BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
muc
ĐOÀN THỊ PHI YẾN
CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT TRONG THƠ LỤC BÁT CỔ ĐIỂN
VÀ THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
Luận án Thạc sĩ Khoa học
Chuyên ngành Ngôn Ngữ:
Mã số: 504 - 08
Ngƣời hƣớng dẫn Khoa học:
PGS. CAO XUÂN HẠO
-----Thành phố Hồ Chí Minh 1997-----
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐOÀN THỊ PHI YẾN
CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT TRONG THƠ LỤC BÁT CỔ ĐIỂN
VÀ THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
Luận án Thạc sĩ Khoa học
Chuyên ngành Ngôn Ngữ:
Mã số: 504 - 08
Đ
CĐ
KĐ
T
C
Tr
:
:
:
:
:
:
:
Đề
Chủ đề
Khung đề
Thuyết
Câu
Yếu tố tĩnh lƣợc
Trạng ngữ
2
DẪN NHẬP
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hoàng Xuân Tâm - Bùi Tất Tƣơm - Nguyễn Văn Bằng - Câu trong tiếng Việt - 1992 - Trang 4.
3
2. Việc phân tích câu thành cấu trúc đề - thuyết là một việc làm cần thiết trong nhà
trƣờng hiện nay. Vì ngữ pháp truyền thống không phù hợp với yêu cầu dạy tiếng Việt thực
hành trong nhà trƣờng. Việc phân tích câu thành câu trúc để thuyết không chỉ giúp học sinh
nắm kiến thức khoa học dễ tiếp thu và ứng dụng cho tiếng Việt mà còn giúp các em sử dụng
tiếng Việt trong giao tiếp một cách chủ động và thích đáng .
Chúng tôi vận dụng quan điểm và phƣơng pháp của ngữ pháp chức năng để miêu tả,
khảo sát các kiểu câu theo mô hình Đ - T, chủ yếu là trong thơ lục bát cổ điển, hiện đại và
dân gian. Chúng tôi quan niệm đây là một dịp thử nghiệm nhằm thử thách thêm hiệu lực của
thủ pháp phân tích câu theo mô hình Đề - Thuyết trong tiếng Việt nói chung và thơ lục bát
nói riêng, một thể thơ có thể coi là phổ thông nhất của văn học Việt Nam. Trên cơ sở đó
chúng tôi muôn đƣa ra một vài nhận xét về sự đồng nhất và khác biệt giữa thơ lục bát cổ
điển, dân gian và hiện đại.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Ngữ pháp chức năng với tên tuổi của các nhà chức năng luận nhƣ L.Tesnier,
C.Fillmore, M.Halliday, M.Clark, S.Dik... đang tạo ra những hƣớng đi mới đầy lạc quan cho
sự nghiệp nghiên cứu tiếng Việt.
Quan điểm của ngữ pháp chức năng đã có đủ cơ sở để các nhà Việt ngữ học đi sâu
vào việc nghiên cứu. tìm hiểu những vấn đề chƣa dƣợc quan tâm thỏa đáng. Đó là vấn đề cấu
trúc Đề - Thuyết của câu tiếng Việt.
1. Cấu trúc thông báo và hai thành phần Đề - Thuyết của câu:
Kể từ Aristote trở đi (thế kỷ thứ V trƣớc Công nguyên) ngôn ngữ học phƣơng Tây
thƣờng phân tích câu nhƣ gồm có hai thành phần "logic": Chủ ngữ và Vị ngữ. Trong một thời
gian kéo dài hơn hai mƣơi thế kỷ, các nhà ngôn ngữ học và các nhà lôgic học yên trí rằng sự
Nguyễn Kim Thản là ngƣời đầu tiên thấy đƣợc rằng danh ngữ ở đầu những câu nhƣ:
(1) Sách để trên bàn.
(2) Ghế này ngồi đƣợc ba ngƣời1.
cũng cần đƣợc xử lý về ngữ pháp nhƣ các danh ngữ chỉ vật trải qua quá trình (sách roi) hay
mang tính chất (sách hay lắm). Các danh ngữ ở (1) và (2) cũng đƣợc coi là chủ ngữ2.
Hơn nữa, trong "cơ sở ngữ pháp tiếng Việt" xuất bản năm 1981 Nguyễn Kim Thản lại
viết: "Chủ ngữ là phần nêu lên cái gì đó, vị ngữ là phần nói về chủ ngữ", "đúng ra nên gọi
chủ ngữ là phần nêu, vị ngữ là phần báo"3 .
Ông đồng nhất sự phân biệt giữa hai phần này với sự phân biệt giữa topic (phần nêu)
và comment (phần báo). Nhƣng vì ông không định nghĩa hai khái niệm này một cách hiểu
ngôn nên ông đã tỏ ra thiếu nhất quán khi phân tích các danh ngữ (giới ngữ) ở đầu những câu
nhƣ:
1
2
3
Nguyễn Kim Thản - Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt - 1983 - Trang 30, 31.
Cao Xuân Hạo - Sơ thảo ngữ pháp chức năng - Quyển 1 - Viện KHXH - 1991 - Trang 145.
Nguyễn Kim Thản - Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt - 1983 - Trang 30, 31.
5
(3) Trong nhà nóng hơn.
(4) Ở nhà có gửi thƣ.
(5) Ở nhà có chó.
Nguyễn Kim Thản cho các danh ngữ ở (3) và (4) là chủ ngữ còn danh ngữ ở (5) lại là
trạng ngữ.
2.1.2. Ngoài Nguyễn Kim Thản còn có Trƣơng Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê trong
Diệp Quang Ban "Khả năng xác lập mối liên hệ giữa phân đoạn thực tại và phân đoạn
ngữ pháp câu tiếng Việt" (4.1989).
Các bài viết của các tác giả nói trên đã đƣa ra những nhận xét và lập luận rất bổ ích:
"Sự phân đoạn thực tại chia câu thành hai phần là chủ đề. (Thema, topic) và thuật đề
(Rheme, comment) trong đó thuật đề là thành phần luôn luôn phải có mặt, còn chủ đề có thể
có có thể không"2 .
"Khi hai ngữ kết hợp thành một thông báo, trong đó có bộ phận chỉ cái đƣợc đề ra và
bộ phận chỉ cái thuyết minh rõ thì kết hợp này gọi là cú", "ngữ chỉ cái đƣợc đề ra là đề ngữ,
ngữ chỉ cái thuyết minh rõ là thuyết ngữ. Đây là hai bộ phận quan trọng nhất"3.
1
Cao Xuân Hạo - Sơ thảo Ngữ pháp Chức năng Quận 1 - 1991, tr. 141
Lý Toàn Thắng - Giới thiệu lý thuyết phân đoạn thực tại câu - Tạp chí ngôn ngữ - 1.1981 - Trang 47.
3
Lƣu Văn Lăng - Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm ngữ đoạn có tầng bậc - Tạp chí ngôn ngữ năm
1970 - Trang 53, 54.
2
7
Nhìn chung, các tác giả trên đã phát hiện ra hai thành phần cơ bản của câu tiếng Việt
và phân đoạn câu xuất phát từ ý nghĩa cụ thể đƣợc câu biểu thị và từ sự phân tích nội dung
thông báo đƣợc chứa đựng trong câu đó và ở một ngữ cảnh cụ thể nào đó. Các tác giả trên đã
viết: "Ngữ pháp học truyền thống đã nghiên cứu câu một cách cô lập không đặt nó vào trong
một hành động giao tiếp cụ thể, vào một tình huống (ngữ cảnh) cụ thể. Do vậy nó đã bỏ qua
một sự kiện ngôn ngữ đáng lẽ cần đƣợc quan tâm là: cùng một câu nói (với cùng một cấu trúc
cú pháp và từ vựng ngữ nghĩa nhƣ nhau) nhƣng tùy ý định của ngƣời nói (ngƣời viết) trong
những tình huống giao tiếp cụ thể mà câu nói đó thực hiện những nhiệm vụ thông báo khác
8
So với những công trình trƣớc nhóm tác giả này đã nhìn nhận một cách minh xác hơn
trong khi vận dụng các khái niệm nhƣng họ lại không gần sự thật bằng các tác giả Nguyễn
Kim Thản, Trƣơng Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê trong khi phân tích cú pháp tiếng Việt. Họ
cho những câu đơn đặc biệt chỉ không gian thời gian khi gia nhập vào một câu chỉ sự kiện trở
thành trạng ngữ của câu.
Ví dụ:
(21) Hết giờ. Mọi ngƣời ra về.
(22) Hết giờ, mọi ngƣời ra về.
"Hết giờ" trong (21) cho là câu đặc biệt
"Hết giờ" trong (22) lại cho là trạng ngữ của câu.
2.1.4 L.C.Thompson (1965) trong cuốn "ngữ pháp tiếng Việt" đã có những nhận định
đúng đắn về những điều cơ bản nhất của cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt "Ông miêu tả cấu
trúc câu đơn tiếng Việt nhƣ một ngữ đoạn hạn định mà trung tâm là một vị ngữ có kèm theo
một bổ ngữ hạn định (focal complement) đặt trƣớc vị ngữ có tác dụng nêu rõ những điểm quy
chiếu về không gian, thời gian, phƣơng thức, ngƣời, vật, khái niệm cho vị ngữ, các bổ ngữ ấy
có thể là một danh ngữ hay một vị ngữ"1.
Theo Thompson trong tiếng Việt không thể tìm thấy một cái gì gọi là "chủ ngữ". Ông
cũng là ngƣời hiểu đƣợc chữ "thì" và chức năng tối quan trọng của nó. Ông đã thấy rằng đề là
cái gì mà đằng sau thêm "thì" nghĩa không thay đổi (muốn biết Đề - Thuyết đặt "thì" vào
giữa).
Ngoài L.C.Thompson còn có K.Dyvik (nhà ngôn ngữ Na-uy) 1984 cũng viết về câu
tiếng Việt. Ông cho rằng: Tiếng Việt là thứ tiếng chẳng có gì là chủ ngữ cả và trong tiếng
Việt sử dụng "thì" để phân định ranh giới Đề - Thuyết. Tiếng Việt là tiếng thiên về chủ để.
2.2. Gần đây, trào lƣu ngữ pháp chức năng đƣợc các nhà Việt ngữ học hết sức quan
tâm đến.
2.2.1. Trên nền tảng lý luận của ngữ pháp chức năng hiện đại, Giáo sƣ Cao Xuân Hạo
cho ta thấy những ý kiến đầy sức thuyết phục cho tiếng Việt.
nghiệp theo hƣớng khai triển cấu trúc đề - thuyết của câu tiếng Việt trong các tác phẩm văn
chƣơng.
Chúng tôi cũng mạnh dạn đi tiếp bƣớc đi của các nhà nghiên cứu. Đề tài của chúng tôi
chỉ là sự kế thừa và tiếp thu các thành quả những công trình đi trƣớc, vận dụng quan điểm
ngữ pháp chức năng về cấu trúc đề - thuyết của câu tiếng Việt để khảo sát, miêu tả, phân tích
câu trong thơ lục bát cổ điển và thơ lục bát hiện đại.
III. PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Cấu trúc đề thuyết của câu tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Ở đây chúng tôi chỉ
xử lý đề tài ở một số vấn đề sau:
1. Xác định cấu trúc Đ-T là cấu trúc cú pháp cơ bản trong câu của tiếng Việt
2. Tìm hiểu đặc điểm chung của cấu trúc đề - thuyết trong câu tiếng Việt:
- Đề thuyết trong câu tiếng Việt
- Những đặc tính ngữ pháp của đề.
10
- Những phƣơng tiện đánh dấu đề - thuyết
- Các kiểu cấu trúc câu trong ngôn bản.
3. Vận dụng lý thuyết về cấu trúc đề - thuyết của câu trên cơ sở ngữ pháp chức năng
để miêu tả, khảo sát các kiểu cấu trúc đề - thuyết trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du và
trong thơ lục bát của Tố Hữu. Trên cơ sở đó nhận xét một số mẫu câu tiêu biểu.
Chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu hết các kiểu cấu trúc trong hai tác phẩm thơ
trên mà chỉ dừng lại khảo sát, miêu tả một số kiểu câu cơ bản.
Sở dĩ, chúng tôi chọn miêu lả cấu trúc đề - thuyết trong "Truyện Kiều" và thơ Tố Hữu
vì "Truyện Kiều" của Nguyễn Du là một cuốn tiểu thuyết bằng thơ mà ở đó Nguyễn Du đã sử
dụng thể thơ phổ biến nhất, nhân dân trong văn học Việt nam là thể thơ lục bát. "Truyện
Kiều" đƣợc coi là đỉnh cao của nền văn học cổ Việt nam. Trong "Truyện Kiều" có hầu hết các
kiểu câu hoặc mầm mống các kiểu câu của ngôn ngữ hiện đại. Hơn nữa, cú pháp trong
hàng ngày chứ không mô phỏng ngữ pháp Châu Âu thì có thể đem lại những kết quả gì cho
việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt.
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỂ TÀI:
Trong quá trình xử lý đề tài, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp, thủ pháp sau:
1. Phương pháp miêu tả:
Dùng để khảo sát, miêu tả các kiểu cấu trúc đề - thuyết có trong thơ lục bát cổ điển và
hiện đại.
2. Phương pháp chêm xen (cải biên):
Thêm các tác tử đánh dấu đề - thuyết để phát hiện ranh giới giữa đề và thuyết từ bậc
cao đến bậc thấp nhằm giúp cho việc miêu tả đƣợc chính xác hơn.
3. Phương pháp đối chiếu so sánh:
Dùng để so sánh việc sử dụng các kiểu câu trong hai tác phẩm thơ Truyện Kiều và thơ
Tố Hữu.
4. Phương pháp thống kê:
Dùng thống kê các kiểu câu, thống kê tài liệu nghiên cứu. Phƣơng pháp này giúp cho
kết quả miêu tả, khảo sát đƣợc cụ thể hơn, rõ ràng hơn.
VI. BỐ CỤC LUẬN ÁN:
Luận án ngoài phần dẫn nhập gồm 3 chƣơng:
12
* Dẫn nhập:
Phần này tập trung giới thuyết về đề tài và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài.
* Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chƣơng này chủ yếu tóm tắt ngữ pháp chức năng. Cụ thể là cấu trúc đề -thuyết của
Giáo sƣ Cao Xuân Hạo. Đây là chƣơng tạo tiền đề cho việc miêu tả, khảo sát ở chƣơng sau.
* Chương II: CÁC KIỂU CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT TRONG "TRUYỆN KIỀU"
những công trình thử ứng dụng những thành tựu của ngữ pháp chức năng vào những vấn đề
của tiếng Việt có thể đếm trên đầu ngón tay, và không vƣợt quá phạm vi của những luận văn
đại học, cao học và phó tiến sĩ. Do đó khó lòng có thể có một nhận đinh, dù là sơ bộ, về giá
trị thực sự của trào lƣu khoa học này. Theo chúng tôi đó là một khoảng trống khó lòng có thể
chấp nhận trong khi giới ngôn ngữ học ở các nƣớc khác đang tập trung sự chú ý vào phƣơng
hƣớng này .
Chúng tôi hy vọng rằng trong một tƣơng lai gần sẽ có nhiều công trình thử nghiệm
nghiêm túc hơn, sâu sắc hơn công trình cứu chúng tôi, cho thấy rõ hơn nữa những điểm mạnh
và những điểm yếu của phƣơng pháp này. Mặt khác, chúng tôi cũng mong các tác giả đi theo
phƣơng pháp truyền thống bỏ công ra chứng minh cho tính hữu hiệu, của phƣơng pháp cũ đối
với những tính vực chƣa đƣợc khai thác mấy nhƣ vốn văn học dân gian .
14
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Trào lưu ngữ pháp chức năng:
1. Trào lƣu ngữ pháp chức năng kế thừa một di sản khá vững mạnh của ba trƣờng
phái:
1.1. Trƣờng Prague (The Prague School) đứng đầu là ba ngƣời Nga: N.s Trobeckoj,
R.O Jackobson và Karccuski (học trò của Saussure) và những nhà ngôn ngữ Tiệp Khắc: V.
Mathesius (tác giá của lý thuyết "Phân đoạn thực tại"), B.Trnk, J.Vachek.
1.2 Trƣờng Luân Đôn (The London School) với những tên tuổi nhƣ: J.R.Firth,
V.Malinonski, M.A.K Halliday, và khái niệm Bối cảnh Văn hóa của ngôn ngữ đƣợc xây dựng
trên kinh nghiệm nghiên cứu các ngôn ngữ phƣơng Đông và Châu Phi.
1.3. Lý thuyết của C.S. Peirce về ba bình diện của ký hiệu (trong đó có bình diện
Dụng pháp hay Dụng học).
Nhƣng đóng vai trò quyết định có lẽ là ảnh hƣởng của lý thuyết hành động ngôn từ
(Speech Act Theory) của J.L Austin. Theo Austin, nói không phải là nhằm chuyển đạt thông
- "Chủ đề là phần câu chỉ đối tƣợng đƣợc nói đến trong phần thuyết, cái chủ thể của
sự nhận định"1.
- "Khung đề là phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành khung về cảnh huống, thời
gian, không gian trong đó điều đƣợc nói đến ở phần thuyết có hiệu lực"2.
Cả hai thứ đề (chủ đề và khung đề) đều có chức năng là xác định phạm vi hiệu lực ở
phần thuyết Trong câu cả hai đều đƣợc xử lý nhƣ nhau về phƣơng diện vị trí về cách thức
đánh dấu biên giới bằng thì.
- Theo quan điểm đề - thuyết của ngữ pháp chức năng thì đề không phải là trạng ngữ
hoặc định ngữ, bổ ngữ đƣợc đƣa lên phía trƣớc.
Ngữ pháp truyền thống cho khung đề là trạng ngữ của vị từ hay của câu, song
- Về mặt chức năng thì giữa khung đề và trạng ngữ có những sự khác nhau quan
trọng: Khung đề nêu rõ phạm vi trong đó điều đƣợc nói ra ở phần thuyết có hiệu lực. Chẳng
hạn, câu
(24) Trời mƣa thì cháu không đi nhà trẻ đƣợc.
cho biết trong hoàn cảnh trời mƣa sẽ có gì xảy ra .
Còn trạng ngữ thì nói rõ thêm một chi tiết có giá trị thông báo cho câu .
(25) Cháu không đi nhà trẻ hôm nào trời mƣa.
cho biết cháu không đi nhà trẻ vào (những) hôm nào .
- Về mặt hình thức ngữ pháp thì sau trạng ngữ không thể thêm tác tử "thì" và "là".
Về mặt vị trí thì khung đề và một số trạng ngữ đều có thể đứng ở đầu câu, nhƣng
trạng ngữ có thể chuyển vị trí lên đầu câu mà vẫn không trở thành khung đề.
Ngữ pháp truyền thống cho những câu nhƣ:
(26) Giếng này nƣớc trong.
(27) Xã bên ruộng tốt.
là những câu đảo ngữ (đƣa định ngữ hoặc bổ ngữ lên phía trƣớc) nhằm mục đích nhấn mạnh.
Thật ra, đây không phải là những trƣờng hợp đảo, xét về nội dung khách quan của sự
tình đƣợc biểu thị thì hai câu:
(26) Giếng này nƣớc trong
và
(31) Ai làm việc này.
(32) Đứa nào làm vỡ bình hoa.
(33) Bao giờ thì anh về.
2.4. Quyền tinh lƣợc đồng chỉ của đề:
Quyền tinh lƣợc danh ngữ đồng sở chỉ là một thuộc tính của chủ đề.
(34) Quốc hội thảo luận và thông qua hiến pháp.
Do quyền tinh lƣợc đồng sở chỉ với chủ đề mà "quốc hội" không đƣợc nhắc lại trƣớc
vị ngữ thứ hai.
Việc lƣợc bỏ danh ngữ đồng sở chỉ không phải là biện pháp tiết kiệm mà chủ yếu là
biện pháp liên kết các thành phần câu để tạo mạch lạc trong câu và do đó làm nên tính đơn vị,
tính nhất thể của câu, phân biệt một câu với nhiều câu liên tiếp hoặc nhiều vế câu ghép lại
trong câu ghép.
3. Những phương tiện đánh dấu sự phản chia đề - thuyết trong câu:
3.1. Tiêu chí ngữ pháp hình thức để phân tích cấu trúc câu thành hai phần đề - thuyết
là dùng hai tác tử ''thì" và "là".
18
3.1.1. "Thì" là một từ chuyên biệt chỉ dùng vào chức năng phân giới đề -thuyết, "thì"
là tác tử đánh dấu phần đề, khi có thì xuất hiện trƣớc nó chắc chắn là đề, trừ những trƣờng
hợp sau:
- Từ "thì" phân giới đề - thuyết trong cặp tiểu cú có cấu trúc tƣơng phản.
(36) Con tôi đứa thì đi học đứa thì đi làm.
(37) Món này ăn thì ngon nhƣng làm thì mất công.
- Trong phần thuyết có một thành ngữ có cấu trúc đề - thuyết kiểu "không ... thì" làm
đề.
(38) Anh em ở đây không ít thì nhiều đểu có đóng góp.
- Trong câu có thuyết tình thái "thì" đặt trƣớc phần thuyết đó.
(39) Hình nhƣ anh hài lòng lắm thì phải.
Khi thuyết là một danh ngữ trong câu định tính hay đẳng thức.
(49) Của rẻ là của ôi.
(50) Ông Năm là một ngƣời cƣơng trực.
Khi thuyết là một danh ngữ biểu thị chủ thể của vị ngữ hay giới ngữ làm đề
(51) Đứng trên bục giảng là một ông giáo cao và gầy.
Khi thuyết là một danh ngữ biểu thị đối thể của động từ thuộc phần đề đƣợc nêu
riêng ra.
(52) Em tôi thích nhất là kẹo chanh.
Khi thuyết là một giới ngữ có chuyển tố chỉ thời gian, nguyên nhân, mục đích đƣợc
nêu riêng.
(53) Họ gặp nhau lần cuối cùng là trong chiến dịch Tây Bắc.
Khi thuyết là một vị ngữ nhƣng:
* Đề không có quan hệ tham tố (trực tiếp, gián tiếp) với nó.
(54) Ƣu điểm của nó là ham học.
* Đề là một vị ngữ làm thành tham tố duy nhất của vị ngữ làm thuyết.
(55) Anh đi là phải.
- Trong những phần thuyết thành ngữ hóa "Thuyết giả " cố ý nghĩa tình thái ở cuối
câu (là cùng, là may, là phức, là giỏi...).
* Ngoại lệ:
- Trong cấu trúc đồng dạng có thể lƣợc bỏ tác tử phân giới "thì"
(56) Chó (thì) treo, mèo (thì) đậy
(57) Mềm nắn, rắn buông.
- Khi thuyết là một danh ngữ hay giới ngừ chỉ gốc gác, nơi chốn, chất liệu hay sở hữu
thì miễn dùng "là".
(58) Anh ấy ngƣời Hà Nội
(59) Cái nồi này bằng gang.
3.1.3. "Mà" có công dụng phân giới không phải của toàn câu mà là của tiểu cú làm đề
hoặc thuyết.
(60) Ngƣời mà đến thế thì thôi.
(61) Cá này mà hấp với nấm thì ngon tuyệt.
1. Câu một phần (câu không đề):
Câu một phần là câu chỉ có một phần thuyết, không có đề trên bề mặt của câu. Gồm
những kiểu câu sau:
1.1. Những kiểu câu lấy khung cảnh hiện hữu làm đề:
Thời tiết, thời gian (giờ giấc) cảnh vật trƣớc mắt, đối tƣợng cụ thể mà ngƣời nói và
ngƣời nghe đang quan tâm. Sự tồn tại hay xuất hiện của một vật hay hiện tƣợng bất kỳ.
(67) Nắng chang chang thế kia.
(68) Đang có bão.
(69) Đẹp quá đi mất.
(70) Nhiều bƣớm quá.
1.2. Những kiểu câu có phần đề bỏ trống chỉ "tôi" là những câu ngôn hành
(performation) thƣờng mở đầu bằng "xin" hay "xin có lời".
(71) Xin có lời mời.
(72) Xin chúc mừng anh đầy hạnh phúc.
21
1.3. Những loại câu có phần đề bỏ trống chỉ "anh" là kiểu câu yêu cầu, khuyên nhủ,
cầu khiến.
(75) Đừng làm ồn nhé!
(76) Đi làm đấy à!
(77) Có muốn xem tranh không?
2. Câu có hai phần đề - thuyết:
Câu hai phần đề - thuyết là kiểu câu điển hình, tiêu biểu và thông dụng. Câu hai phần
có thể là câu một bậc đề thuyết hoặc có từ hai bậc đề thuyết trở lên.
2.1. Câu một bậc:
Đây là kiểu câu mà cả đề và thuyết đều có một cấu trúc không thể chia thành hai phần
đề thuyết ở cấp thấp hơn, Đề trong câu một bậc có thể là chủ đề hoặc khung đề. Cấu trúc cú
pháp của câu một bậc đƣợc vẽ thành sơ đồ sau:
Cao Bằng
gạo
trắng
Câu hai bậc kiểu I có thể khai triển nhƣ sau:
22
nƣớc
là
Nam
trong