LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học tôi đã
nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người. Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn
đến toàn thể các thầy cô khoa Ngữ văn đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt bốn
năm đại học đặc biệt là cô Hoàng Thị Duyên đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi rất
nhiều trong bài khoá luận.
Tiếp theo tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè đã luôn bên tôi, giúp đỡ và
ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và phấn đấu.
Lời cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình tôi,
nơi nuôi lớn ước mơ và hoài bão trong tôi.
Bài khoá luận của tôi còn nhiều thiếu sót vì vậy tôi rất mong nhận được
ý kiến đóng góp của tất cả mọi người.
Sinh viên
Trương Thị Anh
1
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Hội đồng bảo vệ khoá luận tốt nghiệp đại học năm học 2012-2013
Khoa
: Ngữ văn - Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tên tôi là: Trương Thị Anh
Sinh viên lớp: K35B - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan toàn bộ bài khoá luận: Nhân vật bi kịch trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975
1.1.2 Chức năng của nhân vật văn học....................................................... 12
1.1.3 Phân loại nhân vật văn học ............................................................... 13
1.1.3.1. Xét từ góc độ đặc điểm của nhân vật....................................... 14
1.1.3.2. Xét từ góc độ kết cấu .............................................................. 14
1.1.3.3. Xét từ góc độ thể hiện ............................................................. 15
1.1.3.4 Xét từ góc độ chất lượng miêu tả ............................................. 16
1.1.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật văn học ............................................. 16
1.1.4.1 Miêu tả nhân vật qua ngoại hình ............................................. 17
1.1.4.2 Miêu tả nhân vật qua độc thoại nội tâm................................... 17
1.1.4.3 Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ ............................................... 18
3
1.1.4.4 Miêu tả nhân vật qua hành động .............................................. 19
1.2 Khái quát về nhân vật bi kịch trong văn học ............................................ 20
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người và các dạng thức nhân
vật bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 ............ 23
2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu sau năm
1975 ....................................................................................................... 23
2.2 Các dạng nhân vật bi kịch trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau
năm 1975 ................................................................................................ 28
2.2.1 Nhân vật gắn với bi kịch tinh thần (nội tâm, lý tưởng) .................... 29
2.2.2 Nhân vật gắn với bi kịch vật chất (cơm, áo, gạo, tiền) .................... 38
2.2.3 Nhân vật gắn với bi kịch tình yêu ..................................................... 47
2.2.4 Nhân vật gắn với bi kịch hôn nhân................................................... 53
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện nhân vật bi kịch trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 ............................................................ 58
3.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật .................................................. 58
3.2 Nghệ thuật thể hiện tâm lý và độc thoại nôi tâm nhân vật ........................ 61
là: “Nhân vật bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm
1975”, với mong muốn mang đến một điểm nhìn mới cũng là một yếu tố
góp phần làm tên tuổi tác giả với một số truyện tiêu biểu của cố nhà văn
được ông sáng tác sau năm 1975.
5
2. Lịch sử vấn đề
Là một trong số các nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại
nửa sau thế kỷ XX. Cho đến nay đã có rất nhiều bài viết nhiều công trình
nghiên cứu lớn nhỏ đề cập về cuộc đời và sự nghệp của nhà văn Nguyễn
Minh Châu. Theo thư mục tài liệu nghiên cứu của T.S Nguyễn Trọng Hoàn và
Nguyễn Đức Khuông biên soạn năm 2002, luợng bài viết về ông đã lên đến
con số 150.
Trong sáng tác của ông, những truyện ngắn viết sau năm 1975 là mảng
sáng tác thu hút đuợc sự chú ý đặc biệt và gây nhiều tranh luận trong giới
nghiên cứu phê bình và bạn đọc đặc biệt là vấn đề nhân vật trong truyện ngắn
của ông trong giai đoạn sau năm 1975.
Trong nghiên cứu nhân vật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Ngô Thảo
và Nguyễn Thị Minh Thái đã gặp gỡ nhau ở quan điểm cho rằng: nhân vật
gây chú ý lớn trong truyện ngắn của ông là nhân vật nữ. Những người phụ nữ
đi qua chiến tranh. Tác giả đánh giá: “Nguyễn Minh Châu đã bộc lộ được thế
mạnh của một cây bút có khả năng phân tích và thể hiện được những biến
động tâm lý khá phức tạp của một người không đơn giản”.
Trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu những nhân vật tiểu thuyết
đích thực, (trong Khách ở quê ra, Phiên chợ giát) được tác giả đặc tả một
cách mâu thuẫn tuần hoàn. Vừa là quá khứ của lịch sử tối tăm vừa toả ánh
sáng của nhân tính vĩnh hằng của những giá trị đạo đức muôn đời.
Trong một công trình nghiên cứu khá tiêu biểu về Nguyễn Minh Châu,
Triển khai đề tài “Nhân vật bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau năm 1975” nhằm mục đích: Tìm hiểu một cách hệ thống về thế giới
nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 đặc biệt là nhân
vật bi kịch nhằm thấy được những sự đổi mới trong quan niệm về con người
của tác giả giai đoạn đổi mới. Từ đó thấy được sự phong phú trong thế giới
7
nhân vật, hiểu được các nhân vật bi kịch cũng như tư tưởng tác giả gửi gắm
trong đó.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu đề tài nhân vật bi kịch trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 nhằm chỉ ra sự phong phú trong thế
giới nhân vật đặc biệt là sự sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Từ kết quả nghiên cứu trên, khoá luận sẽ có cơ sở chắc chắn khẳng
định truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 giữ được vị trí xứng
đángvà đặc sắc trong thời kỳ đất nước đổi mới.
4. Đối tượng và phạm vi khảo sát
4.1 Đối tượng khảo sát
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung khảo sát loại nhân
vật bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trên các bình diện: Các
dạng thức nhân vật bi kịch, nghệ thuật xây dựng nhân vật bi kịch trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 để làm nổi bật lên tài năng bậc thầy
trong lĩnh vực viết truyện ngắn của tác giả.
4.2 Phạm vi khảo sát
Khảo sát những truyện ngắn tiêu biểu của ông trong sự nghiệp sáng tác
sau năm 1975 (Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn. Nxb Văn học Hà
Nội. 2009) vì đây là những sáng tác có giá trị nghệ thuật cao, thể hiện rõ sự
trăn trở tìm tòi đổi mới, sự dũng cảm điềm đạm của một cây bút tài hoa và
NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ NHÂN VẬT
BI KỊCH TRONG VĂN HỌC
1.1 Những vấn đề chung về nhân vật trong tác phẩm văn học
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học
1.1.1.1 Về phương diện thuật ngữ
Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm (tiếng Hy lạp: persona,
tiếng Anh: personage, tiếng Nga: personan). Hơn 2000 năm trước đây, trong
tiếng Hy Lạp cổ, “persona” vốn mang ý nghĩa là “cái mặt nạ” - một dụng cụ
biểu diễn của diễn viên. Nhưng sau đó nó trở thành thuật ngữ để chỉ nhân vật
văn học.
Đôi khi nhân vật văn học còn được người ta gọi bằng các thuật ngữ
khác như: “vai” (actor) và “tính cách” (character). Tuy nhiên, các thuật ngữ
này lại có nội hàm hẹp hơn so với “nhân vật” (persona).
Thuật ngữ “vai” chủ yếu nhấn mạnh đến tính chất, hành động của cá
nhân, thích hợp với loại “nhân vật hành động”. Còn thuật ngữ “tính cách” lại
thiên về chỉ những “nhân vật tính cách”. Trong thực tế sáng tác không phải
nhân vật nào cũng hành động, đặc biệt là những nhân vật thiên về suy tư, và
không phải nhân vật nào cũng có tính cách rõ rệt. Từ đó có thể thấy thuật ngữ
“vai”, “tính cách” không bao quát được những biểu hiện khác nhau của các
loại nhân vật trong sáng tác văn học.
“Nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm phong phú, đủ khả năng khái quát
những hiện tượng phổ biến của tác phẩm văn học ở mọi bình diện và mọi cấp
độ. Như vậy thuật ngữ “nhân vật” là đúng đắn và đầy đủ nhất.
10
Các tác giả của cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” quan niệm về nhân
vật có phần thu hẹp hơn: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả
trong tác phẩm văn học…, chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm”
[tr. 235].
Trong giáo trình “Lí luận văn học dành cho các trường Cao đẳng sư
phạm” (tập 2) những người biên soạn sách có xu hướng nghiên cứu nhân vật
trong tư cách là đối tượng để nhà văn khái quát, phân tích đời sống và tái hiện
bằng các phương tiện đặc trưng của văn chương: “Nhân vật văn học là khái
niệm chỉ hiện tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã
được nhà văn nhận thức và tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của
nghệ thuật ngôn từ” [tr.73].
Như vậy, giới nghiên cứu trong nước đã đưa ra những quan niệm cụ
thể (thậm chí có một số điểm khác nhau) về nhân vật văn học trên cơ sở tìm
hiểu những nét nổi bật về nhân vật. Song xét một cách chung nhất, các ý kiến
đều gặp nhau trong sự khẳng định: nhân vật văn học là là thành tố quan trọng
trong tác phẩm, là phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống và được nhà văn
xây dựng bằng những yếu tố nghệ thuật độc đáo. Nghiên cứu về tác phẩm văn
chương cần phải tiếp cận nhân vật để ghi ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và
đưa ra kết luận về những đóng góp riêng của nhà văn đó.
Những quan niệm về nhân vật văn học như trên là những chỉ dẫn cho
chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về nhân vật văn học nói chung và nhân vật
trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu nói riêng.
1.1.2 Chức năng của nhân vật văn học
Ngay trong định nghĩa của “Từ điển văn học” chúng ta đã nhận thấy
một nét cơ bản của nhân vật văn học. Nó không chỉ là tiêu điểm để bộc lộ
“chủ đề” mà còn là nơi “tập trung giá trị tưởng, nghệ thuật của tác phẩm”.
12
nhân vật khác nhau. Ðể nắm bắt được thế giới nhân vật đa dạng, phong phú,
có thể tiến hành phân loại chúng ở nhiều góc độ khác nhau.
1.1.3.1 Xét từ góc độ đặc điểm của nhân vật
Có thể nói đến các loại nhân vật chính diện, nhân vật phản diện. Nhân
vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội,
cho cái thiện, cái tiến bộ. Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những
phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một
dân tộc, một thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống..., có
thể được coi là nhân vật lí tưởng. Ở đây, cũng cần phân biệt nhân vật lí tưởng
với nhân vật lí tưởng hóa. Loại nhân vật sau là loại nhân vật được tô hồng,
hoàn toàn theo chủ quan của nhà văn. Nhân vật phản diện là nhân vật đại diện
cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản động, cần bị lên
án. Trong quá trình phát triển của văn học, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác
nhau, việc xây dựng các loại nhân vật trên cũng khác nhau chính vì vậy, ở đây
sự phân biệt chính diện, phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi đặt nhân vật
vào loại nào để nghiên cứu, cần phải xét khuynh hướng chủ đạo của nó đồng
thời phải chú ý đến các khuynh hướng, phẩm chất thẩm mĩ khác nữa.
1.1.3.2 Xét từ góc độ kết cấu
Xem xét chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia
thành các loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ.
Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển
khai tác phẩm. Ở đây, nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ
ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật. Qua nhân vật
chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản
trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tình
điệu thẩm mĩ.
14
chỉ, nói năng. Nhân vật kịch không được miêu tả một cách cụ thể vì trong văn
bản kịch, sự miêu tả giới hạn trong những lời chỉ dẫn, chú thích của nhà văn.
Trong ba loại hình nhân vật trên thì nhân vật tự sự được thể hiện toàn
diện hơn so với các loại hình nhân vật khác từ hình dáng, cử chỉ, hành động,
số phận, nghề nghiệp…, và được khắc hoạ trên nhiều khía cạnh và triển khai
theo chiều rộng của không gian và chiều dài của không gian.
1.1.3.4 Xét từ góc độ chất lượng miêu tả
Nhân vật là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm.
Ở đây, nhà văn có thể chỉ mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ,
hành động..., cũng có thể miêu tả kĩ và đậm nét. Tính cách là nhân vật được
khắc họa với một chiều sâu bên trong. Nó như một điểm qui tụ mà từ đó có
thể giải thích được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ sinh động bên ngoài
của nhân vật. Ðiển hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống
nhất giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể. Nói một cách
nghiêm ngặt, thuật ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán
trở về sau. Ngoài những loại nhân vật được trình bày, có thể nêu lên một số
khái niệm khác về nhân vật qua các trào lưu văn học khác nhau. Chẳng hạn,
khái niệm nhân vật bé nhỏ trong văn học hiện thực phê phán, khái niệm nhân
vật - con vật người trong chủ nghĩa tự nhiên, nhân vật - phi nhân vật trong các
trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây…
1.1.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật văn học
Ðể xây dựng thành công một nhân vật văn học, nhà văn phải có khả
năng đồng cảm, phát hiện những đặc điểm bền vững ở nhân vật. Ðiều này đòi
hỏi nhà văn phải hiểu đời và hiểu người. Nhưng có một điều không kém phần
quan trọng là nhà văn phải miêu tả, khắc họa nhân vật ấy sao cho có sức
thuyết phục mạnh mẽ đối với người đọc. Ðây là vấn đề liên quan trực tiếp đến
16
Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, việc thể hiện nhân vật
qua nội tâm ngày càng có vai trò quan trọng. Trong văn học Việt Nam so với
các giai đoạn trước, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đạt được những thành
tựu rực rỡ. Tác phẩm chứng tỏ Nguyễn Du có khả năng nắm bắt một cách tài
tình những ý nghĩ, tình cảm sâu kín của nhân vật và diễn tả nó một cách sinh
động. Sự biểu hiện hợp lí và sâu sắc nội tâm góp phần rất lớn tạo nên sức
sống của nhân vật. Bởi lẽ mục đích chính của nghệ thuật là nói lên sự thật về
tâm hồn con người, nói lên những điều bí ẩn không thể diễn tả bằng ngôn ngữ
thông thường được. Ðể làm được điều đó, nhà văn phải hiểu sâu sắc cuộc
sống và con người, nắm bắt được những biểu hiện và diễn biến dù nhỏ nhặt
nhất đời sống bên trong của nhân vật.
1.1.4.3. Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ
Khái niệm ngôn ngữ nhân vật nhằm chỉ những lời nói của nhân vật
trong tác phẩm. Lời nói đó phản ánh kinh nghiệm sống cá nhân, trình độ văn
hóa, tư tưởng, tâm lí, thị hiếu... Ðằng sau mỗi câu nói của mỗi con người đều
có lịch sử riêng của nó. Sêđrin cho rằng: “Từ cửa miệng một người nói ra
không hề có lấy một câu nào mà lại không thể truy nguyên đến cái hoàn cảnh
đã khiến cho nó xuất hiện...”. Trong cuộc sống, không thể có những hành
động, những câu nói mà đằng sau lại không có một lịch sử riêng”. Quả là
trong cuộc sống không thể có những người nói hoàn toàn giống nhau, vì vậy
nhà văn cần phát hiện những nét riêng của ngôn ngữ nhân vật để thể hiện
trong tác phẩm. Trong các tác phẩm tự sự nói chung, lời nói của nhân vật
thường chiếm tỉ lệ ít hơn so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng lại có khả
năng thể hiện sinh động và khêu gợi cho người đọc hình dung về bản chất,
tính cách của nhân vật. Trong các trào lưu văn học hiện thực, việc cá thể hóa
nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật được nhà văn đặc biệt quan tâm và được thực
hiện bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà văn có thể để cho nhân vật
18
19
khi không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau. Vì vậy, nhiều khi rất khó chỉ
ra các biện pháp xây dựng nhân vật dưới một hình thức thuần túy và độc lập.
Một điều cũng cần lưu ý là, nắm bắt các biện pháp trên đây cũng chỉ là nhằm
mục đích hiểu một cách đầy đủ và chính xác về nhân vật trong tác phẩm văn
học.
1.2. Khái quát về nhân vật bi kịch trong văn học
Muốn hiểu nhân vật bi kịch trước hết chúng ta phải xuất phát từ cách
hiểu bi kịch là gì?
Theo “Từ điển tiếng Việt 2000” do giáo sư Hoàng Phê chủ biên đã giải
thích “bi là những yếu tố gây thương cảm, bi kịch là cảnh éo le, mâu thuẫn
đến đau thương”.
Còn “Từ điển Hán Việt” của tác giả Phan Văn Các thì giải thích bi kịch
là cảnh đau thương.
“Từ điển tiếng Việt” do giáo sư Nguyễn Như Ý chủ biên giải thích bi
kịch là cảnh éo le, bi đát, tang thương.
Xét dưới góc độ mỹ học thì khái niệm bi kịch cũng được nhận định một
cách khái quát như sau: Bi kịch là một thể của loại hình kịch thường được coi
là đối lập với hài kịch. Bi kịch phản ánh không phải bằng tự sự mà bằng hành
động của nhân vật chính, mối xung đột không thể điều hoà được giữa cái
thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn…, diễn ra trong một tình huống cực
kì căng thẳng mà nhân vật thường khó thoát ra khỏi nó bằng cái chết bi thảm
gây nên những suy tư và xúc động mạnh mẽ đối với công chúng. Bi kịch ra
đời rất sớm ở Hi Lạp cổ đại, bắt đầu từ những nghi lễ thờ cúng thần rượu nho
Điônidôt. Ở đây ngay từ thế kỉ V trước Công nguyên bi kịch đã là một thể loại
sân khấu rất thịnh hành với những tác giả nổi tiếng như Etsilơ, Xôphôklơ,
Ơripit và những tác phẩm bất hủ còn lưu truyền đến tận ngày nay như
việc không chấp nhận thực tại không phải là sự bất hạnh của bản thân mình,
21
mà là những đau khổ của người khác, sự không phù hợp hoàn toàn giữa thực
tại với những lí tưởng của cá nhân.
Tuy nhiên, bi kịch được sử dụng ở đây không bao hàm ý nghĩa chỉ một
thể loại của loại hình kịch, cái được coi đối lập với hài kịch. Bởi lẽ, những tác
phẩm mà khoá luận xét đều là những truyện ngắn thuộc loại hình tự sự. Do
vậy, nhân vật bi kịch cũng không hàm chứa ý chỉ nhân vật trong tác phẩm
kịch mà bi kịch ở đây được hiểu là tính chất bi kịch theo như ý nghĩa các từ
điển đã chỉ ra. Nhân vật bi kịch thường được đặt trong những hoàn cảnh éo le,
trắc trở, đau thương. Đó là những hoàn cảnh trớ trêu buộc nhân vật phải vật
lộn đấu tranh để bộc lộ rõ tính cách, số phận của mình. Theo Ănghen, cội
nguồn xuất phát của cái bi là từ “xung đột giữa đòi hỏi tất yếu của mặt lịch sử
với tình trạng không thể thực hiện được nó trong thực tiễn”. Sự đối lập gay
gắt giữa hai mặt mà Ănghen đã nêu ra ngày càng gay gắt, khốc liệt xô đẩy
nhân vật đến những cảnh ngộ trắc trở, đau thương. Nhân vật bi kịch có thể
gặp những trắc trở, éo le khác nhau trong đời sống nhưng thường có điểm
giống nhau là đều chịu những đau khổ mất mát, thương vong cả về thể xác lẫn
tinh thần; đời sống vật chất và đời sống tâm lý…
Từ nội hàm khái niệm bi kịch như trên, các tác phẩm mang cảm hứng
bi kịch không thể không đi sâu thể hiện cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt, căng
thẳng, thường trực của nhân vật. Muốn lột tả được nội dung ấy nhà văn không
thể chỉ gia công xây dựng các tình huống xung đột có tính chất đối
kháng giữa cá nhân với xã hội, mà còn phải thể hiện những “trận bão trong
đầu” giữa phần cao cả với thấp hèn, giữa phần con với phần người, phần rồng
phượng với phần rắn rết trong mỗi con người. Trong khuôn khổ của tác phẩm
thuộc loại hình tự sự - như các truyện ngắn đang xét chẳng hạn - nhà văn
góc cạnh xù xì, phức tạp của cuộc sống, vì thế nó hướng tới tính đa dạng phổ
quát”. Những gì còn lại với thời gian sẽ thực sự có giá trị lâu bền mãi mãi.
Bản thân Nguyễn Minh Châu là một minh chứng cho điều ấy. Đã có một giai
đoạn, những năm 80 của thế kỉ XX Nguyễn Minh Châu từng bị giới văn học
23
phê phán vì lối văn chương không đi theo truyền thống vốn có lâu nay. Không
mấy người thực sự hiểu và nhìn nhận đúng đắn những giá trị trong sáng tác
của ông. Phải mất một thời gian dài nghiên cứu và tìm tòi những tác phẩm của
Nguyễn Minh Châu người ta mới dần khám phá ra những giá trị sâu sắc đáng
trân trọng trong đó. Và cho đến hôm nay, thời gian đã khẳng định giá trị
những đóng góp của Nguyễn Minh Châu đối với nền văn học nước nhà. Ông
được tôn vinh là nhà văn tiên phong đặt nền móng cho con đường đổi mới
nền văn học nước nhà. Quá trình đổi mới nghệ thuật viết văn, Nguyễn Minh
Châu đã đưa ra một quan điểm đầy tiến bộ về con người trong văn học, đồng
thời ông đã tạo cho mình một nghệ thuật xây dựng nhân vật rất độc đáo đầy
tính sáng tạo và tính nhân văn sâu sắc. Là một nhà văn ý thức sâu sắc về sứ
mệnh thiêng liêng của người cầm bút, Nguyễn Minh Châu luôn trăn trở về
việc hình thành cho mình một ý thức nghệ thuật và quan điểm sáng tác tiến
bộ. Ông thường xuyên thể nghiệm và tìm tòi những hướng đi mới trong cách
thể hiện con người trong văn học. Khác với phần đông các tác giả tiền chiến
thường để cho nhân vật bị sự kiện lấn át, con người thường chỉ là phương tiện
để nhà văn tái hiện, xâu chuỗi các biến cố lịch sử. Nguyễn Minh Châu trước
sau đều hướng ngòi bút của mình vào việc khám phá và thể hiện con người.
Quá trình nhận thức của nhà văn về con người cũng là một quá trình mở rộng
đào sâu với nhiều trăn trở và tự vấn. Tuy vậy nhờ vào một khả năng sáng tạo
phi thường và nỗ lực lao động không mệt mỏi, nhà văn đã gặt hái được những
thành công đặc sắc trong quan niệm về con người và nghệ thuật xây dựng
được bao bọc trong một bầu không khí vô trùng…”. Con người trong sáng tác
của Nguyễn Minh Châu trước 1975 mang tính lí tưởng hóa rõ nét. Và tất cả
đều được xây dựng nên bằng một chất văn trữ tình bay bổng và giọng ngợi ca
đầy tính sử thi. Bước sang thời kì hậu chiến, Nguyễn Minh Châu đã tìm tòi và
đổi mới sâu sắc trong cách nhìn con người. Và chính trong giai đoạn này ông
25