BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
--------------------------------
Trần Phạm Thùy Trang
VỊ THẾ CỦA THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TRONG VÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN ĐỊA LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
TP.HỒ CHÍ MINH - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
--------------------------------
Trần Phạm Thùy Trang
VỊ THẾ CỦA THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TRONG VÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN ĐỊA LÝ
Chuyên ngành Địa lý học (trừ ĐLTN)
Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2012
Tác giả
Trần Phạm Thùy Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐNA
Đông Nam Á
VKTTĐPN
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TP
Thành phố
KCN
Khu công nghiệp
TTCN
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ
Bảng 2.1: Một số vùng thành phố của Châu Á [28, tr.249] ......................................38
Bảng 2.2: Số lượng và mật độ phân bố các đô thị trong Vùng thành phố Hồ Chí
Minh [52]...................................................................................................................59
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
(VKTTĐPN) .............................................................................................................69
Bảng2.4: Nhiệt độ không khí trong 1 năm của TP. Biên Hòa [54]...........................72
Bảng 3.1: SWOT về điều kiện tự nhiên của thành phố Biên Hòa ............................87
Bảng 3.2: SWOT về hiện trạng kinh tế - xã hội và môi trường của thành phố Biên
Hòa ............................................................................................................................92
Bảng 3.3: Chiến lược WO (Weaks - Opportunities) .................................................99
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện tốc độ đô thị hóa của TP.HCM so với Hà Nội và cả
nước giai đoạn 1995 – 2010. .....................................................................................39
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện nhiệt độ và lượng mưa của TP.HCM năm 2005. ......44
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ thể hiện dân số và mật độ dân số các địa phương trong Vùng
TP.HCM năm 2010. (Phân tích số liệu từ nguồn Tổng cục thống kê 2011 [48]) ...47
Biểu đồ 2.4: Biểu đồ thể hiện thu nhập bình quân và tăng trưởng bình quân của các
địa phương trong Vùng TP.HCM năm 2001 và 2005 (giá thực tế) .........................49
Biểu đồ 2.5: Biểu đồ tăng trưởng GDP của vùng TP.HCM giai đoạn 2001 – 2005
(giá so sánh 1994) .....................................................................................................50
Biểu đồ 2.6: Biểu đồ cơ cấu GDP của vùng TP.HCM giai đoạn 2001 – 2005 (giá
thực tế).......................................................................................................................51
Biểu đồ 2.7: Biểu đồ GDP ngành công nghiệp của vùng TP.HCM và cả nước (giá
so sánh 1994) [52] .....................................................................................................51
Biểu đồ 2.8: Biểu đồ dân số thành thị và nông thôn TP.HCM 1995 – 2009 [48].....70
Biểu đồ 2.9: Biểu đồ cơ cấu kinh tế theo thành phần và theo ngành của TP.HCM
1.3.2/ Quy hoạch đô thị : .............................................................................29
1.3.3/ Quy hoạch vùng:................................................................................30
Tiểu kết chương 1: ..........................................................................................34
Chương 2 : VỊ THẾ CỦA THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TRONG VÙNG THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN ĐỊA LÝ. ......36
2.1/ Tổng quan về tổ chức lãnh thổ ở Việt Nam: ............................................36
2.2/ Phát triển vùng thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế:
.........................................................................................................................37
2.3/ Tổ chức không gian vùng thành phố Hồ Chí Minh: ................................43
2.3.1/ Thực trạng điều kiện tự nhiên của vùng thành phố Hồ Chí Minh: ...43
2.3.2/ Thực trạng kinh tế - xã hội của vùng thành phố Hồ Chí Minh: .......46
2.3.3/ Thực trạng hệ thống đô thị và cơ sở hạ tầng trong Vùng thành phố
Hồ Chí Minh: ...............................................................................................58
2.3.4/ Vị thế của Vùng thành phố Hồ Chí Minh trong khu vực quốc gia và
quốc tế: ........................................................................................................63
2.4/ Siêu đô thị thành phố Hồ Chí Minh,hạt nhân của vùng thành phố Hồ Chí
Minh: ...............................................................................................................70
2.5/ Cấu trúc không gian thành phố Biên Hòa:...............................................72
2.5.1/ Hiện trạng về đặc điểm tự nhiên của TP. Biên Hòa: .........................72
2.5.2/ Hiện trạng về đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Biên Hòa:...72
2.6/ Tiền đề phát triển vị thế TP.Biên Hòa: ....................................................73
2.6.1/ Xác định mối quan hệ nội tỉnh và nội vùng hình thành và phát triển
thành phố Biên Hòa: ....................................................................................73
2.6.2/ Tính chất đô thị:.................................................................................74
2.6.3/ Mục tiêu phát triển của thành phố Biên Hòa: ....................................74
2.7/ Vị thế của thành phố Biên Hòa trong Vùng thành phố Hồ Chí Minh từ
góc độ phân tích không gian địa lý: ................................................................75
2.7.1/ Thành phố Biên Hòa đang mở rộng đô thị để nâng tầm vị thế trong
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................120
PHẦN PHỤ LỤC ....................................................................................................124
Tên đề tài:
“Vị thế của thành phố Biên Hòa trong vùng thành phố Hồ Chí Minh từ
góc độ phân tích không gian địa lý”
PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài:
Sở hữu nhiều lợi thế mang tính chất “đất lành chim đậu”, là trung tâm kinh tế,
văn hóa, chính trị - xã hội của tỉnh Đồng Nai, TP.Biên Hòa có không ít những thuận
lợi trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội, như vị trí địa lý giáp với khu vực
kinh tế năng động nhất nước là TP.HCM, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa
dạng, địa hình cao và bằng phẳng, thổ nhưỡng tốt, khí hậu thuận hòa ít thiên tai…
Nhờ đó, TP.Biên Hòa đã thu hút dân cư tập trung đông với mật độ là 2.647
người/km2 (1/4/2009) [21], thuộc nhóm các thành phố có mật độ dân số cao thứ hai
cả nước, chỉ kém đô thị đặc biệt – thành phố trực thuộc trung ương là TP Hồ Chí
Minh với (3.419 người/km2) (năm 2009) [48]. Những thuận lợi về điều kiện tự
nhiên và KT - XH đã đưa TP.Biên Hòa trở thành một thành phố công nghiệp quan
trọng của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
Lớn hơn đô thị Biên Hòa về nhiều mặt, TP.HCM là một cực hút quan trọng
của cả nước và toàn bộ khu vực phía Nam. Quy mô và mức độ phát triển của
TP.HCM thực sự đã vượt ra khỏi phạm vi không gian địa lý của thành phố và tác
động đến nhiều đô thị và các tỉnh lân cận. Chính điều này đã thôi thúc các nhà quy
hoạch đô thị phải xây dựng chiến lược quy hoạch đô thị mới mở rộng không gian
phát triển cho thành phố nhằm giải phóng sức ép về các vấn đề KT - XH của bản
thân TP.HCM, đồng thời tạo tiền đề để phát triển mối liên kết giữa TP.HCM và các
đô thị khác trong vùng, tạo cơ hội phát triển mới cho cả vùng liên tỉnh bao gồm lãnh
thổ của TP.HCM và 7 tỉnh lân cận có mối liên hệ phát triển KT - XH một cách mật
*
Hòa trong Vùng TP.HCM đang giảm so với một số đô thị trung tâm của tỉnh khác
trong Vùng? *, phải chăng là sức hút đô thị đang giảm dần và vị thế thành phố công
nghiệp cũng không còn huy hoàng như xưa nữa? Nhìn các đô thị xung quanh
TP.Biên Hòa, có thể thấy được TP.Vũng Tàu đã thay đổi diện mạo rất nhiều và
xứng đáng là thành phố du lịch biển và công nghiệp dầu khí, thị xã Thủ Dầu Một
của tỉnh Bình Dương tuy là thành phố trẻ nhưng đã thể hiện sự năng động, hiện đại
với các chính sách thu hút nhân lực và đầu tư có hiệu quả; trong khi đô thị láng
giềng Biên Hòa chưa thay đổi được nhiều và ngày càng kém thu hút hơn (tỉ lệ nhập
cư giảm, tốc độ tăng trưởng GDP giảm...). Sự chênh lệch này về lâu dài có làm
giảm vị thế của TP Biên Hòa trong tỉnh Đồng Nai và trong Vùng TP.HCM trong
tương lai không? Giải pháp cho vấn đề này không chỉ đơn giản là đẩy mạnh tăng
trưởng GDP bằng mọi cách để TP.Biên Hòa trở lại vị thế xưa, mà còn chú ý đến
vấn đề quy hoạch phát triển đô thị vì “tốc độ chẳng quan trọng nếu bạn đang đi lầm
đường” (Mahatma Gandhi); do đó, quy hoạch TP.Biên Hòa không chỉ nghiên cứu
để phát triển cho riêng Biên Hòa mà còn phải phù hợp với không gian quy hoạch
của Vùng TP.HCM đến năm 2030 và tầm nhìn 2050.
Mặt khác, Việt Nam nói chung và Vùng TP.HCM nói riêng, là những vùng
lãnh thổ mà Thế giới đã nhận định và cảnh báo là sẽ bị ảnh hưởng bởi hiện tượng
biến đổi khí hậu toàn cầu với mức độ cực kỳ nghiêm trọng. Vì thế, bất kỳ nghiên
cứu về tự nhiên hay kinh tế - xã hội, chúng ta, những nhà địa lý, rất quan tâm kết
hợp nghiên cứu sự phát triển của lãnh thổ trong các diễn biến của biến đổi khí hậu
trong khu vực mình đang nghiên cứu. Hạt nhân của Vùng TP.HCM chính là
TP.HCM, một thành phố có tên trong một số kịch bản dự báo các vùng đất bị ngập
do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm
2009. Trong khi TP.HCM được dự báo là sẽ bị ngập ở một ở phần lớn lãnh thổ phía
Một ví dụ: Gia tăng dân số trung bình năm của Bình Dương là 3,2%/năm thời kỳ
1994 – 1999, tăng vọt lên 8,3%/năm thời kỳ 2000-2004 và 8,7% thời kỳ 2004-2009;
Sự phát triển KT - XH của Việt Nam nói chung và các đô thị trong nước nói
riêng đang ở tốc độ khá cao. Quyết định của Chính phủ về việc thành lập Vùng
TP.HCM trong tương lai năm 2050 là thể hiện xu hướng toàn cầu hóa – khu vực
hóa trong tổ chức không gian KT - XH của Việt Nam. Trong một không gian mới
của đồ án quy hoạch, vị thế và tiềm năng phát triển của các đô thị bên trong vùng sẽ
có nhiều thay đổi tích cực. Vị thế đô thị là vị thế so sánh nên để làm rõ vị thế của
TP.Biên Hòa cần phải so sánh một hoặc nhiều đô thị khác trong vùng. Do đề tài có
phạm vi lớn hơn yêu cầu của một luận văn cao học, nên tác giả không có điều kiện
phân tích sâu về thành phố được so sánh, chỉ khi cần thiết mới đưa số liệu so sánh
làm rõ vấn đề. Trong số 7 thành phố có khả năng tạo cực của mạng lưới đô thị Vùng
TP.HCM , Thủ Dầu Một là một đô thị phù hợp để so sánh làm rõ vị thế của TP.Biên
Hòa.
Trở lại vấn đề chính, TP.Biên Hòa là một thành phố lớn với quy mô dân số và
quy mô kinh tế khá lớn và tốc độ tăng trưởng khá nhanh về các mặt. Trong khi đó,
vị thế hiện nay của TP.Biên Hòa chưa thực sự tương xứng với tiềm năng đó nên
TP.Biên Hòa, cần được quy hoạch để làm mới lại vị thế và củng cố cho Biên Hòa
thêm sức cạnh tranh với các thành phố khác trong hệ thống thành phố thuộc Vùng
TP.HCM trong tương lai.
Vị thế địa lý khác với vị trí địa lý. Trong khi vị trí mang tính tuyệt đối và hầu
như không đổi, thì vị thế địa lý lại có tính tương đối và thay đổi theo thời gian.
Trong địa lý học phân biệt hai khái niệm: vị thế (situation) với vị trí (position): Vị
trí có tính tuyệt đối, là duy nhất; Vị thế luôn có tính tương đối....vị thế thay đổi theo
thời gian; trong khi đó vị trí không thay đổi, nhưng một thời gian dài thì có thể thay
đổi xét về phạm vi, về qui mô”[54]. Vì lẽ đó, vị thế của TP.Biên Hòa là một đề tài
luôn có tính mới do nó đòi hỏi phải được cập nhật và nghiên cứu sau một thời gian
phát triển nhất định. Nghiên cứu vị thế Biên Hòa là việc đánh giá lại những thuận
lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên và KT - XH của TP.Biên Hòa, nhằm khai thác
hiệu quả và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn của thành
thuận lợi cho việc quy hoạch không gian phát triển cho TP. Biên Hòa.
-
Dự báo vị thế của TP. Biên Hòa trong Vùng TP.HCM trong tương lai.
3/ Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
-
Về mặt không gian địa lý: TP. Biên Hòa và Vùng TP.HCM.
-
Về mặt thời gian: số liệu hiện trạng được lấy từ năm 2000 đến nay, đặc biệt các
số liệu năm 1995, 2009 nhằm nghiên cứu sự thay đổi - đây là các số liệu điều
tra dân số định kỳ 10 năm; số liệu dự báo đến 2020 đối với TP.Biên Hòa và
Vùng TP.HCM.
-
Về mặt nội dung: 4 nội dung cơ bản sau đây:
+
Nghiên cứu lý thuyết về vị thế và các yếu tố đánh giá vị thế đô thị trong hệ
thống đô thị vùng.
+
Phân tích vị thế của TP.Biên Hòa trong hệ thống đô thị của Vùng TP.HCM.
“Không gian địa lý là bộ phận của bề mặt đất được các xã hội loài người sử
dụng và tổ chức lại để làm cho nó tái sản xuất theo nghĩa rộng, không chỉ để ở, để
tự nuôi sống mà còn là nơi thực hiện hàng loạt các hoạt động xã hội phức tạp” (R.
Brunet) [54]. Đồng tình với ý kiến của R. Brunet, GS. Đặng Văn Phan nhận định:
“không gian là hệ thống các mối quan hệ và đồng thời là một sản phẩm xã hội có tổ
chức”. Khái niệm không gian trong địa lý học khá phức tạp, không dễ dàng định vị
hay đo đạc như không gian trong toán học hay lý học [36].
Như vậy, quan điểm không gian yêu cầu người nghiên cứu phải chú ý đến
toàn bộ ý nghĩa nội hàm và ngoại diện của từ “không gian”. Và nói một cách ngắn
gọn nhất chính là một khu vực lãnh thổ bất kỳ trên bề mặt trái đất luôn tồn tại ba
loại không gian trùng lên nhau: không gian vật thể (môi trường tự nhiên) – không
gian văn hóa, xã hội – không gian kinh tế, mà ở đó con người vừa là nhân tố lệ
thuộc bên trong, vừa là chủ thể cải tạo và phát triển không gian.
4.1.2/ Quan điểm hệ thống:
Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống thể hiện tính ưu việt trong viêc
nghiên cứu các đối tượng phức tạp (bao gồm nhiều phần tử cấu tạo thành) khác
nhau về chất lượng (bản chất), tồn tại, hoạt động và phát triển theo những quy luật
khác với vô số các mối liên hệ qua lại (trực tiếp và gián tiếp) mà không phải bao giờ
chúng ta cũng có thể lượng hóa được. Vùng thành phố là một đối tượng phức tạp
thực sự về nhiều phương diện, nên nghiên cứu nó cần phải đặt trong quan điểm hệ
thống để đảm bảo cái tổng thể và cái bộ phận là các thành phố tuy là đối tượng
nghiên cứu riêng nhưng luôn phải được đặt trong một hệ thống phát triển chung,
không thể tách rời.
Mỗi một phân hệ trong cơ cấu lãnh thổ tồn tại, hoạt động và phát triển theo
những quy luật chung và quy luật đặc thù, thường xuyên tương tác với nhau thông
qua sự trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin.
Các quá trình và hiện tượng nói trên thường đan xen, chồng lấp nhau và
nhiều khi còn hạn chế, loại trừ và triệt tiêu lẫn nhau, làm giảm hiệu quả hoạt động
khoảng cách vật lý ngày càng được giải quyết tốt hơn nhờ các hệ thống phương tiện
giao thông hiện đại và nhu cầu về không gian ở cũng yêu cầu rộng hơn với môi
trường tốt hơn. Chính sự lựa chọn và quyết định của người dân đã ảnh hưởng đến
sự thay đổi cấu trúc đô thị [38].
4.1.5/ Quan điểm tầm nhìn - chiến lược:
Đối tượng nghiên cứu của địa lý KT - XH thường là những hiện tượng kinh
tế - xã hội, chúng luôn ở trạng thái vận động, có tính phát triển và thay đổi theo
những quy luật của kinh tế - xã hội, rất khác với quy luật và đối tượng của địa lý tự
nhiên. Đặc biệt là vấn đề quy hoạch đô thị, bản thân “đô thị” luôn biến đổi mà “quy
hoạch” lại là công việc phải dự đoán tương lai phát triển của “đô thị” nên người
nghiên cứu cần sử dụng quan điểm tầm nhìn – chiến lược để có thể nhận ra được
những hướng phát triển của đô thị trong tương lai và dựng nên những bản đồ quy
hoạch không gian nhằm phục vụ và hỗ trợ tốt nhất cho sự phát triển của đô thị. Quy
hoạch đô thị mà không lấy quan điểm tầm nhìn – chiến lược làm cơ sở lý luận, khi
đó, sản phẩm quy hoạch có thể sẽ vô tình tạo nên những trở ngại nhất định hoặc
thậm chí mâu thuẫn với chiến lược phát triển đô thị, như thế, đô thị sẽ bị giảm tốc
độ (dù không phải mọi trường hợp giảm tốc độ đều là biểu hiện tiêu cực) hoặc phát
triển không đúng định hướng, gây nhiều tổn thất về KT - XH cho đô thị, lãng phí
thời gian…mà hiệu quả cao nhất khó thực hiện được.
4.1.6/ Quan điểm sinh thái và bền vững:
Quan điểm sinh thái là một quan điểm tương đối mới, được phát sinh và phát
triển theo nhu cầu xã hội. Trước đây người ta quan tâm nhiều đến quan điểm kinh tế
vì lúc đó mục tiêu phát triển kinh tế quan trọng hơn các mục tiêu khác, nhưng từ khi
sự phát triển tăng mạnh cả về tốc độ, quy mô lẫn chất lượng thì dường như mọi sự
tăng trưởng đều có xu hướng vượt tầm kiểm soát theo hướng tiêu cực đối với môi
trường thì lúc này các nghiên cứu đều phải chú trọng đến quan điểm sinh thái để tìm
lại mức độ cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Nói như vậy
không có nghĩa là quan điểm kinh tế không còn quan trọng nữa, chỉ là bên cạnh sự
Trước kia sự phát triển xã hội lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên được sở
hữu trong giới hạn lãnh thổ đã phân định, ngày nay, những cuộc cách mạng khoa
học – kỹ thuật – công nghệ đã thay đổi nhiều khái niệm phát triển xã hội. Trong bối
cảnh hội nhập toàn cầu, bất cứ đơn vị hay lãnh thổ nếu muốn phát triển hiệu quả và
bền vững đều cần liên kết với các đơn vị hay lãnh thổ khác có sự tương đồng về vị
trí địa lý hoặc KT – XH trong một khu vực có quy mô lớn hơn. Để thực hiện được
mục tiêu phát triển bền vững và hiệu quả về các mặt kinh tế - xã hội - môi trường,
mỗi lãnh thổ cần có quy hoạch tổng thể định hướng cho sự phát triển chuyên ngành
bên trong lãnh thổ, và do đó, quan điểm quy hoạch vùng được chú trọng nghiên
cứu. Toàn bộ quá trình quy hoạch đi từ lý thuyết đến thực tiễn bởi lý thuyết chính là
quan điểm quy hoạch tổng thể vùng và được hiện thực hóa, cụ thể hóa trên thực tiễn
bởi quan điểm quy hoạch xây dựng vùng.
Quan điểm quy hoạch xây dựng vùng có phần nào thích ứng với tình hình
chuyển biến mới trong phát triển hệ thống lãnh thổ KT - XH Việt Nam hiện nay,
nên không tránh khỏi khuynh hướng tập trung chủ yếu vào các vùng trọng điểm, các
đô thị lớn, các hành lang công nghiệp, KCN tập trung, khu chế xuất, khu công nghệ
cao và vô tình lãng phí những nguồn lực từ các điểm nhỏ xung quanh đó. “Các mối
liên hệ liên ngành và liên vùng theo lãnh thổ dường như chưa được quan tâm thích
đáng, như mối liên hệ giữa công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn,
vùng trọng điểm với các vùng nông-lâm nghiệp rộng lớn”[51] mà nguyên nhân tạo
sự phát triển tập trung không đồng bộ này là do sự phát triển của hệ thống giao
thông vận tải, các tuyến đường chỉ tập trung vào một vùng đô thị đầu mối nào đó,
còn các tuyến đường xa nối các vùng kinh tế khác nhau còn hạn chế. Thành lập
vùng thành phố chính là giải pháp khắc phục những tồn tại của việc quy hoạch vùng
trước đây tạo ra, vì quy hoạch vùng thành phố yêu cầu phải có tầm nhìn xa hơn
cũng như chi phí đầu tư lớn hơn để tập trung vào những tuyến đường giao thông
vươn xa ra khỏi phạm vi một đô thị và nối liền các đô thị trong vùng thành phố với
nhau như một hệ thống trọn vẹn, giúp cho sự phát triển không bị ngăn trở hoặc giới
hợp các số liệu sẽ là những dẫn chứng, minh họa cho vấn đề nghiên cứu. Vì vậy,
tổng hợp thống kê và phân tích, so sánh số liệu thống kê để làm rõ thực trạng phát
triển kinh tế – xã hội của đô thị sẽ là cơ sở để đưa ra những giải pháp phát triển đô
thị sau này.
4.2.6/ Phương pháp thống kê toán học:
Đôi khi các số liệu đã thu thập nhưng chưa thể đưa ra những quy kết chính
xác cho hiện tượng, người nghiên cứu cần phải biết cách biến đổi các số liệu dựa
trên những cách thức thống kê hoặc tổng hợp hóa, đơn giản hóa các thông số hoạt
động, các mối liên hệ đa dạng phức tạp của các đối tượng nghiên cứu địa lý kinh tế