BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
…O…
MAI Ý NHI
GIÁ TRỊ NHÂN SINH
CỦA THƠ THIỀN VIỆT NAM THỜI LÝ
– TRẦN XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH
TƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
…O…
MAI Ý NHI
GIÁ TRỊ NHÂN SINH
CỦA THƠ THIỀN VIỆT NAM THỜI LÝ
– TRẦN XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH
TƯỢNG
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 602234
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................. 21
1.1. BỐI CẢNH VĂN HÓA - LỊCH SỬ THỜI ĐẠI LÝ – TRẦN ............ 21
1.1.1. Khái niệm thời đại Lý - Trần ...................................................................21
1.1.2. Tình hình chính trị, xã hội thời Lý – Trần .............................................22
1.1.3. Sự phát triển hưng thịnh của Phật giáo thời Lý – Trần ........................24
1.1.4. Nền văn học thời Lý - Trần .....................................................................26
1.2. THƠ THIỀN LÝ - TRẦN ...................................................................... 28
1.2.1. Khái niệm “thơ thiền” .............................................................................28
1.2.2. Những đặc trưng cơ bản, loại biệt của thơ thiền ...................................30
1.2.3. Khái quát về nội dung và nghệ thuật của thơ thiền Lý - Trần ..............32
1.3. MỘT SỐ TRIẾT LÝ NHÂN SINH CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO VÀ
PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG THỜI LÝ - TRẦN ...................................... 34
1.3.1. Một số triết lý nhân sinh cơ bản của Phật giáo ......................................34
1.3.2. Phật giáo Thiền tông Việt Nam thời Lý - Trần ......................................37
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ NHÂN SINH CỦA HÌNH TƯỢNG
CON NGƯỜI TRONG THƠ THIỀN LÝ - TRẦN .................... 41
2.1. CON NGƯỜI AN NHIÊN, TỰ TẠI VÌ HIỂU ĐƯỢC QUY LUẬT
CỦA CUỘC SỐNG, NHÂN SINH. ............................................................. 42
2.1.1. Quan niệm về nhân sinh, vũ trụ của triết lý Phật giáo Thiền tông. ......42
2.1.2. Cảm nhận sâu sắc của con người về sự tàn phai, biến ảo của cuộc đời
.............................................................................................................................44
2.1.3. Thái độ an nhiên, tự tại của con người vì hiểu được quy luật cuộc sống,
nhân sinh ............................................................................................................46
2.1.4. Ý thức về sự hữu hạn của đời người, con người cần sống bằng những
KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TRONG THƠ THIỀN LÝ TRẦN ............................................................................................ 119
4.1. HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN ......................................................... 119
4.2. HÌNH TƯỢNG THỜI GIAN .............................................................. 139
KẾT LUẬN .................................................................................. 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 151
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.1. Bất cứ sáng tác văn học chân chính nào cũng đều gặp nhau ở mục đích cuối
cùng là phục vụ đời sống con người, làm cho đời sống con người tốt đẹp hơn. Thơ
thiền Lý - Trần với tư cách là văn học Phật giáo nhưng những sáng tác không chỉ
nói đến Đạo đơn thuần mà còn ẩn chứa trong đó những quan niệm về cuộc đời của
kiếp nhân sinh. Thông qua quan niệm đó của người xưa mà có thể gạn đục khơi
trong cho cuộc sống mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn, nhân ái hơn. Tìm hiểu giá trị
nhân sinh trong thơ thiền Lý - Trần, người viết mong góp phần vào mục đích cao
quý đó của văn học.
1.2. Thời đại Lý - Trần là tên gọi chung cho sáu triều đại phong kiến Việt Nam đầu
thời tự chủ (từ khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (938)
cho đến cuối đời Hồ, khi giặc Minh sang xâm lược nước ta năm 1418). Trong đó, có
hai triều đại Lý và Trần là hào hùng và oanh liệt, rực rỡ và đẹp đẽ nhất trong lịch sử
chế độ phong kiến Việt Nam. Trước và sau hai triều đại này, mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội bị xuống cấp một cách trầm trọng. Do đâu có được một thời đại như
vậy? Thiết nghĩ nguyên nhân thì có nhiều nhưng không thể bỏ qua yếu tố làm hạt
nhân tư tưởng cơ bản. Đó chính là “quan niệm sống” đã chi phối đến suy nghĩ và
hành động của con người trong thời kì này. Và có lẽ thơ ca là cách tương đối hữu
có thể bù đắp được hạn chế về thời gian tiết học câu thúc khi chọn cách giảng về
“điểm”, sẽ tạo sự lan tỏa về “diện”.
Trên đây là một vài lý do cơ bản để chúng tôi đến với đề tài “Giá trị nhân
sinh của thơ thiền Việt Nam thời Lý - Trần xét từ phương diện hình tượng”. Trước
một “mỏ quặng” quý hứa hẹn nhiều tiềm năng, luận văn chúng tôi hy vọng có được
một vài đóng góp nhỏ bé, nhằm khẳng định giá trị của mảng thơ để lại nhiều dấu ấn
trong văn học cổ - bộ phận thơ thiền thời Lý – Trần.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Tuy chưa có một công trình chuyên biệt nào dành riêng để khảo sát, nghiên
cứu vấn đề “Giá trị nhân sinh trong thơ thiền Lý - Trần” nhưng phương diện hình
tượng vốn được coi là một biểu hiện quan trọng của thi pháp nên trong quá trình
nghiên cứu các vấn đề của văn học trung đại, các tác giả đều lưu tâm xem xét, đề
cập đến nó.
2.1. Về hình tượng con người
Vấn đề tìm hiểu con người trong văn học cổ từ lâu đã được các nhà nghiên
cứu quan tâm. Trong thơ thiền Lý - Trần, có thể nêu ra một số công trình nghiên
cứu, bài viết như sau:
- Bài viết Vấn đề con người trong văn học thời đại Lý - Trần của Đoàn Thị
Thu Vân trong quyển Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (Nguyễn
Hữu Sơn chủ biên, NXB Giáo dục, HN, 1998) đã phân loại bốn phương diện biểu
hiện con người cá nhân trong thơ thiền Lý - Trần là: con người tự do, con người vô
ngã, con người vô ý, con người vô ngôn. Tác giả kết luận bốn phương diện này đều
hướng đến con người vũ trụ.
- Nguyễn Phạm Hùng trong chuyên luận: Thơ thiền Việt Nam - những vấn
đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật (NXB Đại học quốc gia, HN, 1998) đã đứng trên
tiêu chí về chức năng tôn giáo mà cho rằng, con người trong thơ thiền là con người
lưỡng thể, là sự hòa nhập của con người Phật giáo và con người cá nhân.
- Nguyễn Công Lý với Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý –
chí về mỹ học Phật giáo (con người hành hương…).
2.2. Về hình tượng thiên nhiên
Một số công trình sau có đề cập:
- Luận án tiến sĩ Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền Việt Nam thế
kỉ thứ XI đến thế kỉ thứ XIV của tác giả Đoàn Thị Thu Vân (1995) đã nghiên cứu
một cách khá tổng quát về các phương diện đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền như
ngôn ngữ thơ, hình tượng con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật,
thể thơ, cách miêu tả, thể hiện và giọng điệu, kết cấu…, trong đó có hình tượng
thiên nhiên. Theo tác giả, thiên nhiên trong thơ thiền Lý - Trần được miêu tả theo
hai xu hướng: mang ý nghĩa trực tiếp và mang ý nghĩa biểu tượng. Thiên nhiên
mang ý nghĩa trực tiếp là thiên nhiên sinh động, nên thơ, gợi cảm của con người đời
thường, đồng thời cũng chứa cảm hứng thiền, tâm trạng thiền, mang ý vị thiền do
được nhìn qua con mắt của thiền gia. Thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tượng là thiên
nhiên dùng để nói lên một số quan niệm của triết lý Phật giáo Thiền tông… Qua kết
quả khảo sát một cách nghiêm túc, tác giả cũng đã đưa ra những luận cứ về những
thi liệu được sử dụng nhiều khi miêu tả thiên nhiên như tần suất xuất hiện và tất
nhiên theo đấy là dụng ý nghệ thuật của người sáng tác.
- Nguyễn Công Lý trong chuyên luận Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền
tông thời Lý - Trần (NXB Văn hóa thông tin, 1997) cũng đã dành một số trang viết
để nói lên cảm nhận của mình về thiên nhiên - đất nước trong văn học Thiền tông
thời Lý - Trần. Cùng một nhận định với tác giả Đoàn Thị Thu Vân, Nguyễn Công
Lý cho rằng: “…thiên nhiên trong thơ họ được sử dụng như một phương tiện miêu
tả, một văn cảnh tượng trưng cho những thế lực siêu nhiên, trừu tượng của triết lý
nhưng phần cảm xúc thường ẩn sau những nhận xét nghiêm trang về tôn giáo” [24,
102]. Bên cạnh đó “…thiên nhiên còn được tác giả miêu tả dường như có vẻ gần
gụi với con người hơn, hay nói khác đi thi nhân tìm đến với tạo vật với những xúc
động, rung cảm đích thực là của con người phàm trần…” [24, 107] . Ngoài hai kết
luận phổ biến thường gặp ở các nhà nghiên cứu là thiên nhiên - đối tượng thẩm mỹ
muốn đưa tâm mình hòa nhập vào vũ trụ lớn lao để sống trọn vẹn trong nó, đó chính
là thế giới tâm linh bát ngát, trong lặng, không mùi vị của thiền gia. Ngoài ra, còn
có không gian thể hiện bản chất, qui luật vận động của vũ trụ mà trong đó vạn vật
luôn tương tác và hòa điệu. Cuối cùng, tác giả khẳng định không gian trong thơ
thiền là không gian mang tính triết học, không gian của những cảm thức tâm linh.
- Lê Trí Viễn trong công trình Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam (NXB
TP.HCM, 2001) đã nhận định về không gian trong thơ thiền Lý - Trần như sau:
“Không gian trong đó (thơ thiền Lý - Trần) thường là một không gian bao la,
khoáng đạt, trong trẻo và lặng lẽ…Nhưng không gian đó không chỉ có bao la, lặng
lẽ mà còn có sự thống nhất biện chứng giữa cái vô cùng lớn lao với cái vô cùng nhỏ
bé, cái vô hạn với cái hữu hạn” [44, 96]. Như vậy, nhận xét của Lê Trí Viễn khá
tương đồng với quan điểm của Đoàn Thị Thu Vân. Tuy nhiên, việc đi sâu phân tích
toàn bộ không gian nghệ thuật trong thơ thiền Lý - Trần như một đối tượng tìm hiểu
chính thì chưa được đề cập. Cũng trong công trình này, tác giả thừa nhận “Thơ
thiền đã thể hiện quan niệm ấy (quan niệm về không gian và thời gian) hết sức tốt
đẹp và nghệ thuật” [44, 96].
- Ngoài ra, không gian nghệ thuật trong thơ thiền Lý - Trần cũng được nhiều
lần đề cập đến trong một số bài viết đăng trên các quyển Tuyển tập 40 năm Tạp chí
Văn học, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Tuyển tập 10 năm Tạp chí Văn học và tuổi
trẻ … Các tác giả không chủ ý đi vào nghiên cứu không gian mà thông qua tìm hiểu
nghệ thuật của một tác phẩm tiêu biểu, phong cách sáng tác của một nhà thơ nào đó,
hoặc phê bình bình luận về một bài thơ hay, so sánh nghệ thuật giữa thơ thiền Việt
Nam với thơ thiền Trung Quốc hay Nhật Bản…Các học giả đã liên hệ, dẫn chứng
một vài câu thơ hàm chứa không gian để khẳng định cho lời nhận định của mình.
Do đó, không gian nghệ thuật cũng chỉ được thể hiện một cách rời rạc, đơn lẻ và
thiếu một hệ thống hoàn chỉnh.
2.4. Hình tượng thời gian
- Đầu tiên phải kể đến công trình Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt
thời gian hiện tại, chủ trương sống cho trọn vẹn cái “giây phút này” [42, 14]. Ba
là,“thời gian vĩnh hằng nằm trong thời gian chuyển động” [42, 15]. Bốn là “thời
gian đóng vai trò cột mốc cho một bước ngoặt của tâm thức, đánh dấu sự đổi khác
giữa sau và trước” [42, 15]. Cuối cùng thời gian trong thơ thiền “thường là mùa
thu, ban đêm (với trăng sáng, gió trong và hơi đêm mát lạnh). Đó là thời điểm của
sự hòa điệu giữa con người và vạn vật, vũ trụ” [42, 15]. Chuyên đề giúp người đọc
phần nào nắm rõ những đặc trưng cơ bản của vấn đề thời gian trong thơ thiền Lý Trần. Vấn đề được tác giả trình bày dưới dạng những luận điểm cơ bản cùng với các
dẫn chứng tiêu biểu. Trên cơ sở đó, có thể khám phá một vấn đề cụ thể ở một mức
độ sâu hơn.
- Ở cấp độ các bài báo, tạp chí, các tác giả cũng quan tâm đến vấn đề này, tuy
chưa sâu rộng và chuyên biệt mà chỉ là các hiện tượng riêng biệt, đơn lẻ.
Bài viết “Về diễn tiến của thơ trữ tình đời Trần” của tác giả Nguyễn Phạm
Hùng (Tạp chí Văn học, số 4, năm 1983), thời gian cũng được đề cập đến qua một
số phương diện như: Ở thời thịnh Trần là “những cảm xúc thơ về một quá khứ vô
cùng vinh quang và đầy chiến thắng” [17, 166]; “Cảm xúc trữ tình của các thi sĩ
cùng gặp nhau trong sự hồi tưởng lại những chiến công của cha ông trên sông
Bạch Đằng” [17, 166]; thời vãn Trần thì “thời gian được phản ánh trong thơ co
giãn theo tâm trạng con người. Ngày vui thường qua nhanh mà nỗi buồn sao đằng
đẵng” [17, 170]; Trong thơ Phạm Nhân Khanh, Trần Nguyên Đán, thời gian “buồn
bã, nặng nề như cuộc đời vô vị trôi đi” [17, 170]; Trong thơ Nguyễn Tử Thành thì
“nghe tiếng thời gian đang tan theo những giọt mưa đêm xuân trong một sự nuối
tiếc đến tuyệt vọng” [17, 171].
Trong bài viết Huyền Quang và những trang đời nhiều huyền thoại, những
vần thơ nhiều hàm nghĩa (Tạp chí Văn học, số 3, năm 1994), tác giả Trần Thị Băng
Thanh, cũng đã đề cập đến kiểu thời gian tồn tại trong tác phẩm Huyền Quang. Đó
là kiểu thời gian chất chứa nhiều tâm sự trễ nãi, buồn chán. Tất nhiên thơ ông có
niềm vui những nỗi buồn vẫn là cái đọng lại sâu sắc hơn cả. Trong nỗi cô đơn ngập
tràn, nhà thơ đã “phó mặc cho ngày tháng cứ trôi đi chậm chạp còn con người thì
và Thơ văn Lý - Trần, tập II (1988) của Viện Văn học, NXB Khoa học xã hội, HN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn cũng chính là mục đích đề tài cần hướng đến.
Đó chính là tìm hiểu “giá trị nhân sinh” của thơ thiền Lý - Trần được gửi gắm qua
phượng diện hình tượng thơ (xét từ phương diện hình tượng). Như vậy, để làm nổi
bật trọng tâm của đề tài này, người viết phải đi sâu khảo sát vào phương diện hình
tượng để tìm thấy đặc trưng riêng của thế giới nghệ thuật trong thơ thiền Lý - Trần.
Từ đặc trưng thế giới nghệ thuật này, người viết rút ra được quan niệm nhân sinh
của triết lý Phật giáo Thiền tông đã chi phối và ảnh hưởng thế nào đến cách cảm
nhận về thế giới của con người thời đại. Trong khả năng có thể, người viết chỉ ra ý
nghĩa tích cực của quan niệm nhân sinh ấy đến cuộc sống của con người như là một
bức thông điệp màu xanh mà các nhà thơ thiền để lại cho mai hậu.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa vào những yêu cầu được vạch ra phía trên, người viết sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu sau để thực hiện đề tài:
4.1. Phương pháp tập hợp, khảo sát tư liệu
Thơ thiền Lý - Trần hầu hết được sáng tác bằng chữ Hán và viết theo thể thơ
Đường luật (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt hoặc ngũ ngôn tứ tuyệt), một số ít
được viết theo thể thơ cổ phong hoặc bốn chữ. Do sử dụng loại văn tự và thể thơ cũ
nên thơ thiền khá xa lạ với những người ít hiểu biết hoặc không hiểu biết về Hán
học. Vì vậy, có không ít tác giả tham gia dịch nghĩa và dịch thơ cho thơ thiền, tuy
nhiên, chỉ tinh thông Hán học sẽ vẫn chưa đủ nếu không am hiểu Thiền học và điều
tất yếu dẫn đến là xuất hiện những bản dịch không tương đồng nhau. Để thực hiện
đề tài, người viết sử dụng phương pháp này tiến hành trên 192 bài thơ thiền trong
hai tập đầu của tổng tập Thơ văn Lý - Trần. Sau đó, tiến hành khảo sát trên từng bài
thơ, tập hợp và bước đầu thống kê, phân loại chúng dựa vào bốn phương diện: con
người, thiên nhiên, không gian, thời gian.
4.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Nhằm làm nổi bật những vấn đề xoay quanh phương diện hình tượng, người
nhau trong quá trình trình bày. Tất cả đều nhằm mục đích giải quyết tốt nhất những
yêu cầu, mục đích mà đề tài đã đặt ra.
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
5.1. Chọn phạm vi tham chiếu là phương diện hình tượng, luận văn đã xác lập nên
một hệ thống hình tượng đầy đủ và chuyên sâu, bổ sung thêm vào bức tranh toàn
cảnh thế giới nghệ thuật của thơ thiền Lý - Trần mà trước đó các công trình nghiên
cứu đã đặt những viên đá nền tảng. Đặc biệt, ở hình tượng thiên nhiên, luận văn đã
đi theo hướng riêng, không phân chia hai xu hướng phổ biến là thiên nhiên mang ý
nghĩa trực tiếp và thiên nhiên mang tính chất biểu tượng mà khái quát những đặc
trưng nghệ thuật thành những luận điểm rõ ràng chứ không đi vào phân tích, cảm
nhận từng tác phẩm rời rạc, lẻ tẻ như các công trình đi trước. Đóng góp này hi vọng
đem đến ít nhiều cảm nhận mới mẻ, thú vị cho người đọc.
5.2. Xuất phát từ quan niệm, cách nhìn nhận về cuộc sống (quan niệm nhân sinh)
mà con người trong thơ thiền có những cảm quan nghệ thuật rất riêng, không giống
với bất kì một cảm quan nghệ thuật nào của các tác giả ở những bộ phận thơ khác.
Thông qua đặc trưng của thế giới nghệ thuật này, luận văn truyền tải những ý niệm
về cuộc đời, về kiếp nhân sinh của các bậc tiền nhân theo quan điểm của triết học
Phật giáo Thiền tông qua mỗi hình tượng. Đồng thời, luận văn cũng khẳng định giá
trị tích cực của quan niệm nhân sinh ấy trong việc hướng con người đến cuộc sống
lạc quan, tốt đẹp (giá trị nhân sinh).
5.3. Tiếp cận phương diện hình tượng trên tiêu chí về mối quan hệ giữa văn học và
đời sống (giá trị nhân sinh) là hướng đi khá mới của luận văn, không trùng khớp với
các tiêu chí tiếp cận hình tượng mà các nhà nghiên cứu đi trước đã vạch ra. Với
đóng góp này, hi vọng có thể phát hiện thêm vẻ đẹp phong phú của thế giới nghệ
thuật thơ thiền Lý – Trần và đi đến được chiều sâu cao quí về mặt nội dung của bộ
phận văn học ấy.
tại trọn vẹn. Trong quá trình triển khai phân tích các hình tượng không gian, thời
gian nêu trên, người viết cũng đã rút ra ý nghĩa nội dung tư tưởng nhằm vào thể
hiện mục đích trọng tâm của đề tài.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. BỐI CẢNH VĂN HÓA - LỊCH SỬ THỜI ĐẠI LÝ – TRẦN
Văn học bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống. Văn học không gì khác hơn là cái
nhìn thẩm mỹ, là hình tượng thẩm mỹ về cuộc sống, con người nói khái quát hơn là
thời đại. Hiện thực cuộc sống có được phản ảnh một cách chân thực hay không, có
được thăng hoa hay không là nhờ vào tài năng và tâm huyết của người nghệ sĩ. Một
điều hiển nhiên là có hiểu những chất liệu tạo nên văn thơ mới có thể hiểu được văn
thơ. Thơ văn Lý – Trần không nằm ngoài quy luật ấy. Vì thế, trước khi đi vào nội
dung chính của đề tài, thiết nghĩ không thể không đề cập đến bối cảnh lịch sử - xã
hội của thời đại như là nền tảng sinh thành nên văn học của thời đại ấy.
1.1.1. Khái niệm thời đại Lý - Trần
Nhắc đến khái niệm “thời đại”, chúng ta nghĩ ngay đến một khoảng thời gian
tương đối dài, gồm một, hai hay nhiều triều đại (thời phong kiến), được tạo nên bởi
sự kết hợp cùng một lúc của nhiều yếu tố. Tuy nhiên, đó phải là sự kết hợp chặt chẽ,
sâu sắc và hữu cơ với nhau để tạo nên một nét chung làm nền tảng xuyên suốt cả
thời đại ấy.
Hơn một ngàn năm nô lệ phong kiến phương Bắc (111 TCN - 938 SCN), với ý
chí ngoan cường, bền bỉ đấu tranh, với ý thức độc lập, tự chủ, hễ có cơ hội là dân
tộc ta vùng dậy đấu tranh, đánh đuổi kẻ thù, giành lại nền độc lập, tự chủ dù còn
ngắn ngủi. Phát huy truyền thống đó, mùa đông năm 938, bằng mưu lược tài ba,
Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, đưa nước ta bước
sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự chủ. Từ cái mốc lịch sử này, đất
nước ta trải qua các triều đại: Ngô (939 - 967); Đinh (968 - 980); Tiền Lê (980 1009); Lý (1009 - 1225); Trần (1225 - 1400); Hồ (1400 - 1407) và mấy năm đầu
của cuộc kháng chiến chống giặc Minh vào thời Hậu Trần (1407 - 1418). Như vậy,
Con người sống trong thời đại này cũng là những con người đầy hào khí. Đó
là những con người tự tin, phấn khởi, hừng hực khí thế và giàu lòng yêu nước. Hơn
nữa, cũng có những con người hết sức đặc biệt, làm vua mà từ bỏ ngai vàng dễ dàng
như trút bỏ chiếc giày rách, tin dùng tuyệt đối con của kẻ từng thù nghịch với mình,
coi ngôi vua như là của chung anh em thân tộc cùng nhau cai trị; làm tôi lấy trung
nghĩa làm đầu, gạt hiềm khích riêng qua một bên, cùng nhau đoàn kết chăm lo cho
vận mệnh đất nước; làm nhà sư mà phóng khoáng, chê bai lối tu hành khổ hạnh,
giễu cợt những kẻ cầu Phật cầu thiền, chủ ý không thích đi theo lối mòn của Như
Lai; làm anh hùng tài giỏi lãnh đạo nhân dân nhiều lần đánh tan bọn giặc xâm lược
lớn mạnh hung hăng mà cả thế giới khiếp sợ… Nhiều nhà sư đã tham gia vào công
việc triều chính, kề vai sát cánh với nhân dân trong cuộc đấu tranh chống ngoại
xâm, giành chủ quyền dân tộc, xây dựng xã hội đầy tình thương và lòng từ bi. Đó là
một minh chứng hết sức vững chắc cho thấy tinh thần nhập cuộc, “hòa quang đồng
trần” (hòa cùng ánh sáng lẫn cùng bụi bặm) của các thiền sư thời Lý - Trần. Thời
đại đó đã sản sinh ra những con người có nhân cách cao đẹp, đáng kính phục: nhân
thứ, anh hùng, dũng liệt, khoan dung, rộng mở… Hình ảnh những con người đó đã
phản ánh đúng và đầy đủ diện mạo tinh thần của thời đại.
Nguyễn Công Lý trong công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần - Diện
mạo và đặc điểm đã rút ra một số đặc điểm cơ bản của thời đại này như sau: “Một,
thời đại Lý - Trần là thời đại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thống nhất cộng
đồng. Hai, thời đại Lý - Trần là thời đại phục hưng dân tộc và phát triển đất nước.
Ba, đây là thời đại khoan giản, an lạc, nhân thứ, rộng mở và dân chủ” [22, 61 70].
Nhìn chung, ở thời đại này, tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn
hoá đều có những thành tựu to lớn đáng khâm phục. Điều đáng nói hơn, chính thời
đại này đã tạo nên một khí thế hào hùng, một tinh thần tự tin, hăm hở và ý chí hết
sức mạnh mẽ. Có thể khẳng định rằng, đây là thời kì cực thịnh của tư tưởng Việt
Nam.
tu hành. Đó là tư tưởng dấn thân nhập cuộc, không xa rời chính sự, là quan niệm
sống “tùy tục” phóng khoáng. Tư tưởng đó giúp nhà tu hành không quay lưng lại
với thời cuộc mà còn tích cực tham gia vào công cuộc kháng chiến kiến quốc.
Nhiều nhà sư trở thành quốc sư, cố vấn chính trị cho vua, được đặc biệt ân sủng,
trọng thị. Có lúc, nhà sư còn được cử làm sứ giả, đại diện cho quốc thể để nghênh
tiếp sứ thần Trung Quốc. Do đó, tiếng nói của họ đối với đời sống chính trị, xã hội,
văn hóa có ý nghĩa rất lớn và cũng dễ hiểu tại sao nhiều hoàng thân quốc thích, giới
quí tộc, quan lại triều đình lại say mê và sùng bái đạo Phật đến như vậy. Đó là chưa
kể, ngay từ những buổi đầu, nhà chùa còn là nơi dạy chữ cho mọi người, nơi đầu
tiên có những nhà trí thức tinh thông Hán học, biết sáng tác thơ ca, sấm kệ. Từ đó,
có thể suy rộng ra, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, tinh thần hào phóng,
sảng khoái, rộng mở của thời đại; sự phát triển thịnh đạt của triều đại phong kiến
không thể không có sự tác động và ảnh hưởng của tư tưởng cứu khổ cứu nạn, từ bi
bác ái, bình đẳng khoan hòa của đạo Phật, mà trong đó các nhà sư là những sứ giả
tiêu biểu.
Tinh thần Phật giáo thời Lý - Trần ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn
hóa tinh thần của nhân dân lúc bấy giờ. Phật giáo đi đến đâu được nhân dân ủng hộ
đến đấy, chùa tháp tự viện mọc khắp nơi, khói hương nghi ngút bốn mùa, những
cuộc thuyết pháp giảng đạo của các danh sư luôn chật ních người tham dự, nhiều
thắng cảnh đẹp có sự hiện diện của chùa chiền, nhiều lễ hội dân gian gắn liền với
Phật giáo. Đặc biệt, đạo Phật là nguồn cảm hứng vô tận để dân gian thêu dệt nên
hàng loạt những truyện truyền kì, huyền thoại, truyền thuyết đậm màu sắc tín
ngưỡng tâm linh; nhiều bài ca dao về đề tài đạo Phật cũng xuất hiện trong thời kì
này… Nói như vậy để thấy được sức ảnh hưởng của đạo Phật đến đời sống văn hóa
tinh thần của nhân dân mạnh mẽ và sâu sắc đến mức nó đã trở thành máu thịt và
gắn liền với phong tục tập quán của dân tộc.
Trong thời Lý - Trần, nền mỹ thuật Việt Nam thấm đượm triết lý Phật giáo
Thiền tông (Chùa Một Cột, chùa Phật Tích, chùa Trăm Gian, tháp Báo Thiên, tháp