Cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư - Pdf 37

MỤC LỤC

1


PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài.

Cảm hứng bi kịch là một trong những nguồn cảm hứng xuyên suốt
trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay, từ những tác phẩm văn học dân gian
đến văn học trung đại, sang các sáng tác 1930 – 1945... Đếngiai đoạn 1945 –
1975, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, cảm hứng bi kịch trong văn học dường
như xuất hiện mờ nhạt hơn và mang một sắc thái khác biệt hơn.Cái bi trong
giai đoạn này thường nghiêng về cái bi tráng, cái bi hùng đã nung nấu. Sau
1975, đặc biệt là năm 1986, khi đất nước hoàn toàn giải phóng bước vào thời
kì đổi mới, hệ thống giá trị trong đời sống xã hội có nhiều biến đổi nhất định
thì cảm hứng bi kịch lại có điều kiện để trỗi dậy trở thành một trong những
nguồn cảm hứng chủ đạo trong văn học giai đoạn này. Hàng loạt các tác phẩm
như: Thời xa vắng(Lê Lựu), Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn
Kháng), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương
Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ăn mày dĩ
vãng (Chu Lai)... đều thấm đẫm một nỗi buồn thường khi viết về thân phận
con người.
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của miền đất Nam Bộ, xuất hiện trên
văn đàn một cách đầy ấn tượng. Với hương vị mặn mòi của ruộng đồng Nam
Bộ,Nguyễn Ngọc Tư ngay lập tức làm ngỡ ngàng người đọc, lôi cuốn họ vào
“một vùng văn chương Nam Bộ” đặc sệt từ phương diện nội dung đến ngôn
ngữ nghệ thuật. Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư rất phong phú, đa dạng về thể
loại: Truyện ngắn, tản văn, tạp văn và tiểu thuyết. Chị đạt nhiều giải thưởng

thừa (2003); Nước chảy mây trôi (2004); Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
(2005); Cánh đồng bất tận - Những truyện ngắn hay và mới nhất (2005); Gió
lẻ và 9 câu chuyện khác (2008) với một sự thích thú đặc biệt. Đọc truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta thấy truyện ngắn của chị hàm chứa một nghịch
lý: đề tài sáng tác của chị không mới (chỉ là những câu chuyện đời thường
của những người nông dân bình dị quê mùa), thế nhưng những câu chuyện
đơn sơ mà hấp dẫn ấy vẫn lôi cuốn được người đọc bởi cái nhìn nhân hậu,
3


bởi nghĩa tình của một người viết trẻ vừa ngây thơ lại vừa chín chắn, hiền
lành đấy nhưng không kém phần bản lĩnh. Nữ nhà văn trẻ này luôn thu hút
sự quan tâm của giới chuyên môn, những bài phê bình, nghiên cứu, những
cuộc tranh luận...
Tiêu biểu nhất và sớm nhất có thể kể đến bài viết Nguyễn Ngọc Tư, đặc
sản miền Nam của Trần Hữu Dũng. Ông đã xem xét truyện ngắn của chị một
cách tường tận và thấu đáo trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
Trần Hữu Dũng đặc biệt đề cao tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của
Nguyễn Ngọc Tư. Ông đánh giá đó là một cái riêng đặc sắc không thể trộn lẫn
với bất kì nhà văn nào khác, như là một “đặc sản miền Nam” bởi từ ngữ,
giọng điệu đến việc lựa chọn chi tiết,cốt truyện đều đậm chất Nam bộ. Theo
ông: “Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư hay khóc và nhiều khi cô khuyến khích
nhân vật của mình khóc... nhưng để ý cái khóc của Nguyễn Ngọc Tư là vì yêu
thương,không vì oán giận. Không phải cái khóc nghẹn ngào,day dứt. Đây là
cái khóc nghẹn ngào như cơn mưa miền Namvà người đọc biết(hay mong
mỏi) chỉ khoảnh khắc thì mưa sẽ tạnh, nắng sẽ lên và nhân vật của Nguyễn
Ngọc Tư sẽ quẹt nước mắt xông vai trở lại cuộc sống bận rộn của mình”[13]
Bằng tất cả sự yêu mến chân thành, Trần Hữu Dũng cũng không quên cảnh
báo những nguy cơ có thể khiến tác giả trẻ này đi vào lối mòn trong sáng tác
bên cạnh sự nhìn nhận và tán thưởng tài năng của chị.

bài viết của Trần Phỏng Diều với tựa đề Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư. Với cách hiểu: “đi tìm thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư thực chất là đi tìm những hình tượng văn học trong sáng tác
của tác giả. Các hình tượng văn học này cứ trở đi trở lại và trở thành một ám
ảnh khôn nguôi, buộc người viết phải thể hiện ra tác phẩm của mình” [18].
Trần Phỏng Diều đã chỉ ra thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư thể hiện qua ba hình tượng: hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người
nông dân và hình tượng dòng sông. Sau khi phân tích vẻ đẹp của từng hình
tượng, anh cũng đánh giá rất cao văn phong mộc mạc, cách viết như nói của
Nguyễn Ngọc Tư. Theo anh, nếu chị đánh mất đi vùng thẩm mỹ này thì đồng
thời cũng làm mất đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm của mình.
5


Chúng tôi cũng thu thập được hai bài viết tìm hiểu một số khía cạnh về
không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn
Ngọc Tư. Đó là bài viết Không gian sông nước trong truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư của Thụy Khuê [36] và bài viếtThời gian huyền thoại trong
truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư” của Mai Hồng cùng
được đăng trên trang web “Viet-studies” [31]. Nhìn chung Thụy Khuê thống
nhất ý kiến cho rằng Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một không gian
Nam Bộ với ruộng đồng sông nước đặc sắc trong tác phẩm của mình, góp
phần to lớn vào việc phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả. Việc chỉ ra kiểu
thời gian huyền thoại trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận cũng là một góc
nhìn mới lạ của Mai Hồng trong việc tìm hiểu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư ở nước ta hiện nay.
Một phương diện nữa vềtruyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, cũng đã
được Nguyễn Trọng Bình đề cập đến trong bài viết Đặc trưng ngôn ngữ trong
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư [10]. Tác giả cho rằng: Qua cách sử dụng
ngôn ngữ trong truyện ngắn khi viết về phẩm chất văn hoá, con người đồng

bài viết có giá trị khi chỉ ra môtíp người nghệ sĩ cô đơn thường thấy trong
truyện ngắn của chị. Tác giảkết luận: “Cũng đề cập đến nỗi cô đơn của con
người nhưng chúng tôi nhận thấy quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư rất khác.
Cô đơn luôn là nỗi đau, là bi kịch tinh thần lớn nhất của con người. Nhưng
đọc Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm nhận rất rõ niềm cô đơn mà không thấy
sự bi quan tuyệt vọng. Nhân vật của chị tự ý thức về sự cô đơn. Họ chấp nhận
bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống. Và, từ trong nỗi đau ấy, họ
vươn lên, làm người. Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động
lực của cái “Đẹp”, cái “Thiện.”[39]
Trên báo Tiền phong số ra ngày 31 - 1 – 2006, tác giả Trần Hoàng
Thiên Kimvới bài Nguyễn Ngọc Tư, nhón chân hái trái ở cành quá cao!lại
viết : “Văn phong dung dị, ngôn ngữ truyện cứ như được bê vào từ đời
thường nhưng chính nỗi đau của những kiếp người, những số phận nhỏ bé ở

7


một vùng quê nghèo và triết lí nhân quả của cuộc đời lại làm nên sức ám ảnh
của truyện ….”[35].
Trong bài viết Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc
Tư, Nguyễn Trọng Bính đã chỉ ra hai giọng điệu chủ đạo trong sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tư là giọng buồn nhưng không chán chường và giọng điềm
nhiên trầm tỉnh. Qua cách nhận diện này, tác giả đã khái quát những giá trị
của giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: “Tất cả vấn đề
trên đều góp phần cụ thể hoá vấn đề “cái nhìn khắc khoải” về thân phận con
người cũng như quan niệm “con người hướng thiện” trong truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư”[11].
Thảo Vy với bài viết: Nỗi đau trong Cánh đồng bất tận đã cho ta thấy:
Cánh đồng bất tận được bao trùm bởi nỗi hận: nỗi hận bị vợ bỏ. Với nỗi hận
ghê gớm ấy người cha đã thực hiện việc trả thù...toàn giới phụ nữ. Trút giận

học Nam Bộ nói riêng và trên văn đàn văn học Việt Nam nói chung.
3. Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu khái quát về cảm hứng bi kịch trong văn học và những biểu
hiện của cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Qua đó,
chúng tôigóp phần làm rõ nét phong cách độc đáo của chị cũng như muốn xác
định đóng góp của nhà văn với văn học Nam Bộ nói riêng và nền văn học
Việt Nam nói chung.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát chúng tôi chủ yếu tập trung vào một số tập truyện
ngắn tiêu biểu như sau:
1.Ngọn đèn không tắt (Tập truyện - NXB Trẻ- 2000)
2. Biển người mênh mông (Tập truyện - NXB Kim Đồng- 2003)
3. Giao thừa (Tập truyện - NXB Trẻ- 2003)
4. Cánh đồng bất tận – Những truyện ngắn hay và mới nhất (Tập
truyện – NXB Trẻ- 2005)
5. Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn- NXB Trẻ - 2008)
6. Khói trời lộng lẫy (Ttập truyện ngắn – NXB Thời đại – 2010)
9


4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp được sử dụng như những thao tác thường
xuyên trong nghiên cứu văn học như so sánh,phân loại, phân tích, tổng hợp...
luận văn còn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp phân tích thẩm mĩ: Để làm rõ cảm hứng bi kịch trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không thể không phân tích những phẩm chất
thẩm mĩ của nó. Nhiệm vụ này đòi hỏi phân biệt giá trị thẩm mĩ và giá trị
nghệ thuật. Giá trị thẩm mĩ là những phẩm chất tạo nên khoái cảm thẩm mĩ,
khoái cảm tinh thần, như cái đẹp, cái cao cả, cái hài, cái bi...Giá trị nghệ thuật

Chương 2: Cảm quan về đời sống mang màu sắc bi kịch trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Chương 3: Một số phương thức nghệ thuật biểu hiện cảm hứng bi kịch
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

11


[22]. Phạm trù thẩm mĩ chính là những khái niệm thẩm mĩ chung nhất
phản ánh những tri thức khái quát của con người về những hiện tượng thẩm
mĩ được bộc lộ trong quan hệ thẩm mĩ giữa con người đối với tự nhiên và xã
hội. Cũng như mọi khoa học, mỹ học chỉ có thể tồn tại trên cơ sở một hệ
thống những phạm trù thẩm mĩ. Lịch sử mỹ học cũng chính là lịch sử loài
người đi xây dựng cho khoa mỹ học của mình một hệ thống các khái niệm,
phạm trù càng ngày càng phong phú, chặt chẽ, sâu sắc và khái quát. Ðó cũng
là sự biểu hiện của việc mỹ học càng ngày càng tiếp cận được với đối tượng
của mình.
Ðối với những người nghiên cứu và học tập mỹ học, hệ thống các khái
niệm, phạm trù của khoa học này vừa là công cụ để đào xới mảnh đất mỹ học,
vừa là phương tiện để tư duy, mà cũng lại vừa là mục đích ta cần vươn tới. Vì
rằng, nắm được các khái niệm thì cũng thực chất là nắm được mỹ học. Trong
số các phạm trù mỹ học, phạm trù rộng nhất là thẩm mĩ, trong nó bao gồm các
phạm trù phổ biến: cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài.
Là một trong những phạm trù cơ bản của khách thể thẩm mĩ, cái bi là
một hiện tượng thẩm mĩ đặc biệt. Cái bi là phạm trù mỹ học cơ bản chỉ sự thất
bại hay cái chết của cái đẹp trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với lực
lượng đối lập; là thắng lợi của lực lượng phản động, lạc hậu trước các lực
lượng cách mạng, tiến bộ; là những hy sinh, tổn thất mà phía cách mạng phải
gánh chịu trong cuộc đấu tranh với giai cấp lạc hậu.
Cái bi được đề cập đến một cách sâu sắc và có hệ thống lần đầu tiên

phạm trù mĩ học cơ bản dùng để chỉ tính chất của cuộc đấu tranh không khoan
nhượng giữa cái mới và cái cũ, thường kết thúc bằng sự thất bại của nhân vật
tiên tiến nhưng vẫn biểu dương sức mạnh chiến thắng của cái mới trong tương
lai (...). Chỉ thuộc vào cái bi những sự hi sinh tổn thất có ý nghĩa xã hội, mang
tính quy luật trong sự phát triển của lịch sử... Cái bi được thể hiện đậm nét
trong thể loại văn học bi kịch, nhưng cũng có thể có ở trong nhiều loại hình
và loại thể văn học nghệ thuật khác. Nhưng dù ở đâu, việc thể hiện cái bi
không chỉ là việc trình bày sự thất bại của các anh hùng mà trước hết là sự
13


phân tích các nguyên nhân dẫn tới những hành động của họ, là sự miêu tả
hoàn cảnh hình thành bi kịch cùng sự phát triển ngày càng căng thẳng của
cuộc đấu tranh này”[22;101]
Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học nhận định: “Cái bi là
phạm trù mĩ học xác định giá trị thẩm mĩ của những xung đột không thể
giải quyết, được triển khai trong tiến trình hành động tự do của nhân vật,
kèm theo xung đột này là những đau khổ và sự tiêu vong của nhân vật hoặc
sự mất mát các giá trị đời sống của nó. Tính thảm họa của cái bi chủ yếu
được quy định bởi bản chất nội tại của cái bị diệt vong, bởi sự không phù
hợp của nó với trật tự hiện hữu”[3; 23]. Vì vậy, bi kịch được hiểu như là cái
nhìn mang nỗi thương đau, mang niềm xót xa, mang nỗi quan hoài thống thiết
về hiện thực, về con người... Cái buồn đau ấy được cất lên từ chính những
ngang trái, những oái oăm phạm vào cõi thiêng liêng của cái đẹp, cái
thiện.Nói đến cảm hứng bi kịch là nói đến nỗi buồn đau chứ không phải niềm
vui. Với bản chất là xung đột, cái bi được biểu hiện trong phạm trù nội dung
của tác phẩm văn học là chủ yếu. Thì cảm hứng bi kịch có một bình diện biểu
hiện rộng hơn – cả về mặt nội dung và nghệ thuật trong mối quan hệ tương
giao phức hợp của nó. Vì vậy, trong văn học nghệ thuật, cảm hứng bi kịch có
sự vận động và thay đổi về nội dung biểu hiện và hình thức của nó.

sự tự hào lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp. Có thể nói đến nhiều cái bi khác nhau
trong đời sống.
1.1.2. Bản chất thẩm mĩ của bi kịch
Trong lịch sử nghiên cứu về cái bi kịch, có lẽ Arixtot là người đầu tiên
đề cập đến một cách sâu sắc và hệ thống trong tác phẩm Nghệ thuật thơ ca.
Sau Arixtot, cái bi được nhiều nhà lí luận, nhà mỹ học khác dụng tâm tìm
hiểu, nghiên cứu như Hêghen, Mác, Ăngghen, Lenin, Tsecnưepki.... Dù họ
tiếp cận cái bi và kiến giải nó từ nhiều góc độ khác nhau nhưng họ đều đồng ý
với nhau ở một điểm, đó là bản chất của cái bi là sự xung đột: xung đột giữa
15


cái đẹp – cái xấu, cái chính nghĩa – cái gian tà, ánh sáng – bóng tối, hiểu theo
khía cạnh khác là biểu hiện của cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái tiến
bộ với cái lạc hậu, cái thiện với cái ác. Nhưng không phải tất cả mọi xung đột
đều trở thanh cái bi. “Cái bi càng không phải là xung đột phổ biến đối với
toàn bộ lịch sử nhân loại, như Căng quan niệm”[44;159]. Cái bi nào cũng gắn
liền với nỗi bất hạnh, với cái chết cho nên Tsecnưepki, nhà mỹ học dân chủ
cách mạng Nga đã coi cái bi là sự buồn thương do chết chóc mang lại. Đối
với Tsecnưepki, cái chết là chân lý vĩnh cửu của cái bi. Cái bi gắn liền với nỗi
bất hạnh, với cái chết nhưng phải mang ý nghĩa thẩm mĩ.
Thứ nhất, cái bi thường gắn với sự thương xót, sự ảm đạm, sự thống
khổ, sự bất hạnh, các hình thức éo le trong cuộc sống. Vì thế nhiều người
đồng nhất cái bi với sự bi quan. Thực ra sự bi quan là một tình cảm chán nản,
tuyệt vọng, thiếu niềm tin về một cái gì đó trong cuộc sống. Chủ nghĩa bi
quan hoài nghi những giá trị chân chính của cuộc sống, nhưng cái bi lại phản
ánh sự ẩn dấu trong cái bản chất nỗi buồn thương, mất mát và bất hạnh với
một tinh thần khoa học và nhân văn.
Thứ hai, cái bi gắn với sự xung đột, cái khủng khiếp, sự thống khổ.
Người ta thương cảm với số phận bi đát, căm giận nguyên nhân tạo ra cái bi

1.1.3.1 Cảm hứng bi kịch trong văn học dân gianvà văn học trung đại
Trong văn học dân gian Việt Nam, cảm hứng bi kịch cũng được thể
hiện khá rõ nét. Đọc ca dao, bên cạnh những giai điệu tươi vui, ta còn nghe
không ít những khúc nhạc buồn thương ai oán. Đó là nỗi lòng của những kiếp
người bất hạnh, những cảnh đời trắc trở, éo le. Bao nhiêu tâm sự, sầu đau,
buồn phiền không thể tỏ bày cùng ai, những người phụ nữ đã gửi trọn vào
những câu hát than thân. Trong ca dao, ta bắt gặp vô vàn những nỗi đau của
người phụ nữ như: bi kịch thân phận, bi kịch lỡ duyên và bi kịch hôn
nhân...Đấy là lời than về thân phận:“Thân em như cột đình chung/ Tay dơ
cũng quẹt, tay phung cũng chùi”. Hay đó là, bi kịch lỡ duyên, là nỗi đau bị
17


phụ tình: “Từ ngày tôi ở với anh/Cha mẹ đánh mắng anh tình phụ tôi /Có thịt
anh tình phụ xôi/Có cam phụ quýt, có người phụ ta/Có quán tình phụ cây
đa/Ba năm quán đổ cây đa vẫn còn”. Đó còn là nỗi đau tình duyên bi ngăn
cấm: “Lửa nhen mới bén duyên trầm/Trách sao cha mẹ nỡ cầm duyên
con.”.Nhất là bi kịch hôn nhân, nỗi đau phải chịu kiếp chồng chung: “Thân
em làm lẽ vô duyên/ Mỗi ngày một trận đòn ghen tơi bời/Ai ơi ở vậy cho
rồi/Còn hơn làm lẽ, chồng người khổ ta.”...
Không chỉ được thể hiện trong ca dao mà cảm hứng bi kịch còn được
thể hiên trong truyện dân gian. Bi kịch được thể hiện đậm nét nhất trong
truyền thuyết Mị Châu-Trọng Thủy. Đó là bi kịch nước mất nhà tan do sự chủ
quan của An Dương Vương, bi kịch tình yêu dẫn đến cái chết bi thương của
Mị Châu.Truyện Trầu cau nói lên tính bi kịch gia đình do hai an hem cùng
yêu một cô gái và vì do lòng ghen của người anh mà kết cục của ba người là
cả hai anh em và cô gái đều chết. Nhưng nhân dân với tinh thần nhân đạo,
mong ước một kết thúc có hậu hơn nên đã sử dụng yếu tố thần kì để tái sinh
cuộc sống của họ thành trầu cau và vôi. Rồi đến tác phẩm Trương Chi, Mỵ
Nương. Đó vừa là bi kịch tình yêu đồng thời còn là bi kịch tự ý thức của

nhưng vẫn không đủ tiền nộp sưu thuế (Tắt đèn - Ngô Tất Tố). Là bi kịch của
Chí Phèo - một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con
người bị cự tuyệt quyền làm người. Đó còn là bi kịch của của người nông dân
bị thế lực cường quyền áp bức, lừa gạt, không có lối thoát của anh Pha (Bước
đường cùng - Nguyễn Công Hoan). Là bi kịch của Mịch - người phụ nữ nhà
quê bị địa chủ độc ác làm hại (Giông tố - Vũ Trọng Phụng). Đó còn là bi kịch
của Thuật, Nhỡ, Thông, Lộc (Lầm Than - Lan Khai), họ phải “vào cái chết để
giành lấy sự sống”.Bi kịch không chỉ đến với những người nông dân nghèo đói
lương thiện ấy mà trong xã hội kim tiền ấy, số phận những người người tri thức
cũng rơi vào bi kịch. Đó là bi kịch của Hộ (Đời Thừa - Nam Cao), bi kịch của
con người có ước mơ hoài bão nhưng đã bị cuộc sống cơm,áo, gạo, tiền ghì sát
đất. Đọc Sống mòn của Nam Cao, ta bắt gặp bi kịch của những người trí thức
19


sống lay lắt trong cuộc sống “đang mòn đi, đang mốc lên, đang ghỉ ra”. Đến
Mực mài nước mắt của Lan Khai, chúng ta thấy được cái bi của môt đời văn
nghèo khó, một cuộc sống bơ vơ, chua cay của nhà văn.
1.1.3.3. Bi tráng – sắc thái mới của cảm hứng bi kịch trong văn học
1945 – 1975
Văn học 1945- 1975 phát triển trong hoàn cảnh lịch sử hết sức đặc biệt,
đất nước phải trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp từ và chống Mĩ. Nhìn
chung,văn học giai đoạn này tập trung nhiều vào đề tài chiến tranh chống xâm
luợc. Văn học phản ánh kháng chiến và phục vụ kháng chiến nên thường phải
khai thác những nguồn tình cảm lớn: Yêu nước, căm thù giặc, tình đồng chí
và tình quân dân. Nguồn tình cảm đó là nguồn sức mạnh của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, là đối tượng thẩm mĩ của truyện,kí thời kì này. Nhà văn
Nguyễn Minh Châu đã khẳng định: Trong giai đoạn ấy “văn học cũng phải trở
thành chiến sĩ, văn học cũng phải đóng góp vào trận đấu sinh tử để giành giữ
nền độc lập của Tổ quốc bằng tiếng kèn xung trận của mình”. Và đất nước là

phối nghiêm ngặt của tinh thần sử thi. Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn
Nhất. Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng.Và Anh chết
trong khi đang đứng bắn. Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng (Dáng đứng
Việt Nam - Lê Anh Xuân). Đó còn là hình ảnh Mùi (Dòng sông phẳng lặng)
ngẩng cao đầu hứng loạt đạn điên cuồng của Rôbớt Lin, là tư thế đường
hoàng bình thản và rất đỗi kiên cường của anh Trỗi (Sống như Anh)… khi đối
mặt với cái chết trên pháp trường đã làm nên những hình tượng bi tráng trong
văn học ba mươi năm chiến tranh. Đó còn là hình ảnh đôi tay đẹp đẽ của chị
Sứ (Hòn đất) bị trói ngoặt lên cao, là khi đồng đội nhận được tin chị hi sinh
và họ cảm thấy “tim mình như bị những móng sắc vô hình quào cấu”.
Tóm lại, nền văn học giai đoạn 1945 – 1975 là một nền văn học chủ
yếu mang cảm hứng sử thi. Giữa lúc chiến tranh ác liệt, những vấn đề riêng tư
của mỗi cá nhân tạm thời được gác lại để văn học tập trung phản ánh những
vấn đề mang tính dân tộc, cộng đồng lớn lao. Âm hưởng sử thi hào hùng lại

21


trở về với văn học. Cái bi được nhắc đến trong tác phẩm mang âm hưởng sử
thi nên gắn kết với cái tráng để trở thành cái bi tráng.
1.1.3.4. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của cảm hứng bi kịch trong văn hoc
giai đoạn sau 1975.
Sau 1975,đất nước hoàn toàn độc lập mở ra một chặng đường mới
trong lịch sử dân tộc. Văn học cũng bước sang một chặng phát triển mới và
cảm hứng bi kịch cũng trở thành một trong những nguồn cảm hứng quan
trọng của văn học giai đoạn này.
Xã hội Việt Nam sau 1975 có nhiều biến đổi. Sự thay đổi các mặt đời
sống xã hội tất yếu dẫn đến sự thay đổi hệ thống gia trị của đời sống. Trên
thực tế bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam từ sau 1975 cho đến những năm
đầu thế kỉ XXI, sự đổi thay là hệ quả của sự vận động tất yếu trên nhiều

nhập toàn diện không chỉ đối với các nước Đông Âu mà còn đối với các nước
Tây Âu hiện đại. Từ đó hình thành nên giá trị đời sống mới,con người có cơ
hội mở mang tầm hiểu biết trên mọi lĩnh vực, làm mới những trào lưu tư
tưởng, ý thức cá nhân xã hội dần dần được nâng cao hơn... ngày càng thoát
khỏi ý thức giáo điều, lạc hậu để bồi đắp tiềm thức văn hoá, giá trị bản sắc
văn hoá dân tộc hoà nhập chứ không hoà tan.
Tóm lại, bối cảnh lịch sử - xã hội mới từ sau 1975, nhất là từ những năm
của thập niên những năm 80 của thế kỉ XXI đã tất yếu tạo ra sự thay đổi hệ
thống giá trị đời sống. Một hệ giá trị toàn diện, đa dạng đáp ứng nhu cầu nhiều
mặt của đời sống con người, phù hợp với sự phát triển hiện đại của xã hội Việt
Nam và tiếp tục được sinh thành. Đây là tiền đề thiết yếu tạo sự thay đổi hệ
thống giá trị đời sống xã hội, từ sự thay đổi hệ thống giá trị đời sống xã hội dẫn
đến sư thay đổi và trỗi dậy mạnh mẽ của hệ thống giá trị mới của văn học.
Với phương châm: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhìn rõ sự
thật” của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đưa ra , văn học có bước chuyển
mình với nhiều đổi mới trong quan niệm về hiện thực, về con người, về cảm
hứng sáng tạo... Nguyễn Văn Long trong bài Về cách tiếp cận để đánh giá
văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám khái quát: “Từ sau tháng 4 –
23


1975, nhất là từ giữa thập kỉ 80 trở lại đây, những biến đổi to lớn của đời sống
xã hội đã đưa đến sự thay đổi các thang chuẩn quan trọng khi nhìn nhận các
giá trị của cuộc sống và của cả văn học nghệ thuật.”, “Con người được mô tả
trong tất cả tính đa dạng, đa chiều của nó đã tạo thành nét chính trong sự định
hướng về giá trị văn học của công chúng hôm nay. Nói khác đi, tinh thần dân
chủ và cảm hứng nhân bản là những đặc điểm nổi bật của văn học thời kì đổi
mới”[39; 22]. Và không khí đổi mới dân chủ như một làn sóng bắt đầu tác
động mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực. Trong điều kiện mới đó, Nguyễn Minh
Châu kêu gọi: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”[5].

mẽ của cảm hứng bi kịch trong văn học sau 1975 có nhiều nguyên nhân.
Trước tiên là do sự đổi mới của văn học gắn với vấn đề dân chủ hoá trên tinh
thần nhìn thẳng vào sự thật. Thứ hai, chiến tranh đã lùi vào quá khứ, con
người phải đối mặt với những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống thường nhật đầy
rẫy những mâu thuẫn, những cảnh trớ trêu mà con người vấp phải khiến họ bị
hụt hẫng, bị sốc, bị khủng hoảng niềm tin nên rất dễ rơi vào bi kịch. Cũng
chính hiện thực đó đã khơi nguồn cảm hứng bi kịch ở các nhà văn và họ khai
thác triệt để những điều đó. Và cảm xúc của người nghệ sĩ luôn tinh tế, nhạy
cảm với nỗi đau, sự bất hạnh của con người mà từ đó dấy lên trong minh một
niềm xót xa, cay đắng, một tình yêu thương đồng loại nên muốn giải bày, chia
sẻ mà viết nên những trang văn thấm đượm cảm thương trước những bi kịch
của cuộc đời.
Quá trình vận động và phát triển cảm hứng bi kịch trong văn học phản
ánh đúng quy luật phát triển của lịch sử - xã hội nói chung và văn học nói
riêng. Ở mỗi thời điểm, cảm hứng bi kịch thể hiện ở múc độ khác nhau tuỳ
thuộc vào hoàn cảnh đất nước, thời đại.Có thời kỳ cảm hứng bi kịch được
khơi nguồn mạnh mẽ, có thời kỳ cảm hứng bi kịch lắng xuống. Nhưng dù
lắng xuống hay mạnh mẽ thì cảm hứng bi kịch vẫn luôn là “mạch nguồn”
xuyên suốt trong văn học viết Việt Nam từ xưa đến nay.
1.2. Khái quát về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong hành trình
truyện ngắn Việt Nam đương đại.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status