Báo cáo nghiên cứu khoa học: "CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ CẤU TRÚC ĐỀ THUYẾT TRONG DỊCH THUẬT" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

36
CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ CẤU TRÚC ĐỀ THUYẾT
TRONG DỊCH THUẬT
INFORMATION STRUCTURE AND THEMATIC STRUCTURE
IN TRANSLATION

Nguyễn Phước Vĩnh Cố
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Việc hiểu biết các khía cạnh dòng thông tin biểu hiện dưới dạng đề/thuyết, tin cũ/tin
mới hoặc tính năng động giao tiếp là quan trọng trong dich thuật và giảng dạy ngôn ngữ. Vì
vậy, bài báo trình bày tóm tắt 2 cách tiếp cận về dòng thông tin (đường hướng Halliday và quan
điểm của Trường phái Praha) nhằm cung cấp cho người dịch nói riêng và sinh viên ngoại ngữ
nói chung sự hiểu biết cơ bản với ít nhất là 1 trong 2 mô hình nói trên. Bài báo cũng thảo lu
ận
một số chiến lược do các nhà ngôn ngữ học gợi ý nhằm giải quyết “độ căng” giữa chức năng
cú pháp và chức năng thông tin trong dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.
ABSTRACT
An awareness of aspects of information flow represented in terms of theme/rheme,
given/new or communicative dynamism is important in translation and language teaching.
Therefore, the paper briefly presents the two approaches to information flow (the Hallidayan
approach and the Prague School one) to provide translators in particular and students of foreign
languages in general with basic familiarity with at least one of the major models. The paper also
discusses some strategies suggested by a number of linguists for resolving the tension between
syntactic and communicative functions in translation and language teaching.

1. Giới thiệu
Việc nghiên cứu cấu trúc thông tin (CTTT) và cấu trúc đề-thuyết (CTĐT) trong

chức tương tác phản ánh mối quan hệ giữa người nói và người nghe. Người ta có thể
phân tích mệnh đề thông tin theo hai loại cấu trúc: a) cấu trúc đề thuyết (thematic
structure), b) cấu trúc thông tin (information structure). Nhìn chung có hai đường hướng
chính. Đường hướng Halliday phân đoạn đề thuyết tách rời khỏi tin cũ -tin mới. Những
nhà ngôn ngữ theo trường phái Praha lại phân đoạn đề-thuyết gắn liền với tin cũ - tin
mới trong CTTT.
3. Đường hướng theo Halliday về dòng thông tin
3.1. Cấu trúc đề-thuyết: đề ngữ và thuyết ngữ
Theo quan điểm này [7,38], [14,20], một mệnh đề thông tin có hai thành phần:
phần đầu được gọi là “đề”, có hai chức năng: a) làm điểm định vị bằng cách nối với
chuổi diễn ngôn phía trước để duy trì điểm nhìn mạch lạc, b) làm điểm khởi đầu bằng
cách nối kết và góp phần phát triển các chuổi tiếp theo. Phần thứ hai là “thuyết”: là
thành phần quan trọng nhất trong mệnh đề thông tin vì nó trình bày chính thông tin mà
người nói muốn chuyển tới người nghe. Xin xem ví dụ:
I can’t stand the noise.
Tôi không thể chịu đựng tiếng ồn đó.
Đề thuyết
3.2. Cấu trúc đề-thuyết: chuỗi đánh dấu và không đánh dấu
Sự lựa chọn đề liên quan đến việc chọn một thành phần mệnh đề làm “đề”. Các
thành phần của một mệnh đề chính là: chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ ngữ và trạng ngữ.
Theo mô hình của Halliday [7,39,45,49] sự lựa chọn đề được biểu thị bằng cách đặt một
trong những thành phần nói trên ở vị trí đầu của mệnh đề. Mona Baker [1,129] cho rằng
sự lựa chọn đề luôn có nghĩa vì nó cho thấy sự khởi đầu của người nói hay người viết.
Một số lựa chọn có nghĩa hơn các lựa chọn khác vì chúng được đánh dấu hơn. Nghĩa, sự
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

38
lựa chọn, tính đánh dấu là các khái niệm có tính tương liên, lấy “tính từ” và “trạng ngữ”
trong tiếng Anh làm ví dụ. Nếu tính từ đặt trước danh từ trong tiếng Anh thì điều này có
nghĩa là nó đứng ở vị trí ít có nghĩa vì đó không phải là kết quả của sự lựa chọn nhưng

trường”. Theo Phan Ngọc, nếu muốn nêu bật thời gian/nơi chốn thì đưa chúng xuống
sau bổ
ngữ. Theo quan điểm này, cấu trúc được đánh dấu trên phải dịch là: Cuốn sách
đã được quảng cáo rầm rộ tại Trung Quốc”. Vị trí đầu câu của trạng ngữ tiếng Anh cũng
có thể biểu thị tính tương phản. Trong trường hợp này, nó sẽ được dịch “Ở Trung Quốc
thì cuốn sách mới được quảng cáo rầm rộ”. Quan trọng hơn là việc đề hóa trạng ngữ chỉ
nơi chốn/ thời gian cũng rất phổ biến ở một số kiểu văn bản trong tiếng Anh vì việc đề
hóa này tạo ra phương pháp phát triển văn bản. Brown và Yule [2,132] nêu rõ rằng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

39
truyện trinh thám thường đề hóa các trạng ngữ chỉ thời gian, còn sách quảng bá du lịch
lại sử dụng một cách có hệ thống các trạng ngữ nơi chốn làm đề. Ta không mấy ngạc
nhiên trước những đoạn trích từ một truyện trinh thám vốn thường đề hoá các trạng ngữ
chỉ thời gian. Xin xem ví dụ:
- Late that afternoon she received a reply paid telegream
- Then he went on
- In the meantime she would be the better of professional aid
An hour later a pleasant-looking middled-aged woman arrived and took
charge.
Nguồn: dẫn theo Brown và Yule trong “Discourse Analysis”, [2,131]
Và việc đề hóa trạng ngữ nơi chốn làm “đề” trong một cuốn sách quảng bá du
lịch. Xin xem ví dụ.
- On some islands, it is best if you
- In Greece and Turkey, you are met at the airport
- In all other places, we make bookings
- In some centers, we have local agents
Nguồn: dẫn theo Brown và Yule trong “Discourse Analysis”, [2,132]
Theo Hatim và Mason [8,222], những vấn đề vừa nêu liên quan đến công việc
của những người nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa vì rõ ràng các xã hội khác nhau sử

nỗi.
4.Him I trust. 4. Anh ấy tôi đã ra sức chiều chuộng.
Khi dịch tân ngữ được đề hóa từ Anh sang Việt, cần lưu ý:
Trường hợp nhấn mạnh thái độ người nói, động từ thường có các từ ngữ phụ đi
kèm: “ấy”, “được”, “phải” ví dụ:
• Làng tôi, anh biết rồi đấy.
• Việc này tôi làm được.
• Thù này tôi phải trả.
Trường hợp tương phản nên dùng từ “thì” vì về nguyên tắc sự tương phản ở
tiếng Việt được tạo ra bằng cách “đánh dấu tân ngữ” chủ yếu bằng tiểu từ “thì” hoặc
bằng ngữ điệu [13, 120]
Trường hợp bổ ngữ đứng đầu câu vẫn thấy ở tiếng Anh và tiếng Việt nhưng lại
không phổ biến và cũng được nhấn mạnh hơn so với trật tự thông thường.
Tiếng Anh: Intelligent she may be but omniscient she is not.
Tiếng Việt: Thật vĩ đại cái trầm lặng đầy tin tưởng của những con người.
a.3 Vị trí đầu câu của vị ngữ
Vị ngữ: They promised to publicize the book in China , and publicize it they did.
Trong tất cả lựa chọn đề ở tiếng Anh, đây là sự lựa chọn được đánh dấu nhiều
nhất. Ngoài việc đặt vị ngữ đầu câu, sự lựa chọn này liên quan đến việc sắp xếp lại các
thành phần mệnh đề và điều chỉnh hình thái nhóm động từ. Các ví dụ có vị ngữ đặt đầu
câu có tần số xuất hiện khá thấp:
You hired me to protect you, Miss Porter, and protect you I shall.
( Cô thuê tôi bảo vệ cô, thưa cô Porter và tôi sẽ bảo vệ cô.)
“Trích từ phim hoạt hình “Tarzan 2” do hãng Walt Disney phát hành DVD
(video)”
Việc dịch một cấu trúc có vị ngữ đặt đầu câu “protect you I shall” sang tiếng
Việt “tôi sẽ bảo vệ cô”. Theo chúng tôi, người dịch đã không giữ được sự nhấn mạnh
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

41

It was the book that received a great deal of publicity in China.
It was a great deal of publicity that the book received in China.
It was in China that the book received a great deal of publicity .
Đề vị ngữ là một cấu trúc đánh dấu cho phép người nói/người viết chọn một
thành phần như là chủ ngữ vốn là một đề không được đánh dấu của câu tường thuật
(declarative clause) tiếng Anh thành 1 đề được đánh dấu. Các cấu trúc đánh dấu nói
trên có thể dịch sang tiếng Việt bằng cách dùng từ “chính”, từ chuyên đánh dấu phần
thuật đề (thuyết ngữ) đi trước trong tiếng Việt. Cũng như các đề đánh dấu khác, đề vị
ngữ thường hàm ý tương phản 1. “It was in China that ” thường gợi ý rằng ở Trung
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

42
Quốc thì cuốn sách mới được quảng cáo rầm rộ (nơi khác thì không). Trong trường
hợp đó, câu dịch sẽ là “Chính ở Trung Quốc thì cuốn sách mới nhận được sự quảng
cáo rầm rộ”.
c. Đề nhận dạng (identifying theme)
Đề nhận dạng cũng tương tự như đề vị ngữ. Thay vì sử dụng “cấu trúc - it” , đề
nhận dạng đặt một thành phần ở vị trí đề, biến thành phần này thành một danh hoá
(nominalization) dùng cấu trúc - Wh hay còn gọi là cấu trúc chêm xen giả (pseudo-cleft
structure) như “What the book received in China was a great deal of publicity” (Điều
cuốn sách nhận được tại Trung Quốc là sự quảng cáo rầm rộ). Một trong những chức
năng quan trọng của 2 cấu trúc trên là báo hiệu thông tin và cả 2 đều đánh dấu nhưng
khá phổ biến trong tiếng Anh vì chúng có thể cung cấp một chiến lược đề hoá nhằm
khắc phục sự hạn chế của trật tự từ lại cho ta biết vị trí tin cũ – tin mới mà không phụ
thuộc vào ngữ điệu. Tuy nhiên sự phân biệt là đề vị ngữ thành phần đề được xem là tin
mới thì ở đề nhận dạng thành phần đề được xem là tin cũ. Dấu nhấn hay trọng âm cũng
cung cấp một tín hiệu về vị trí thông tin trong tiếng Anh nói, vì lẽ đó đề vị ngữ và đề
nhận dạng thường có khuynh hướng phổ biến trong văn viết hơn văn nói. Trái lại các
hình thái tương đương với 2 cấu trúc này như “chính”, “cái mà”/”điều mà là ” được
dùng trong văn nói cũng như văn viết ở tiếng Việt, nơi trọng âm vốn thường không

mới cho đến nay vẫn mang tên ông).
Có vẻ như có một nguyên tắc trong tiếng Việt tương tự như nguyên tắc xem
trọng phần cuối. Theo nguyên tắc 2 này chủ ngữ thường được lược đi vốn rất phổ biến
trong văn bản khoa học tiếng Việt để biểu đạt ý nghĩa nhân xưng khái quát như ví dụ
sau: Đến năm 2000, thanh toán một số bệnh dịch và bệnh xã hội nguy hiểm như: bại
liệt, uốn ván, sởi, hạch hầu, ho gà, bệnh phong, bệnh lao, bệnh sốt rét, bệnh bướu cổ và
đần độn”. Vấn đề sẽ nảy sinh trong dịch thuật khi một nguyên tắc “end-weight” có vẻ
như “đụng độ” với các nguyên tắc cơ bản trong ngôn ngữ dịch (trong trường hợp này là
tiếng Anh) vốn liên quan đến việc đặt chủ ngữ trước vị ngữ. Ví dụ trên (câu không có
chủ ngữ) khi chuyển sang tiếng Anh thường được gợi ý sử dụng cấu trúc bị động [3,34]
và sẽ được dịch “Some epidemic diseases and fatal social diseases such as polio,
tetanus, measles, diphtheria, whooping cough, leprocy, tuberculosis, malaria, goiter, and
cretinism will have been eradicated by the year 2000”. Cần lưu ý rằng bằng cách trung
thành với nguyên tắc chủ ngữ trước vị ngữ, người dịch đã bỏ qua nguyên tắc xem trọng
phần cuối. Kết quả là câu dịch không tự nhiên và dễ dàng nhận thấy không “Anh” chút
nào. Câu dịch gồm một chủ ngữ “nặng” (dài) và một động từ “rất nhẹ” (ngắn). Chúng ta
có thể giải quyết thoả đáng mâu thuẫn giữa hai nguyên tắc này bằng cách chuyển cấu
trúc thụ động sang chủ động và có thể sử dụng các chủ ngữ như: “we”/ “the year”/ “the
city” / “the government will have eradicated epidemic diseases and fatal social diseases
such as
4. Quan điểm của trường phái Praha về dòng thông tin
4.1. Lý thuyết chức năng câu (Functional Sentence Perspective, viết tắt là FSP)
Lý thuyết chức năng câu (FSP) do một nhóm nhà ngôn ngữ Tiệp Khắc đề xướng
vào những năm 30 [dẫn theo Halliday 7,315], bắt đầu từ Mathesius về sau có Danes,
Firbas Quan điểm này về đề-thuyết và tin cũ-tin mới khá khác biệt với đường hướng
Halliday. Firbas [dẫn theo Mona Baker 1,160] đã nêu một ví dụ sau “John has been
taken ill”. Trong ngữ cảnh, câu trên sẽ có chức năng theo một loại phối cảnh nào đó tuỳ
thuộc vào mục đích giao tiếp, ví dụ có chức năng thông báo sức khỏe của một người
(John has been taken ill). Có chức năng khẳng định thông tin là đúng (John has been
taken ill). Đáng lưu ý là những gì Firbas mô tả FSP trong câu này sẽ được phân tích

đổi tuyến tính, cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ cảnh. Cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ cảnh hoạt
động hoặc cùng hướng hoặc ngược hướng với sự thay đổi tuyến tính (Firbas, [dẫn theo
Mona Baker]) nhưng cả hai theo thứ bậc thường ưu thế hơn sự thay
đổi tuyến tính. Ví
dụ, đại từ trừ các ngữ cảnh mà chúng được trình bày tương phản, vì phụ thuộc ngữ cảnh
nên chúng luôn mang mức độ CD thấp bất kể vị trí chúng xuất hiện trong mệnh đề.
Trong câu “I gave the book to him /I gave him the book”, “him” thường được xem là
“đề” theo lý thuyết FSP. Tương tự, các từ ngữ chỉ định được xem là “đề” và các từ ngữ
không chỉ định được xem là “thuyết”. Xin xem ví dụ sau:
• A heavy dew (thuyết) had (chuyển đề) fallen (đề).
• The grass (đề) was (chuyển đề) blue (thuyết).
Việc phân tích các thành phần mệnh đề theo FSP là một công việc phức tạp và
không dễ dàng ứng dụng như mô hình Halliday. Tuy nhiên, việc hiểu biết cơ bản về
quan điểm này có thể mang lại sự hữu ích cho người dịch.
4.3. Sự xếp tuyến tính và cấu trúc đánh dấu trong FSP
Vì các nhà lý thuyết FSP không công nhận vị trí câu là tiêu chí duy nhất để quy
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

45
vị trí đề cho các thành phần mệnh đề nên hệ quả là hai diễn đạt khác nhau, có cùng
thông tin có thể có cùng “đề”. Xin xem ví dụ:
• In China the book received a great deal of publicity.
• The book received a great deal of publicity in China.
Theo quan điểm FSP, “In China” đều xem là “thuyết” ở 2 diễn đạt trên. Trái lại,
đối với đường hướng Halliday “In China” là “đề được đánh dấu” ở ví dụ đầu nhưng lại
là “thuyết” ở ví dụ thứ hai. Vậy câu hỏi là liệu có một đề được đánh dấu (marked
theme) theo lý thuyết FSP không? Vì vấn đề tạo ra một đề đánh dấu bằng cách đặt một
thành phần ở vị trí đầu của mệnh đề giả định rằng ví trí đầu đó dành cho “đề”. Tuy
nhiên theo Mona Baker [1,165] các nhà lý thuyết FSP cùng thừa nhận có các cấu trúc
được đánh dấu và không đánh dấu ở từng ngôn ngữ. Dưới đây là sự giải thích của họ


46
-Văn bản tiếng Việt:
- Ảnh hưởng các yếu tố như thời gian khuấy, pH dung dịch, nồng độ bentonit,
nồng độ Cu2+ , nhiệt độ ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ Cu2+ trên betonit Thuận Hải
đã được khảo sát.
-Văn bản dịch tiếng Anh:
The influence of different factors such as shaking time, pH of aqueous solution,
amount of absorbent, Cu2+ on the Thuan Hai bentonit has been also investigated (7)
-Văn bản dịch tiếng Anh gợi ý:
The paper/the present author / we investigate(s) the influence of
Cấu trúc khiến tác (Ergative structure) cũng có thể cung cấp một chiến lược
tương tự như chiến lược thay đổi dạng. Khiến tác liên quan đến việc sử dụng một tân
ngữ của một ngoại động từ làm chủ ngữ của một nội động từ, ví dụ: “The government
developed the economy very fast in the 1980’s” và “The economy developed very fast
in the 1980’s”.
Chiến lược 2: Thay đổi động từ (change of verb)
Chiến lược này liên quan đến việc thay đổi một động từ với một động từ khác có
nghĩa tương đương nhưng có thể dùng cấu trúc cú pháp khác nhau, ví dụ: “She likes
very much the way George put it” và “The way George put it pleased her”.
Chiến lược 3: Danh hóa (nominalization)
Danh hóa liên quan đến việc thay hình thái một động từ bằng một hình thái danh từ
(ví dụ: describe>description) và thường kèm theo động từ “rỗng” về mặt ngữ nghĩa như
“give” “take” khi ở dạng bị động. Để minh hoạ tính hữu dụng của chiến lược danh hóa, có
lẽ ta nên xem xét chiến lược đó có thể được dùng để dịch tốt hơn một văn bản hiện có.
-Văn bản dịch tiếng Anh:
The influence of various factors such as trichloroacetic acid, rare earth
concentrations and salting out agent concentration on the distribution coefficient has
been studied.
-Văn bản dịch lại gợi ý:

Trung học chuyên nghiệp.
[6] Greenbaum, Sidney & Quirk Randolph (1990), A Student’s Grammar, Longman.
[7] Halliday, M.A.K (1985), An Introduction to Functional Grammar, Edward Arnold.
[8] Hatim, B. & Mason, I. (1990), Discourse and the Translator, Longman.
[9] Jacobs, Roderick A (1995), English Syntax, Oxford University Press.
[10] James, C. (1980), Contrastive Analysis, Longman.
[11] Larson, Mildred L. (1998), Meaning-based Translation, University Press of America.
[12] Lock, G. (1999) Functional English Grammar, Cambridge University Press.
[13] Lý Toàn Thắng (2004), Lý thuyết trật tự từ trong cú pháp, NXB Giáo dục.
[14] Matin, JR & et al. (1997), Working with Functional Grammar, Arnold.
[15] Newmark, P. (1998), A Textbook of Translation, Prentice Hall International.
[16] Nguyễn Hồng Cổn (2000), “Về sự phi đối xứng giữa hình thức và ý nghĩa trong
các đơn vị ngữ pháp”, Ngôn ngữ, số 7.2000, tr 36-47.
[17] Phan Ngọc (2000), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, NXB Trẻ.
[18] Pumpyanski (2002), Dịch văn bản khoa học và kỹ thuật sang tiếng Anh (Bản dịch
tiếng Việ
t của Đào Hồng Thu), NXB Khoa học – Kỹ thuật.
[19] Richards, Jack C & et al. (1992), Longman Dictionary of Language Teaching &
Applied Linguistics, Longman.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

48
[20] Swan, Michael (2005), Practical English Usage, Oxford University Press.
1. Đối với đề nhận dạng, Mona Baker [1, 136] cũng cho rằng “Cả đề vị ngữ lẫn đề
nhận dạng cũng thường kết hợp với sự tương phản ngầm (implicit contrast). Xin
xem 2 ví dụ sau của Mona Baker: It was the book (rather than something else)
which received a great deal of publicity in China: What the book received in China
was a great deal of publicity (rather than bad reviews). Về vấn đề nói trên Lock [
12,239] lại xem “cấu trúc - it”(đề vị ngữ ) cho phép người nói /viết quả quyết một
điều gì mạnh mẽ, thường tương phản với điều trước đó và “cấu trúc - wh” (đề nhân


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status