Hình thức nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu - Pdf 29

- 1 -
LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Phùng Minh Hiến,
người thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em rất chu đáo, nhiệt tình,
trách nhiệm trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lý luận
văn học, khoa Ngữ văn, phòng Sau đại học - Trường ĐH Sư phạm Hà
Nội II đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên em trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người
thân trong gia đình đã dành cho tôi sự quan tâm, giúp đỡ, sẻ chia về mọi
mặt trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá học.

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn Nguyễn Huy Hùng - 2 -
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là quá trình tìm hiểu và nghiên cứu của

1. Lý do chọn đề tài 4

2. Mục đích nghiên cứu 15

3. Nhiệm vụ nghiên cứu 16

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

5. Phương pháp nghiên cứu. 17

6. Dự kiến đóng góp của luận văn 17

NỘI DUNG 19

CHƯƠNG 1: 19

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 19

VỀ HÌNH THỨC NHÂN VẬT KỂ CHUYỆN 19

1.1 Khái niệm 19

1. 2 Chức năng của nhân vật kể chuyện trong tác phẩm tự sự 23

1. 3 Các tiêu chí để nhận diện nhân vật kể chuyện 32

CHƯƠNG 2 40

CÁC LOẠI NHÂN VẬT KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU 40

chúng ta không thể không nói đến người kể chuyện và nhân vật kể
chuyện. Tìm hiểu người kể chuyện, nhân vật kể chuyện - yếu tố tích cực
trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng - sẽ giúp ta hiểu được phương
diện chủ thể của tác phẩm tự sự, hiểu tác phẩm một cách sâu sắc, trọn
vẹn hơn.
1.2 Với việc nghiên cứu người kể chuyện và nhân vật kể chuyện, ta có
được một công cụ có tính chất con đường để đi vào phân tích, khám phá
tác phẩm của những nhà văn cụ thể, lí giải được một trong những yếu tố
làm nên nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của họ. Nhà văn mà
chúng tôi chọn để nghiên cứu ở đây là Nguyễn Minh Châu bởi trong
những gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ XX, ông nổi
lên như một hiện tượng đáng chú ý. Ba mươi năm cầm bút, bắt đầu bằng
truyện ngắn Sau một buổi tập đến Phiên chợ Giát - "Bản di chúc nghệ
thuật cuối cùng", Nguyễn Minh Châu đã chiếm một vị trí không thể thay
thế trong nền văn học Việt Nam hiện đại. “Anh là người kế tục xuất sắc
những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường
rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này"[56, tr.11]. Gia tài văn học
của Nguyễn Minh Châu khá đồ sộ, gồm cả tiểu thuyết và truyện ngắn.
Tiểu thuyết mà Nguyễn Minh Châu để lại đã chiếm một địa vị đáng kể -
cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Tuy nhiên theo đánh giá của giới
nghiên cứu phê bình, cũng như theo sự cảm nhận của chính Nguyễn
- 5 -
Minh Châu thì truyện ngắn mới thực sự là sở trường của ông. Nhà phê
bình Phạm Vĩnh Cư cho rằng: "Nguyễn Minh Châu viết nhiều về tiểu
thuyết, được công luận nhiệt tình hưởng ứng, ngợi khen nhưng cái mà
nhà văn để lại cho đời không phải là tác phẩm dài hơi ấy mà là dăm ba
truyện ngắn in rải rác trên báo chí, trong các tập truyện cuối đời của
anh"[11]. Còn Nguyễn Minh Châu, sinh thời cũng có lần tâm sự: "Mình
viết văn suốt đời tràng giang đại hải có khi chỉ còn lại được vài cái
truyện ngắn". Theo dõi hành trình truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu,

người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người
đọc), là người chứng kiến và người cắt nghĩa các sự việc xảy ra . Và họ
cho rằng có hai kiểu người trần thuật phổ biến: "Hình thức thứ nhất của
miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hoá mà đằng
sau là tác giả. Nhưng người trần thuật cũng hoàn toàn có thể xuất hiện
trong tác phẩm dưới hình thức một cái "tôi" nào đó. Đặc biệt trong công
trình của mình, các ông đã chỉ ra mối quan hệ tương đổi linh hoạt và
phức tạp giữa người kể chuyện với nhân vật và với tác giả. Trong nhiều
trường hợp đặc biệt trong các tác phẩm tự truyện, nhân vật kể chuyện có
các sự kiện đời sống và trạng thái tinh thần gần gũi với bản thân tác giả
nhưng thường thì số phận, lập trường cuộc sống và cảm thụ của nhân vật
kể chuyện khác hẳn với tác giả.
Timofiev trong giáo trình Nguyên lý lý luận văn học (1962) cũng
khẳng định việc tự sự ngay từ đầu đã được gắn chặt với một người kể
chuyện nhất định. "Người kể chuyện là người kể cho ta nghe về những
nhân vật và biến cố". Ông đặc biệt quan tâm đến ngôn ngữ người kể
chuyện, xem nó là một yếu tố tích cực đem lại cho các nhân vật và các
- 7 -
hiện tượng trong tác phẩm một màu sắc căn bản, một sự đánh giá căn
bản. Ngôn ngữ người kể chuyện được cá tính hoá cả về mặt hình thức
lẫn mặt ý nghĩa, nó có những đặc điểm riêng, phân biệt với ngôn ngữ của
các nhân vật khác: "Tính độc đáo của ngôn ngữ người kể chuyện tức là
vấn đề ngôn ngữ người kể chuyện có những đặc điểm cá tính hoá, không
hoà lẫn với đặc điểm của các nhân vật được miêu tả, trái lại được nêu lên
một cách riêng biệt, ám chỉ một cá tính ẩn đằng sau nó. Cá tính này mà
ta thấy trong ngôn ngữ, dùng những biện pháp ngôn ngữ để tạo nên hình
tượng của nhân vật, người nhân danh mình theo quan điểm của mình,
quan niệm về tất cả các nhân vật và biến cố được nhắc đến trong tác
phẩm" .
Tiếp theo là ý kiên của các nhà nghiên cứu phương Tây. P.Lubbock

chuyện là nhân chứng. Thứ năm là hình thức trần thuật “toàn năng cục
bộ đa bội”. Người kể chuyện đứng bên ngoài và tựa vào điểm nhìn của
nhiều nhân vật để kể chuyện. Thứ sáu là hình thức trần thuật "toàn năng
các bộ đơn bội”- người kể chuyện đứng bên ngoài và tựa vào điểm nhìn
của một nhân vật trong truyện để kể. Thứ bẩy là hình thức trần thuật theo
“mô thức kịch" và thứ tám là trần thuật theo kiểu "camera” ở cả hai hình
thức này, người kể chuyện hầu như chỉ khách quan ghi lại các sự việc,
hiện tượng mà không tỏ bất cứ một thái độ chủ quan nào.
Tz.Todorov trong công trình Thi pháp học cấu trúc (1971) cũng
đã đưa ra những ý kiến khá sâu sắc về người kể chuyện. Theo quan niệm
của ông, "người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới
tưởng tượng. ( ). Không thể có trần thuật thiếu người người kể chuyện.
- 9 -
Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể
chuyện. Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể,
nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn
đặc biệt". Xuất phát từ tương quan về dung lượng hiểu biết của người kể
chuyện và nhân vật, Todorov đã chia thành ba hình thức người kể
chuyện. Thứ người kể chuyện lớn hơn nhân vật; người kể chuyện bằng
nhân vật và hình thức cuối cùng là người kể chuyện bé hơn nhân vật.
Kế thừa tư tưởng của những người đi trước, G. Genette trong
Các phương thức tu từ (1972) dựa trên tiêu chí tiêu cự - mối quan hệ
giữa thị giác và vật được nhìn thấy, cảm biết - đã đưa ra một sự phân loại
về người kể chuyện như sau: Thứ nhất là tự sự với tiêu cự bằng không:
người kể chuyện biết hết, biết trước, không bị một hạn chế nào, không có
khoảng cách nào với sự việc được kể. Thứ hai là tự sự với tiêu cự bên
trong: người kể chuyện thông qua nhân vật mà xác lập tiêu cự, sự biết
của anh ta ngang với nhân vật, anh ta chỉ kể những gì mà nhân vật biết,
không được kể những gì ngoài tầm biết của nhân vật. Thứ ba là tự sự với
tiêu cự bên ngoài: người kể chuyện xác lập tiêu cự bên ngoài đối với

nhìn chính là tiêu chí đầu tiên để nhận điện người kể chuyện. Đây là
quan điểm thoả đáng. Cũng trong công trình nghiên cứu này, Phùng Văn
Tửu đã chỉ ra một số loại người kể chuyện: Một dạng phổ biến của tiểu
thuyết truyền thống là người kể chuyện giấu mặt, coi như đứng ở một vị
trí nào đấy trong không gian, thời gian, bao quát hết mọi diễn biến của
câu chuyện và thuật lại với chúng ta. Chuyện được kể ở ngôi thứ ba số ít.
Một dạng phổ biến khác của tiểu thuyết là lối kể chuyện ở ngôi thứ nhất
với người kể chuyện xưng tôi" .
- 11 -
Nhà nghiên cứu Nắng Mai (PGS.TS Phùng Minh Hiến) là người
đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Để khắc phục tình trạng dùng chung,
dùng lẫn, dùng không phân biệt hai khái niệm “người trần thuật” và
“người kể chuyện”, nhà nghiên cứu đã viết bài “Hình thức nhân vật kể
chuyện trong truyện Lão Hạc”[27]. Tác giả bài báo đề nghị gọi tên hình
thức kể chuyện truyền thống, xuất hiện sớm, kể từ ngôi thứ ba, là hình
thức người kể chuyện còn hình thức kể chuyện đã được nhân vật hóa,
với nhân vật xưng tôi, là hình thức nhân vật kể chuyện. Khác với nhà
nghiên phương Tây, tác giả nhấn mạnh, trong hình thức kể chuyện này,
có thể ít có thể nhiều, con người xã hội – văn hóa, đời sống cá nhân của
chủ thể kể chuyện bao gồm hoàn cảnh riêng, mức sống, số phận… đều
được hình thành trong tác phẩm.
Cũng trong bài báo này, trái hẳn với nhà nghiên cứu phương Tây
(đồng nhất tác giả với người kể chuyện, coi người kể chuyện chỉ là hình
thức bịa đặt trên giấy), Nắng Mai xác định: “Ở Nam Cao nhân vật kể
chuyện được sáng tạo không ngừng với tư cách là con người xã hội cụ
thể và cá biệt cho nên chúng khá đa dạng và không lặp lại” [27, tr.43].
Và để chứng minh cho sự đa dạng của chúng tác giả bài báo đã điểm qua
đôi nét độc đáo ở từng nhân vật kể chuyện trong truyện Gì Hảo, Đui mù,
Đôi mắt và Lão Hạc… Sau đó ông tiếp tục khảng định “sáng tạo nên
những nhân vật kể chuyện khác nhau như thế Nam Cao đồng thời sáng

diện hình thức. Những vấn đề như quan niệm nghệ thuật về hiện thực, về
con người của nhà văn đặc biệt được nhấn mạnh. Về tình hình nghiên
cứu người kể chuyện và nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu, ta thấy có một số điểm đáng lưu ý như sau:
- 13 -
Trước hết, một số ý kiến chưa đi vào nghiên cứu người kể chuyện
và nhân vật kể chuyện mà chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một vài đặc
điểm của nghệ thuật kể chuyện mà thôi. Đỗ Đức Hiểu nhận thấy nghệ
thuật kể chuyện của Nguyễn Minh Châu trong Phiên chợ Giát đã đạt
đến mức tài hoa, điêu luyện: “Phiên chợ Giát là một tâm trạng lớn, là
những cảm xúc và suy tư sâu thẳm, một văn bản đa thanh, một tác phẩm
văn chương mở. . . một bức tranh nhiều nét nhòe, nét này thâm nhập nét
kia, gây nhiểu ảo ảnh, một sự thẩm thấu giữa hiện tại và quá khứ, giữa
giấc mơ và sự thật, cái cụ thể và cái trừu tượng, độc thoại, đối thoại và
lời người kể chuyện "[56, tr.421]. Huỳnh Như Phương cũng nhận thấy
một trong những yếu tố làm nên sức hấp dẫn của truyện ngắn Bức tranh
chính là nghệ thuật kể chuyện, “nghệ thuật tạo căng thẳng dần, siết chặt
dần: từ cảm giác ân hận bị dìm xuống đến lòng hối hận bùng lên, rồi một
niềm ăn năn cắn rứt mãi không thôi"[56, tr.349]. Một số ý kiến khác lại
mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra một số bình diện liên quan đến người kể
chuyện, nhân vật kể chuyện như điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ
Phong Lê nhận ra Nguyễn Minh Châu "đã tạo ra một thế giới nghệ thuật
của anh" không phải bời "hệ thống đề tài" mà cái quyết định là bời một
“chất giọng riêng” : cái đa giọng điệu, cái đa thanh của cuộc đời đã ùa
vào truyện ngắn của anh" [56, tr.364]. Bùi Hiển nhận xét: "Trước kia anh
hồn hậu trữ tình, hào hứng ca ngợi, giờ đây anh trầm giọng, nghiêm
giọng nữa" [56, tr.354]. Còn Phan Cự Đệ cũng nhận thấy Nguyễn Minh
Châu trong những năm gần đây "không dừng lại ở trực giác mà đi sâu
vào tâm lý, tiềm thức ( …) Giờ đây giọng điệu riêng, cách nói riêng của
anh rõ ràng hơn"[56, tr.355].

- 15 -
có đề cập đến vấn đề người trần thuật. Nhà nghiên cứu này cho rằng có
hai dạng người trần thuật chính là "trần thuật khách thể và trần thuật theo
ngôi thứ nhất" [39, tr.147].Theo chúng tôi cách dùng khái niệm trần
thuật khách thể như thế là chưa ổn. Bởi nói đến người trần thuật chính là
ta nói đến vấn đề chủ thể. Hơn nữa tiêu chí phân loại ở đây cũng chưa
thật sự thống nhất. Trong lối trần thuật khách quan mà Tôn Phương Lan
gọi là trần thuật khách thể cũng có thể bao gồm cả lối trần thuật theo
ngôi thứ nhất. Chẳng hạn trong tác phẩm Tướng về hưu của Nguyễn Huy
Thiệp, người kể chuyện xưng Tôi, trần thuật từ ngôi thứ nhất nhưng vẫn
là lối trần thuật khách quan. Từ sự phân tích trên ta có thể thấy: Mặc dù
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã được giới nghiên cứu, phê bình bàn
bạc, trao đổi và làm sáng tỏ trên nhiều phương diện nhưng phương diện
người kể chuyện, nhân vật kể chuyện thì chưa được khảo sát một cách tỉ
mỉ, hệ thống, chưa thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu độc lập của
bất cứ một công trình nào. Phần lớn các nhà nghiên cứu chỉ mới bàn đến
vấn đề này một cách khái quát qua một ý kiến ngắn, một bài báo, một
mục trong chuyên luận mà thôi. Tuy nhiên, những ý kiến này vẫn là
những gợi ý, những định hướng vô cùng quý báu giúp chúng tôi tiếp tục
đi sâu nghiên cứu môt cách tương đối toàn diện có hệ thống vể vấn đề
này.
2. Mục đích nghiên cứu
2.1 Về mặt lí luận: Củng cố thêm sự hiểu biết những vấn đề lí luận về
hình thức nhân vật kể chuyện, hình thức người kể chuyện, làm cho nhận
thức của bản thân được sâu sắc và phong phú hơn trong việc nghiên cứu
tác phẩm văn chương.
- 16 -
2.2 Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở lí thuyết về hình thức nhân vật kể
chuyện, tìm hiểu hình thức nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, thấy được cái mới của hình thức kể chuyện này.

5. Bức tranh
6. Người đàn bà trên chuyến tầu tốc hành
7. Đứa ăn cắp
8. Sắm vai
9. Dấu vết nghề nghiệp
10. Chiếc thuyền ngoài xa
11. Một lần đối chứng
12. Sống mãi với cây xanh
13. Cỏ lau
14. Mùa trái cóc ở miền Nam
5. Phương pháp nghiên cứu.
5.1 Phương pháp khái quát, tổng hợp theo nhóm các truyện có hình thức
kể giống nhau.
5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa hình thức “nhân vật kể chuyện”
và “người kể chuyện”.
5.3 Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo đặc trưng, thể loại.
5.4 Phương pháp tiếp cận đối tượng theo quan điểm hệ thống.
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
6.1 Luận văn đã xác định nội hàm của khái niệm hình thức nhân vật kể
chuyện một cách tương đối nhất quán và hệ thống để có thế sử dụng khái
- 18 -
niệm này như một yếu tố cơ bản trong việc xem xét cấu trúc của tác
phẩm tự sự.
6.2 Vận dụng khái niệm hình thức nhân vật kể chuyện để xem xét một
trong những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh
Châu đồng thời khẳng định những khả năng tự sự mà nhà văn này đã
mở ra cho văn xuôi Việt Nam hiện đại. Có thể nói chỉ đến luận văn của
chúng tôi, vấn đề hình thức nhân vật kể chuyện trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu mới được khảo sát mộ cách tỉ mỉ, hệ thống, mới
thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên biệt, độc lập.

1.1.1 Hình thức nhân vật kể chuyện do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện
Người kể chuyện, nhân vật kể chuyện là sản phẩm của sự sáng tạo
nghệ thuật, một phần sự hư cấu của nhà văn, nó khác với người kể
chuyện trong thực tế. Nếu người kể chuyện thực tế là những người cụ
thể, hữu hình, có gọng nói, hình hài, điệu bộ… thì người kể chuyện trong
tác phẩm nghệ thuật các yếu tố này được chuyển vào văn bản thông qua
hệ thống thủ pháp nghệ thuật. Diểm khác biệt nữa giữa người kể chuyện
thưc tế và người kể chuyện trong văn bản nghệ thuật là người kể chuyện
thực tế có thể điều chỉnh câu chuyện theo phản ứng của người nghe còn
người kể chuyện trong văn bản nghệ thuật thì không thể có quyền đó.
Thứ ba, người kể chuyện trong đời sống thực tế thường là kể câu chuyện
theo trình tự thời gian theo trật tự tuyến tính để cho người nghe dễ theo
dõi. Còn người kể chuyện trong văn bản nghệ thuật thì có thể sử dụng lôí
kể đảo tuyến đan xen giữa hiện tại, quá khứ và tương lai để làm tăng sức
hấp dẫn cho câu chuyện mình kể.
1. 1. 2 Nhân vật kể chuyện là một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự
- 20 -
Nhân vật kể chuyện là một nhân vật nhưng là một kiểu nhân vật đặc
biệt, nó có những điểm khác so với các nhân vật khác trong tác phẩm.
Tính chất đặc biệt của nhân vật kể chuyện thể hiện ở những điểm sau:
Trước hết, nhân vật kể chuyện là người định giá tư tưởng thẩm mĩ
của tác phẩm, là một "hình tượng thái độ" (chữ dùng của Uspensky) .
Đọc xong một tác phẩm tự sự, ngoài những nhân vật được miêu tả,
chúng ta vẫn cảm nhận thấy có một nhân vật thứ ba nữa đang quan sát,
ghi chép, phân tích về chúng, đó chính là nhân vật kể chuyện, đó chính
là người kể chuyện. Có thể nói, trong bất cứ truyện kể nào cũng khắc in
cách nhìn, cách cảm thụ, phương thức tư duy, năng lực trí tuệ và tư chất
tình cảm của nhân vật đặc biệt này. Như vậy, người kể chuyện, nhân vật
kể chuyện không chỉ là một nhân vật tham gia trong tác phẩm mà còn có
chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm, tổ chức các nhân vật khác. Người

của tác giả ngoài đời. Chẳng hạn qua những lời kể chân tình, mộc mạc
của nhân vật Tôi trong bộ ba tự truyện (Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những
trường dại học của tôi) ta phần nào đó thấy được cuộc đời cơ cực gian
khổ và những nổ lực không ngừng vươn lên tới đỉnh cao văn hoá của tác
giả Gorki. Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng là những kỉ niệm sâu
sắc vè thời thơ ấu của nhà văn. Những đắng cay, tủi nhục, những khao
khát, ước mơ mà nhân vật tôi trải qua cũng chính là những cảm giác, tâm
trạng mà Nguyên Hồng đã từng nếm trải trong quá khứ. Phong Lê khi
đọc xong tác phẩm này đã bày tỏ xúc động : "Tôi cứ ngẩn ngơ hoài trước
một tuổi thơ sao mà cay cực đến thế, mà sao nhà văn có thể thành thực
đến thế. Một sự thành thực đến tận cùng chi tiết khiến người ta đọc đến
mà sững sờ, mà nổi gai lên trong tâm trí, mà run rẩy đến từng xúc cảm ".
- 22 -
Như vậy, giữa nhân vật kể chuyện và tác giả có nét thống nhất nhưng ta
tuyệt đôí không được đồng nhất với nhau.
Thứ nhât, tư tưởng của tác giả rộng hơn tư tưởng của nhân vật kể
chuyện; tư tưởng của tác giả được thể hiện trong toàn bộ tác phẩm qua
cả nhân vật kể chuyện và qua các nhân vật khác. Chẳng hạn để hiểu
được tư tưởng của Leptônxtôi trong Chiến tranh và hoà bình ta không
chỉ dựa vào tư tưởng của người kể chuyện hàm ẩn mà ta còn phải tổng
hơp tư tưởng của tất cả các nhân vật như: Anđrray, Pie, Natasa . . . Nếu
chúng ta dựa vào người kể chuyện để đánh giá, phán xét tác giả thì sẽ là
cực đoan, phiến diện. Một số làm lại được. Những hành động, tâm trạng,
cảm giác mà nhân vật kể chuyện kể lại trong tác phẩm tự truyện có thể
là của nhà văn nhưng đó là những hành động, tâm trạng đã xảy ra với
nhà văn trong quá khứ chứ không phải là thời khắc hiện tại bây giờ. Thời
gian trôi qua dù ít dù nhiều cũng đã làm cho mọi chuyện không còn được
kể nguyên như cũ nữa. Khi hồi tưởng lại những câu chụyện xẩy ra trong
quá khứ của mình, không ai dám đảm bảo là mình đã nhớ chính xác đến
từng chi tiết nhỏ. Nếu có nhớ thì hoạ chăng cũng chỉ là những hành

tâm lý nhân vật có được mô tả chân thực, tinh tế như thế hay không?
Hay trong những năm gần đây ta thấy trong truyện ngắn của Trần Thuỳ
Mai - một nhà văn nữ lại hay xuất hiện hình tượng nhân vật kể chuyện
xưng tôi là nam. Phải chăng Trần Thuỳ Mai muốn đi vào miêu tả, khám
phá bản chất phụ nữ qua con mắt đàn ông? Hay phải chăng nhà văn nữ
này muốn khám phá thế giới bí ẩn của đàn ông, muốn thử nghiệm những
cảm xúc của đàn ông?
- 24 -
Như vậy, nhân vật kể chuyện trong tác phẩm tự sự là một nhân vật
mang tính chức năng. Vì nhân vật kể chuyện là nhân vật trung gian nối
liền giữa nhà văn- tác phẩm - bạn đọc nên nghiên cứu chức năng nhân
vật kể chuyện ta cũng phải xem xét trong ba mối quan hệ này.
1 2.1. Nhân vật kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm.
Mỗi tác phẩm văn học có thể có nhiều khả năng kết cấu; mỗi khả
năng kết cấu thích hơp với một quá trình khái quát nghệ thuật của người
nghệ sĩ. Nhân vật kể chuyện phái thay mặt nhà văn cố gắng tìm cho
mình một kết cấu tối ưu để làm cho câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn được
người đọc. Vai trò tổ chức kết cấu tác phẩm của nhân vật kể chuyện
được thể hiện trên những bình diện sau:
Trước hêt là tổ chức hệ thống hình tượng. Nhân vật kể chuyện có
thể tổ chức các quan hệ của nhân vật theo hình thức đối lập, đối chiếu,
tương phản hoặc bổ sung. Chẳng hạn trong Hồng lâu mộng của Tào
Tuyết Cần, người kể chuyện đã lựa chọn quan hệ đối chiếu, tương phản
để làm cho nhân vật hiện lên sắc nét hơn. Đó là Giả Bảo Ngọc và Lâm
Đại Ngọc: Cả hai đều sống theo tiếng gọi của con tim, đều có tư tưởng
tiến bộ nhưng về cá tính thì họ lại dường như trái ngược nhau. Giả Bảo
Ngọc xốc nổi, Lâm Đại Ngọc thâm trầm; Giả hồn nhiên, cởi mở, Lâm
quanh co, kín đáo; Giả tin người và rộng lượng còn Lâm đa nghi và có
phần hẹp hòi. Đó là Phượng Thư và Thám Xuân: Cả hai đều sắc sảo, đáo
để nhưng chính Phượng Thư đã nhận ra Thám Xuân thận trọng hơn và

kể chuyện còn được thể hiện ở việc kết cấu văn bản nghệ thuật. Đó có
thể là việc sắp xếp bố cục của trần thuật, việc tạo nên độ lệch giữa phạm

Trích đoạn Sử dụng hình thức tự truyện nhưng ít có yếu tố tự truyện Sự đan xen hai hình thức kể chuyện và tính đa chủ thể của hình Hình thức nhân vật kể chuyện và yếu tố huyễn tưởng,viễn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status