều nhà nghiên cứu như Phan Ngọc, Nguyễn Quang Tuân, Ngô Văn
Đức, Nguyễn Ngọc Quang và Đào Thị Thu Thủy…
Thứ hai, về nội dung thể hiện. Các nhà nghiên cứu thừa nhận những khúc
ngâm bằng chữ Hán cho rằng nội dung thể loại không chỉ là tiếng đàn bầu buồn bã,
hiu hắt trong đêm vắng mà còn là những thanh âm vui vẻ, phấn khởi của chiếc đàn
tranh, không ngừng tấu lên khúc nhạc ngợi ca non nước thái bình, thiên nhiên diễm
lệ hay những tấm gương trung thần liệt nữ. Và hẳn nhiên, ý kiến còn lại loại đi
mảng màu sáng đó trong bức tranh thể loại mà chỉ nhìn thấy sắc buồn có khi đậm
nhạt khác nhau qua từng tác phẩm. Tuy nhiên, cùng lấy tông buồn làm chủ đạo
nhưng nội dung thể hiện trong khuynh hướng này tiếp tục rẽ nhánh theo từng thời
kì, nếu như giai đoạn nửa đầu thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX, nỗi buồn thu hẹp trong
những tâm sự cá nhân, riêng tư thì đến giai đoạn sau, thế kỉ XX đến nay, nỗi buồn
17
nới rộng đến những vấn đề liên quan đến vận mệnh của cả cộng đồng.
Thứ ba, về hình thức thể loại. Các tác phẩm ngâm khúc được xác định bằng
chữ Hán, nội dung pha trộn sắc thái vui lẫn buồn thì hình thức thể hiện thường khá
đa dạng, có thể song thất lục bát, lục bát, thất ngôn bát cú Đường luật. Trong khi đó,
ý kiến còn lại thống nhất thể ngâm khúc chỉ có một khuôn hình thức chung là thể
song thất lục bát, thể thơ do người Việt sáng tạo nên. Phan Ngọc cũng lấy chính thể
thơ làm tên gọi cho thể loại, thể ngâm hay còn có một tên gọi khác là thể song thất
lục bát.
Thứ tư, về giai đoạn tồn tại. Đây cũng là nút thắt chưa thể tháo gỡ khi nhiều
nhà nghiên cứu theo khuynh hướng thứ nhất cho rằng khúc ngâm có một tuổi đời
khá dài, sinh thành và phát triển từ văn học trung đại (thế kỉ XII - XIII) và không
ngừng biến đổi đến văn học hiện đại (đến những năm 60 của thế kỉ XX qua tác
Thận). Tuy nhiên, các bản dịch đều được viết bằng chữ Nôm và thể thơ song thất
lục bát, nội dung đều gửi gắm tình cảm thiết tha, sầu muộn của con người, vì thế
chúng tôi xem những bản dịch này là những khúc ngâm. Nói cách khác, khi gọi các
tác phẩm này là khúc ngâm chúng tôi đang muốn nói đến các bản dịch nôm của nó.
Về mặt nội dung, các khúc ngâm thể hiện rất rõ những cung bậc cảm xúc
buồn thương của con người về thân phận mình. Chủ thể trữ tình thường là một cá
nhân nào đó đang trực tiếp đối diện trước tấm gương của cuộc đời để cảm nghiệm
những khổ đau muộn phiền mà mình đang trải qua. Khác với nhiều tác phẩm trữ
tình khác, những cảm xúc riêng tư đó thường có sự trở đi trở lại theo suốt chiều dài
tác phẩm và là kết quả của một quá trình dài của những trở trăn và suy ngẫm. Nỗi
buồn vì thế không tự giới hạn mình trong những cảm xúc mang tính riêng tư mà đã
nâng tầm, mở rộng thành những nỗi niềm mang tính nhân sinh. Chính đặc điểm này
khiến khúc ngâm không thể bó hẹp trong khoảng đôi ba câu thơ. Yêu cầu về mặt nội
dung đã quy định dung lượng bài thơ cần đạt đến. Khác đi, nói đến thể ngâm, nhất
thiết phải nói đến một thể loại trữ tình dài hơi, ở đó tâm trạng vượt biên ra khỏi
những gì gọi là khoảnh khắc, ngắn ngủi mà vươn đến chiều kích không cùng của
cảm xúc. Những tác phẩm có quy mô ngắn (dưới 50 dòng) giới hạn sự trở đi trở lại
của cảm xúc không thể xem là một khúc ngâm đúng nghĩa, dù rằng nó cũng phản
19
ánh tâm trạng buồn thương.
Với những lí do trên, chúng ta gỡ hẳn tấm bảng tên khúc ngâm ra khỏi một số
văn bản. Trước hết là tác phẩm Văn chiêu hồn. Tác phẩm không phải là tiếng lòng
của chủ thể “tự tình” kể lại tâm sự, cảnh ngộ của chính mình hay nhập vai để bày tỏ
nỗi niềm của một đối tượng cụ thể nào; tình cảm bi thương trong tác phẩm cũng
không có sự lặp lại. Hơn thế, vai trò chủ yếu của sáng tác này là “chiêu hồn” cho
những linh hồn đau khổ, lang thang vất vưởng. Do vậy, Văn chiêu hồn phù hợp với
thể loại văn tế hơn là ngâm khúc. Tiếp đến là Bản dịch Chức cẩm hồi văn. Tuy cũng
định của từng yếu tố sẽ góp phần xác định tên gọi từng thể loại, truyện thơ hay
ngâm khúc. Và như đã đề cập ở trên, những tác phẩm như bản dịch Tỳ bà hành
(Phan Huy Thực) và Trường hận ca (Tản Đà) không thể gọi là các khúc ngâm.
Về mặt hình thức, chúng ta xét đến hai yếu tố nhan đề tác phẩm và thể thơ
được sử dụng. Phần lớn nhan đề của tác phẩm thường có những từ đi kèm như
ngâm, oán, thán, vãn… Tuy không đóng vai trò quyết định làm nên bản chất thể
loại nhưng những từ ngữ này là chỉ dẫn quan trọng để khu biệt thể ngâm với thể loại
khác trong thơ ca trữ tình nói chung, vì bản thân nó đều gợi nên ý niệm về nỗi buồn,
về sự thở than, oán thán, những tâm trạng chính yếu được nói đến trong tác phẩm.
Về thể thơ, ngâm khúc được viết bằng thể song thất lục bát. Thể thơ này có kết cấu
7-7-6-8, một cặp câu thất và một cặp lục bát. Bốn dòng thơ sẽ tạo thành một khổ và
nhiều khổ thơ ghép lại ta có một khúc ngâm. Tự thấy rằng, một khổ thơ đơn độc
khó lòng diễn đạt được cuộc sống nội tâm phong phú, sâu sắc mà cần có sự trợ sức
của nhiều khổ thơ, chức năng kể trên mới được thể hiện. Đồng thời sự lặp lại của
những khổ thơ như thế đã làm nên tính chu kì của thể loại, khiến cho cái cảm giác
buồn buồn, đều đều được kéo dài miên man, vô tận. Hình thức do đó cũng mang
tính nội dung, chứa đựng nghĩa biểu đạt cụ thể. Vì vậy, những tác phẩm phá vỡ nội
dung quen thuộc đó trong hình thức đều không được nhìn nhận như một khúc ngâm
đúng nghĩa. Tác phẩm Hoài cổ khúc của Miên Bửu, xét về mặt đại thể, được viết
theo thể thơ song thất lục bát, nhưng xem xét cụ thể hơn, có thể thấy, những dòng
thơ lục bát kéo dài từ 3 đến 5 cặp liên tiếp chen giữa hai câu thất đã khiến cấu trúc
của thể thơ bị phá vỡ. Tác dụng của tính chu kì trong thể thơ vì thế không được đảm
bảo. Bên cạnh đó, đối với những tác phẩm mà nỗi buồn cá nhân không còn là vấn
đề hạt nhân thâu tóm toàn bộ nội dung tư tưởng, cảm hứng sáng tác thì cũng không