BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỒ HỮU ĐỨC
VỀ TRÀO LƯU "ÁNH SÁNG"
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
NỬA SAU THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
KHÓA 1997 - 2000
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2000
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả học tập tại lớp Cao học ngành Ngữ văn chuyên ngành Văn
học Việt Nam khoa 6A (1997-2000) trường Đại học Sư phạm thành phổ Hồ Chí Minh và
quá trình nghiên cứu của bản thân.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kiên
Giang và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi trống suốt quá trình học tập.
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn quý thầy cô giáo thuộc
Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học và quý thầy cô giáo thuộc Khoa Ngữ văn
trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ cũng như
tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập cho đến lúc hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư Tiến sĩ Mai Quốc
Liên đã tận tình hướng dẫn suốt quá trình hình thành và hoàn chỉnh luận văn này.
Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng, nhưng do khả năng và kinh nghiệm có hạn, vấn
đề trình bày trong luận văn tượng đối mới và khá rộng nên chắc chắn không tránh khỏi
4
Chương 2: VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX- ĐẦU THẾ KỶ
XX VÀ SỰ HÌNH THÀNH TRÀO LƯU ÁNH SÁNG .......................................33
2.1.CÁC KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC .................................................................... 33
2.1.1.KHUYNH HƯỚNG YÊU NƯỚC ..................................................................... 34
2.1.2.KHUYNH HƯỚNG TỐ CÁO HIỆN THỰC .................................................... 34
2.1.3.KHUYNH HƯỚNG HƯỞNG LẠC, THOÁT LY .............................................. 35
2.1.4.KHUYNH HƯỚNG NÔ DỊCH ........................................................................ 35
2.2.SỰ HÌNH THÀNH TRÀO LƯU ÁNH SÁNG ...................................................... 37
2.3.MẠCH YÊU NƯỚC THEO TINH THẦN CANH TÂN TRONG SỰ NGHỆP VÀ
SÁNG TÁC ................................................................................................................... 48
2.3.1.ĐẶNG HUY TRỨ(1825 - 1874) ....................................................................... 49
2.3.2.PHẠM PHÚ THỨ (1821 - 1882) ..................................................................... 55
2.3.3.NGUYỄN TRƯỜNG TỘ (1830 - 1871) ........................................................... 59
2.3.4.NGUYỄN LỘ TRẠCH (1853 - 1898) ............................................................... 67
2.4.TIỂU KẾT............................................................................................................... 70
Chương 3: TRÀO LƯU ÁNH SÁNG TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC VIỆT
NAM ........................................................................................................................72
3.1.VỀ PHƯƠNG PHÁP SÁNG TÁC ......................................................................... 73
3.2.Ý NGHĨA CỦA TRÀO LƯU ÁNH SÁNG Ở VIỆT NAM..................................... 87
3.3.TẾU KẾT ................................................................................................................ 92
Kết luận ...................................................................................................................94
Thư mục tham khảo ...............................................................................................98
5
Thực ra, ở đất nước ta không phải phải đợi đến những năm của cuối thập niên 80
của thế kỷ XX, vấn đề đổi mới mới được đặt ra. Nhìn lại quá khứ, ngay từ những năm
giữa thế kỷ XIX, vấn đề đổi mới hay nói cách khác, vấn đề canh tân (còn gọi là Duy tân,
cải cách) đã được nhiều trí thức, Nho học có, Tây học có đặt ra, hoặc trong các sáng tác
phẩm hoặc qua hành động thực tế. Rất tiếc là những vấn đề cách tân của các vị tiền bối
đó lại không được quan tâm thích đáng từ phía nhà nước. Với những ý tưởng canh tân
như vậy họ còn bị ngăn trở, dè bỉu, thậm chí bị nghi ngờ hoặc bị thất sủng.
Theo Giáo sư Đinh Xuân Lâm, căn cứ vào những điều kiện của Việt Nam từ những
năm giữa thế kỷ XIX, có thể khẳng định rằng vào lúc đó đã có một yêu cầu đổi mới ồ
nước ta 1. Vấn đề đổi mới để phát triển quốc gia, như vậy, đã xuất hiện như một đòi hỏi
khách quan lịch sử, một xu hướng tất yếu của sự phát triển mặc dầu không được triều
đình phong kiến nhà Nguyễn ủng hộ. Cùng với xu hướng nhận thức ấy, chúng ta có thể
nghĩ tới một trào lưu văn học mới đã xuất hiện trong thời kỳ ấy. Trào lưu mà các tác gia
của nó là những nhà cải cách. Có thể gọi đó là trào lưu văn học yêu nước mang xu hướng
canh tân, hay có thể gọi là trào lưu văn học Khai sáng.
Dù không thành công, không được sự quan tâm của chính quyền phong kiến triều
Nguyễn, các tác phẩm thơ, văn của các nhà cải cách này đã cất lên tiếng nói góp phần
không nhỏ trong công cuộc vận động đổi mói thời kỳ này cũng như đã đánh dấu một sự
chuyển biến lớn về nhận thức của tầng lớp trí thức yêu nước mang tư tưởng canh tân Việt
Nam cuối thế kỷ.
Từ Đại hội VI đến nay, trong quá trình đất nước đang đi vào thời kỳ đổi mới, công
nghiệp hóa và hiện đại hoa, vãn học đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp chung, việc
tìm hiểu cội nguồn sâu xa của vấn đề đổi mới trong lịch sử cũng như việc tìm hiểu sự
xuất hiện của một trào lưu văn học mang tính đổi mới trong lịch sử văn học để rút ra
những bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dụậg chủ nghĩa xã hội cũng như để khẳng
định vai trò to lớn của văn học trong sự nghiệp đổi mới góp phần xây dựng một nền văn
hóa tiền tiến đậm đà bản sắc dân tộc hôm nay là vấn đề cần thiết.
1
2
Hải Ngọc Thái Nhân Hoa, Trúc Đường Phạm Phú Thứ với xu hướng canh tân, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, tr.6l.
8
của họ thỉnh thoảng cũng có những bài có giá trị, nhưng nói chung khuynh hướng không
rõ rệt 3 .
Có nhà nghiên cứu khi bàn về hiện tượng văn học này lại chỉ tập trung, điểm vào
một vài tác giả nổi bật kiểu như Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,
coi đó là những nhà cách tân thế kỷ XIX, những người có nhãn quan vượt trước thời đại
trên nhiều phương diện và cho rằng những sáng tác của các ông chỉ như là một mảng văn
học, một bộ phận nhỏ bên cạnh khuynh hưởng văn học yêu nước chống Pháp mà tuyệt
nhiên chưa có ý định dứt khoát định hình họ vào một dòng, một trào lưu hoặc một
khuynh hướng riêng, ngang bằng với bốn khuynh hướng đã được công luận thừa nhận ở
thời kỳ này 4.
Có thể nói, cho đến nay, các nhà nghiên cứu chưa có đủ điều kiện và thời gian để
tiếp cận và tổng hợp trong nhận định về một hiện tượng văn học kiểu này. Do đó, những
đánh giá và nhận định của họ về hiện tượng văn học này thật sự chưa thoa đáng về tính
khái quát khoa học. Các nhận đinh của họ chưa trả lời được các câu hỏi, kiểu như: Bên
cạnh nhu cầu bức bách về đổi mới đã xuất hiện như một đòi hỏi khách quan, một xu
hướng tất yếu của sự phát triển của xã hội Việt Nam thời cận đại, đã (hay chưa) xuất hiện
và tồn tại của một trào lưu văn học canh tân, cải cách (Khai sáng, Ánh sáng) và trào lưu
này đã ảnh hưởng đến mức nào đối với tiến trình văn học Việt Nam nói chung trong quá
khứ lẫn trong tương lai.
Trong luận văn này, do hạn chế về khuôn khổ luận án cũng như sự hạn hẹp của kiến
văn, người viết không có tham vọng trả lời trọn vẹn và rành rẽ về các vấn đề học thuật
lớn lao đó. Nhưng, với cách đặt vấn đề như đã nêu ồ trên, chúng tôi muốn tiến hành một
được công bố. Trong tình hình đổi mới hiện nay, gần đây, vấn đề này đã bước đầu được
quan tâm và đánh giá đúng mức. Tư liệu về một số nhân vật lịch sử, nhân vật văn học
mang tư tưởng canh tân-cải cách đã được đánh giá tương đối đúng mức và được công bố
trong các cuộc hội thảo khoa học hoặc trên các tạp chí chuyên ngành khá nhiều. Tuy
nhiên, tư liệu về một số tác giả cũng như về vấn đề canh tân đổi mới chỉ nằm rải rác trên
một số tạp chí chuyên ngành mà chưa được tập hợp thành những công trình nghiên cứu,
đặc biệt là các tài liệu về Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch. Ngoài
ra, do trình độ ngoại ngữ có hạn, người viết chỉ có thể tìm đọc các bản dịch (đã được
công bố). Do tính chất của luận văn, người viết chỉ được phép khai thác các tư liệu đã
được công bố hoặc đã được in thành những công trình nghiên cứu và xuất bản rộng rãi.
10
Những quy định ngặt nghèo này đã làm cho khâu tư liệu có những hạn chế hiển nhiên mà
người viết không thể vượt qua được.
5.BỐ CỤC LUẬN ÁN
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận án bao gồm 3 chương:
Chương một: Trào lưu Ánh sáng ở phương Tây và xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ
XII - đầu thế kỷ XX
Chương hai: Văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX và sự hình thành
trào lưu Ánh sáng
Chương ba: Trào lưu Ánh sáng trong tiến trình văn học Việt Nam
11
Chương 1: TRÀO LƯU ÁNH SÁNG Ở PHƯƠNG TÂY VÀ XÃ
HỘI VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX
nghĩa ẩn dụ của tò này, mà hiện nay đã trở thành một khái niệm mang tính lịch sử-cụ thể,
hàm nghĩa chống phong kiến và gắn với giai cấp tư sản trong thời điểm đang lên.
Ănghen viết:
Ngày nay chúng ta đêu biết rằng sự thống trị của lý tính ấy chẳng qua là sự thống
trị lý tưởng hóa của giai cấp tư sản; rằng công lý vĩnh cửu đã được thực hiện trong nền
tư pháp tư sản; rằng bình đẳng rút cục lại là bình đẳng tư sản trước pháp luật; rằng một
trong những quyền chủ yếu của con người đã được ban bố... là quyền sở hữu tư sản; rằng
Nhà nước hợp với lý tính, khế ước xã hội của Rútxô chỉ ra đời và chỉ có thể ra đời dưới
hình thức một nền cộng hòa tư sản. Những nhà như tư tưởng vĩ đại của thế kỷ XVIII,
cũng không hơn gì những tiền bối của họ, nghĩa là không thể vượt qua những giới hạn
mà thời đại riêng của họ quy định 5.
Thuật ngữ Ánh sáng được sử dụng trong luận văn này mang ý nghĩa như vừa trình
bày. Tuy nhiên, ở phương Đông nói chung, ở Việt Nam nói riêng, những trí thức mang tư
tưởng Ánh sáng, tức những nhà hoạt động trong phong trào Ánh sáng (hay còn được gọi
là những nhà Ánh sáng hoặc Khai sáng) như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn
Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,... không chỉ hoàn toàn hạn chế ở ham muốn lấy ánh sáng
của tư tường ánh sáng phương Tây để xua tan bóng tối của tư tưởng phong kiến bảo thủ,
lạc hậu. Điều đó có nghía là không chỉ ở sự ham muốn nắm được các thành tựu khoa họckỹ thuật của nền văn minh phương Tây để canh tân đất nước mà còn ồ tinh thần chống
phong kiến và nhất là xu hướng chống đế quốc của mình.
5
F. Ănghen, chống Đuyrinh, Nxb Sự Thật, Hà Nội, xuất bản lần thứ 2, tr.29.
13
1.1.2.GIỚI THỆU TRÀO LƯU ÁNH SÁNG Ở PHÁP
1.1.2.1.BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Bên cạnh sự đối lập phong kiến và giai cấp tư sản đítng ra làm đại biểu cho toàn bộ
xã hội còn lại, còn cổ sự đối lập chung giữa người bốc lột, giữa những người giàu lười
biếng và những người lao động nghèo. Chính tình trạng đó đã khiến các đại biểu của
giai cấp tư sản có thể tự nhận không phải là đại biểu của một giai cấp riêng biệt nào cả
mà là đại biểu của toàn thể nhân loại đau khổ 6.
Tóm lại, chính tình hình kinh tế-xã hội, sự phân hóa các giai tầng xã hội và sự lung
lay về lí tưởng cũng như khát vọng hình thành một xã hội công bằng và dân chủ hơn ở
Pháp vào thế kỷ XVIII đã là tiền đề cho sự xuất hiện của trào lưu tư tưởng Ánh sáng ở
Pháp nói riêng và ở phương Tây nói chung.
1.1.2.2.TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG ÁNH SÁNG Ở PHÁP
Vào thế kỷ XVIII, các nhà Khai sáng Pháp đã chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tư sản
về mạt tư tường. Họ là những người báo trước một cuộc cách mạng ứong đó giai cấp tư
sản có sứ mệnh giữ vai trò người lãnh đạo phong trào quần chúng, Trào lưu tư tưởng Ánh
sáng ở Pháp bao gồm nhiều khuynh hướng với những đại biểu ưu tú. Chẳng hạn:
* Giăng Mêliê (1664-1729): là một mục sư nông thôn, gần gũi, hiểu và thông cảm
với cuộc sống khổ cực cũng như những nguyện vọng của họ. Trong tác phẩm Di chúc
ông chủ trương chống nhà nước phong kiến, tôn giáo và cả chế độ tư hữu, nguồn gốc của
mọi bất bình đẳng trong xã hội. Ông vẽ lên hình ánh một xã hội lý tương được xây dựng
trên cơ sở của chế độ sở hữu công cộng, mọi người đều có nghĩa vụ lao động. Tinh thần
dũng cảm, ý chí chiến đấu của ông phản ánh tư tưởng, tình cảm của nhân dân Pháp, đặc
biệt là của các tầng lớp dưới trong xã hội, của dân nghèo nông thôn và thành thị muốn
đứng dậy đấu tranh chống áp bức. Do đó, ông có ảnh hưởng lớn lao trong tư tưởng của
các nhà tư tưởng trào lưu Ánh sáng cũng như trong trào lưu tư tưởng cách mạng, dân chủ
thế kỷ XVIII.
F. Ănghen, Chủ nghĩa xã hội phát triển từ không tưởng đến khoa học. Trong Mác-Ănghen, Tuyển tập, tập II,
Nxb Sự thật, 1992, tr. 183-184
6
15
16
sở của sự bất bình đẳng, Khế ước xã hội, Emilơ,... Giá trị và ảnh hưởng của những tác
phẩm đó không phải chỉ thu hẹp trong phạm vi một áng văn hay, một nghệ thuật điêu
luyện mà là ở quan điểm xã hội và chính trị của ông. Rútxô đã nói lên quyền lợi và
nguyện vọng của đại đa số quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân và tiểu tư sản. Ông
lên án chế độ phong kiến chuyên chế cũng như phê phán chế độ tư hữu và những quan hệ
do chế độ đó sinh ra đồng thời đòi hỏi quyền bình đẳng cho mọi người. Điểm nổi bật
trong quan điểm chính trị của ông là chủ trương thiết lập một nhà nước cộng hoà, trong
đó bảo đảm hoàn toàn chủ quyền của nhân dân, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng và tư
hữu tài sản.
Các nhà tư tưởng Pháp, dù có nhiều quan điểm khác nhau, phản ánh những quyền
lợi của giai cấp khác nhau, nhưng trong thời kỳ khủng hoảng của chế độ phong kiến, họ
đều chĩa mũi nhọn vào chính quyền quân chủ chuyên chế, nhà thờ và đòi hỏi thay thế
bằng một chế độ xã hội mới. Cuộc đấu tranh đó lan tràn trên mọi lĩnh vực nhằm mở ra
một chân trời mới trong lịch sử loài người. Chính vì thế mà trào lưu tư tưởng tiến bộ và
cách mạng đó đã vượt ra khỏi nước Pháp, có ảnh hưởng khắp châu Âu và làm cho thế kỷ
XVIII thành ra chủ yếu là thế kỷ của nước Pháp7.
1.1.3.PHONG TRÀO TIỀN TÂN THƯ Ở TRUNG HOA VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA
NÓ VỚI TRÀO LƯU ÁNH SÁNG.
Trào lưu Ánh sáng ở Pháp không chỉ lan truyền khắp châu Âu khiến thế kỷ xvni ở
phương Tây được gọi là thế kỷ Ánh sáng, thế kỷ Pháp, thế kỷ Cách mạng mà còn có
nhiều ảnh hường đến các nước phương Đông, chủ yếu là đối với Trung Hoa, Nhật Bản,...
Vào thế kỷ XVIII-XIX, khi châu Âu và Bắc Mỹ đã tiến hành các cuộc Cách mạng Tư sản
thắng lợi, khoa học kỹ thuật của châu Âu đã đạt trình độ tiên tiến lúc bấy giờ, khi tư bản
Âu-Mỹ đang gây các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa để tìm kiếm thị trường, thì
phương Đông nói chung, vẫn đang nằm dưới vòng kiềm toa của quan hệ sản xuất phong
kiến và, đĩ nhiên, vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, trì trệ.
F. Ănghen, Chủ nghĩa xã hội phát triển từ không tưởng đến khoa học, trong Mác-Ăngghen, Tuyển tập, tập II, Nxb
nhập vào Trung Hoa qua sách báo. Những tài liệu này giới thiệu tư tưởng, văn minh,
khoa học-kỹ thuật mới và chúng có chung tên gọi là Tân thư, Tân văn, Tân báo 8 . Các trí
thức tiến bộ hướng về phương Tây, như là một đích của nhận thức trong sự vận động cứu
Nguyễn Văn Hồng, Tân thư, Tân học thời đại và nhận thức lịch sử, trong Đại học quốc gia Hà Nội, Tân thư và xã
hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 49
8
18
nguy dân tộc. Chính họ đã là những nhà tư tưởng và cách mạng đầy nhiệt huyết cho trào
lưu dân chủ và duy tân của Trung Hoa thời kỳ này. Trước nhất phải kể đến Lâm Tắc Từ
(1785-1856), người muốn nhanh chóng đưa vào Trung Hoa những kiên thức mới ve khoa
học kỹ thuật. Ông đã bỏ ra rất nhiều thời gian và tiền của cho việc mua các tài liệu nước
ngoài. Ông là người chủ trương chiến tranh chống Anh, bài ngoại một cách nghiêm túc.
Nhân chuyến được triều đình phái đi Quảng Châu chống nạn thuốc phiện, đã tập hợp
người phiên dịch các loại sách Tây. Năm 1841 đã sưu tập dịch sách địa lí, và biên tập
thành sách Tứ châu chí. Đầy là bộ sách giới thiệu địa lí thế giới một cách có hệ thống.
Ông cũng là người đã khích lệ Ngụy Nguyên biên soạn cuốn sách Hải quốc đồ chí gồm
50 cuồn có tới 57 vạn chữ, sau đó bổ sung dần đến năm 1852 thành 100 cuốn 9. Hoặc
một lãnh tụ nông dân khác, Hồng Tú Toàn (1814-1860), nhà lãnh đạo cuộc cách mạng
Thái bình thiên quốc, mong muốn tìm một công thức khả đĩ kết hợp quan niệm tự do
thuần phác nông dân Trung Hoa với tư tưởng bình đẳng trong giáo lý Cơ đốc. Bằng các
hoạt động cụ thể của mình, ông và các đồng chí của ông đã tấn công một cách có kết quả
vào các tư tưởng Nho giáo lạc hậu và những chỗ dựa tinh thần khác của chế độ quân chủ
chuyên chế. Đến cuối thế kỷ XIX, phong trào duy tân ở Trung-Hoa mới thật sự có những
chuyển biến về chất. Tân thư xuất hiện nhiều, giới thiệu khá đầy đủ và khá tường tận về
các mặt chính trị, kinh tế, xã hội các nước phương Tây. Những nhân vật nổi tiếng có đọc
Tân thư hoặc trực tiếp viết và dịch Tân thư từ đây xuất hiện khá nhiều. Như Phùng Quế
Họa. Khi người Nhật xuất hiện, ở Trung Hoa lại nổi lên phong trào noi gương Nhật Bản,
học tập Tây Âu.
Trước áp lực của phong trào Duy tân, phái thủ cựu trong triều đình buộc phải
nhượng bộ. Năm 1898, được Khang Hữu Vi làm cố vấn, hoàng đế Quang Tự ra sắc lệnh
biến pháp, chủ trương mở trường học mới không chỉ dạy Tứ thư Ngũ kinh mà còn dạy cả
các môn khoa học, văn học và kỹ thuật Tây Âu; xây dựng đường xe lửa, tổ chức quân đội
theo kiểu Tây Âu. Biến pháp chỉ kéo dài trong 100 ngày (Bách nhật duy tân 11-06-1898
đến 21-09-1898), nhưng văn hóa, tư tưởng phương Tây, đặc biệt là tư tưởng của trào kĩu
Anh sáng phương Tây vẫn tiếp tục du nhập vào Trung Hoa. Nhiều trí thức đã chống lại
văn minh truyền thống, tiếp thu tư tưởng-khoa học phương Tây và xuất ngoại, du học ở
20
Mỹ, Anh, Nga, Nhật,... góp phần tạo nên luồng gió mới canh tân đất nước vào đầu thế kỷ
XX 10 .
Những cuộc vận động ấy, không chỉ có tác dụng thiết thực trong nội bộ xã hội
Trung Hoa mà còn tạo nên tiếng vang lớn cho các quốc gia láng giềng khác, trong đó có
Việt Nam. Tân thư, Tân văn, Tân báo của Trung Hoa bằng mọi con đường đã cập bến
được ở Việt Nam và nhanh chóng trở thành kim chỉ nam hành động cho các nhà nho yêu
nước. Và chính chúng đã góp phần quan trọng trong việc tạo nên một trào lưu cách mạng
dân chủ tư sản sau này ở Việt Nam.
1.2.VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX
1.2.1.BỐI CẢNH LỊCH SỬXÃ HỘI VIỆT NAM VÀ SỰ PHÂN HÓA CÁC TẦNG
LỚP TRONG XÃ HỘI
1.2.1.1.Trong hoàn cảnh xã hội nước ta nửa sau thế kỷ XIX, nhiều sự kiện quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong, suy thịnh của đất nước Việt Nam. Sự kiện
trung tâm và nổi bật hơn cả là sự xâm lược của thực dãn Pháp và cuộc chiến đấu chống
xâm lược của nhân dân ta. Sự kiện này xuyên suốt toàn giai đoạn, chi phối mọi sự kiện
khác, và thu hút mối quan tâm của tất cả mọi thành viên trong xã hội.
tiến công Gia Định. Tháng 024859, chúng chiếm thành Gia Định rồi lần lượt chiếm 3 tỉnh
miền Đông và 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Sau khi toàn bộ Nam Kỳ rơi vào tay giặc, chúng
bắt đầu đánh ra Bắc Kỳ, rồi đánh Trung Kỳ. Thắng lợi của thực dân Pháp đánh dấu bằng
những hàng ước của triều đình Huế ký kết với chúng: Hàng ước năm 1862 nhường 3 tỉnh
Biên Hoa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lòn cho thực dân Pháp; Điều ước và
Thương ước năm 1874 nhường toàn bộ Nam Kỳ cho thực dân Pháp; hai Hàng ước năm
1883 và 1884 thì công nhận nền đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam.
Trước cảnh nước mất nhà tan, dân tộc ta đã tiến hành một cuộc chiến đấu quyết liệt
chống kẻ thù và chế độ thống trị thối nát nhằm bảo vệ quyền sống, quyền tự do dân chủ
và độc lập của dân tộc. Nhiều tấm gương kiên trung bất khuất, chiến đấu chống kẻ thù
của dân ta ngời sáng trên trang sử vàng dân tộc.
Giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối yếu ớt, nhưng càng về sau, dần từng
bước, đã thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp. Ngay trong triều và cả ngoài các địa
phương, bộ phận đầu não của Nhà nước phong kiến ngay từ đầu đã chia làm hai phái sát
phạt nhau: chủ hòa (chủ trương giữ thế thủ, kéo dài tình trạng giằng co) và chủ chiến
11
Điều 2 và 6 của hiệp ước Versailles, ngày 18-11-1787.
22
(gồm những người giàu lòng yêu nước nhưng mang năng tư tưởng bài ngoại). Ngoài ra,
còn một bộ phận lưng chừng, do dự mà tiêu biểu là Tự Đức; trong lời phê một bản tấu
bàn về việc nên đánh hay nên hòa với Pháp, ông ta viết: Nếu chống lại với người Pháp là
một việc khó, thì ký hòa ước với họ lại là việc khó gấp trăm nữa!
Dù sao, nhìn chung, phải nói là trong giai đoạn đầu, tâm sức của triều đình cũng còn
tập trung cho việc chống Pháp. Mũi dùi đả kích trong xã hội cũng như trong văn học ở
giai đoạn đầu là tập trung vào thực dân Pháp mà chưa đả động đến triều đình nhà
Nguyễn. Trong khi Nam Kỳ dồn sức chống ngoại xâm, thì ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, bọn
rộng giao thương, buôn bán. Từ năm 1822, đã có 9 lần quan hệ giao thương quốc tế được
đặt ra, nhưng đều bị triều đình Huế khước từ.
Trên thế giới lúc này liên tiếp diễn ra các biến động lớn, tác động ít nhiều đến nhận
thức của những nhà Nho học lẫn Tân học Việt Nam. Trước hết là ở Trung Hoa, ngay từ
đầu thế kỷ XIX, chính quyền phong kiến Mãn Thanh thi hành chính sách bế quan tỏa
cảng với nhiều quy định cứng rắn. Nhưng sau đó, với Hiệp ước Nam Kinh 1842, Trung
Hoa chấp nhận mở cửa, tự do mậu dịch giao thương với nước ngoài. Cùng thời gian đó,
tại Nhật Bản, ban đầu chính quyền vẫn thực hiện chính sách đóng cửa nhưng dân chúng
vẫn tìm cách giao thương với các tàu buôn nước ngoài. Năm 1854, Hoa ước hữu nghị và
thương mãi Nhật-Mỹ được ký kết tuy vẫn bị phe bảo thủ chống đối. Mãi đến năm 1868,
Minh. Tri Thiên hoàng lên ngôi và thi hành chính sách mở cửa tiếp thu khoa học kỹ thuật
phương Tây đưa Nhật Bản đi lên, mở ra một thời kỳ mới phát triển mạnh mẽ về kinh tếxã hội.
Như vậy, có thể nói, tư bản Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam vào đúng lúc chế độ
phong kiến Việt Nam đang lún sâu vào con đường khủng hoảng, suy vong trầm trọng, về
tình hình xã hội lúc bấy giờ, chính sách khắc nghiệt và sai lầm của triều đình nhà Nguyễn
về kinh tế-tài chính đã làm cho nông nghiệp trong nước tiêu điều và xơ xác. Nông nghiệp
sa sút kéo theo sự suy thoái rõ rệt của các ngành nghề thủ công truyền thống trong nhân
dân. Còn công nghiệp thì với các quy định ngặt nghèo cũng ngày càng lụi tàn. Thương
nghiệp trong nước và nước ngoài sút kém rõ rệt. Một số cửa cảng trước kia buôn bán
24
phồn thịnh, nay trở nên vắng vẻ. Dựa trên một nền kinh tế sa sút về mọi mặt như vậy,
đương nhiên nền tài chính quốc gia ngày càng thêm kiệt quệ.
Trong hoàn cảnh đó, mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến thống trị với nhân dân cả
nước - chủ yếu là nông dân - đã trở nên gay gắt và được bộc lộ ra ngoài một cách kịch liệt
bằng hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân xuyên suốt các đời vua. Để bảo vệ đặc
quyền đặc lợi, phong kiến nhà Nguyễn đã dồn mọi lực lượng quân sự trong tay vào việc
bóp chết các cuộc khởi nghĩa nông dân. Chính trong quá trình tiểu phỉ đó, chúng vừa làm