Thực hiện mục tiêu giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường phổ thông (khảo sát chủ yếu ở bậc tiểu học tại địa bàn TP hồ chí minh và 4 tỉnh, thành đồng nai, bình dương, lâm đồng, đà nẵng) - Pdf 32

THỰC HIỆN MỤC TIÊU GIÁO DỤC THẨM MỸ
TRONG NHÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG
Khảo sát chủ yếu ở bậc tiểu học tại địa bàn
TP Hồ Chí Minh và 4 tỉnh, thành Đồng Nai,
Bình Dƣơng, Lâm Đồng, Đà Nẵng

TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
do Trƣờng Đại học Sƣ phạm TP Hồ Chí Minh quản lý
Chủ nhiệm đề tài: Tiến sĩ Lâm Vinh

TP Hồ Chí Minh 1999 - 2000


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
THỰC HIỆN MỤC TIÊU GIÁO DỤC THẨM MỸ
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY CÁC BÔ MÔN NGHỆ THUẬT
Ở NHÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG
Cơ quan chủ quản
Loại đề tài
Chủ nhiệm đề tài
Thành viên cộng tác

Cố vấn chuyên môn

: Trƣờng Đại học Sƣ Phạm TP Hồ Chí Minh
: Liên ngành khoa học cơ bản (mỹ học, nghệ thuật học) và khoa học
giáo dục.
: PTS Lâm Vinh - Bộ môn Mỹ học - Nghệ thuật học Khoa Ngữ văn,
ĐHSP.TP.HCM.

Từ tháng 4.98: triển khai tại TP.HCM
Từ tháng 12.98: triển khai tại các tỉnh
Theo dự kiến ban đầu, đề tài nhằm đối tƣợng cả ba cấp học trƣờng phổ thông và thực
hiện những bƣớc khảo sát đầy đủ ở địa bàn 4 tỉnh thành, về sau do điều kiện, phƣơng tiện và
nhân lực không đáp ứng đƣợc, nên có điều chỉnh: trọng tâm nghiên cứu ở bậc tiểu học và lấy
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh làm trọng điểm, đồng thời cố gắng mở rộng ở một số mặt tại
4 tỉnh: Đồng Nai, Bình Dƣơng, Lâm Đồng, TP Đà Nẵng. Quá trình tập hợp tƣ liệu ở diện
rộng và phức tạp và những hạn chế chủ quan của ngƣời nghiên cứu đã kéo dài việc tổng kết
đề tài này
Mục tiêu của đề tài đã đƣợc đề ra từ đầu gồm hai phần: Những quan điểm lý thuyết và
khảo sát thực tế. Đó cũng là bố cục của bản Tổng kết này.


PHẦN 1: NHỮNG QUAN ĐIỂM LÝ THUYẾT
Một quan niệm giáo dục toàn diện trong nhà trƣờng phổ thông đƣợc qui tụ trong một
công thức mang tính truyền thống và cổ điển, đó là trí dục, đức dục, thể dục và mỹ dục.
Không biết từ bao giờ và ai đã phát minh ra công thức đó, với một nội dung hoàn chỉnh, một
cấu trúc hữu cơ, chặt chẽ, liên hoàn, đẹp nhƣ một bộ tranh tứ bình về cảnh tứ thời (xuân, hạ,
thu, đông), tứ hữu (mai, lan, cúc, trúc), khó cắt rời, khó thêm bớt. Hoàn chỉnh, vì nó phản ánh
đƣợc cả ba loại hình giá trị chân, thiện, mỹ, thêm vào thể dục - hội đủ mục tiêu giáo dục
ngƣời học sinh toàn diện. Hữu cơ, chặt chẽ vì trong mỗi mặt của giáo dục phải có cả ba mặt
kia, chúng đều "có trong nhau": trong trí dục phải bao hàm cả đức dục. mỹ dục, và cả giáo
dục thể chất. Đức dục phải thấm nhuần trong nội dung cả ba mặt kia...Liên hoàn. vì nó phản
ánh trình tự líu tiên của từng mặt đối với chức năng của trƣờng phổ thông: dạy văn hóa, giáo
dục đạo đức, rèn luyện thể chất và giáo dục thẩm mỹ. Mỹ dục, đứng ở cuối bảng, nhƣ là nét
vẽ cuối cùng tạo nên sự toàn mỹ của bức tranh giáo dục, cũng là tạo nên sự hoàn thiện của
phẩm chất con ngƣời.
Giáo dục con ngƣời phát triển toàn diện vừa là một mục tiêu của giáo dục, vừa là một
ƣớc mong, nguyện vọng của con ngƣời và của xã hội. Nhƣng mục tiêu giáo dục toàn diện lại
là một phạm trù có tính biện chứng - lịch sử, không phải nhất thành bất biến. Mỗi dân lộc,

về giáo dục trí tuệ, nâng cao hiểu biết, những môn về nghệ thuật thiên về giáo dục tình cảm,
nâng cao tâm hồn. Qua nhạc, múa, vẽ, nặn, thêu thùa, đan lát, các em tiếp xúc với cái đẹp, với
âm thanh và màu sắc trong nghệ thuật, trong cuộc sống, trong thiên nhiên, rèn luyện cảm xúc
và óc tƣởng tƣợng, rèn luyện giác quan và sự linh nhạy, khéo léo để đi vào lao động và giao
tiếp xã hội. Không phải âm nhạc và hội họa chỉ có vai trò mỹ dục, giáo dục tình cảm, nó còn
góp phần rèn luyện trí lực, bồi dƣỡng trí thông minh, sáng tạo. Không có ranh giới tuyệt đối
giữa khoa học và nghệ thuật. Nhà bác học Anhxtanh đã có lần phát biểu rằng Đôtxtôiepxki dã
đem lại cho ông " nhiều hiểu biết hơn bất cứ một nhà khoa học nào, kể cả Gauss" ngƣời vốn
đƣợc mệnh danh là "ông vua của toán học".
Điều ai cũng biết, sau khi thoái khỏi nền giáo dục giáo điều thời trung cổ, các quốc
gia đi vào nền giáo dục mới, đã mở rộng mọi tầm nhìn thế giới cho con ngƣời. Ở nhiều nƣớc,
âm nhạc và hội họa đƣợc dạy từ mẫu giáo đến hết cấp 3. Và không chỉ có âm nhạc, cả múa và
các nghệ thuật khác, trong nội và ngoại khóa, cùng với văn chƣơng, trở thành một chƣơng
trình mỹ dục hoàn chỉnh. Các sách giáo khoa văn học có in kèm các bức danh họa và học
sinh phải làm bài tập phân tích tranh. Trong các bảo tàng mỹ thuật, ngƣời ta thƣờng gặp thầy
cô giáo dắt từng tốp học sinh đi xem tranh, tƣợng và các em luôn phải trả lời những câu hỏi
của thầy cô về các tác phẩm, về các nhà danh họa. Tại Nhật Bản, học sinh đƣợc học vẽ và học
cách chọn màu theo phong cách dân tộc. Tại Trung Quốc, học sinh đƣợc học thứ kí âm phổ
cập bằng con số nên đã tự ghi nhạc và xƣớng âm dễ dàng. Trƣờng Đại học sƣ phạm của một
tỉnh nhƣ Quảng Tây (lại Quế Lâm) có một khoa Nghệ thuật rất qui mô, chuyên đào tạo giáo
viên âm nhạc và mỹ thuật.
Ở nƣớc ta, ngay trƣớc năm 1945, tuy nền giáo dục bị thực dân thao túng, nhƣng vì
phải dựa theo chƣơng trình có sẵn từ chính quốc - một nƣớc phát triển, nên bậc tiểu học,
trung học cơ sở đã dạy các môn nghệ thuật. Lớp ngƣời lớn tuổi hiện nay đã trải qua các nhà
trƣờng thời đó vẫn chƣa quên những môn học này, cùng với những bài "quốc văn giáo khoa
thƣ" có tác dụng mỹ cảm nhƣ thế nào ở tuổi thơ ấu của mình.
Trải qua nửa thế kỉ của nền giáo dục, phần vì chiến tranh, phần vì sự tác động của
những quan niệm phiến diện, biệt lập về mục tiêu giáo dục, làm cho vai

3

phẩm gì, của ai, họ gọi nhầm đàn nguyệt là đàn tranh, và không biết thành phố này có một
Bảo làng Mỹ thuật.
Nhƣng hậu quả không chỉ đến đó. Một chuyện "thâm cung bí sử" đăng trên tuổi trẻ số
ra ngày 30-10-1997: 90% ca sĩ hoàn toàn không biết nhạc lý, kí xƣớng âm, chỉ học truyền
miệng. Khi cần thu băng, thu đĩa (!) thì học truyền miệng, đƣợc câu nào thu câu ấy. Điều thật
khó tƣởng tƣợng đƣợc về trình độ văn hóa âm nhạc của một nƣớc đang đi vào giai đoạn công
nghiệp hóa, hiện đại hóa! Nếu các ca sĩ này đƣợc học mỗi tuần một tiết âm nhạc lừ cấp I lên
cấp II thời còn đi học thì đâu đến nỗi. Thế là gieo sao gặt vậy, đó là hậu quả dây chuyền từ
mấy mƣơi năm để lại

4


Ở đây hoàn loàn chƣa nói đến giáo dục mỹ cảm qua văn chƣơng. Khi ở cấp I lấy môn
tiếng (Tiếng Việt) đại diện cho cả môn văn, và một xu hƣớng "lí trí hóa", "chƣơng trình hóa"
tác phẩm văn chƣơng trong một số giờ giảng văn ở các cấp phổ thông, đã đƣa môn văn trở
thành xa lạ với mục tiêu mỹ dục, chỉ còn tác dụng trí dục hay đức dục.
Tuy nhiên, cuộc sống vẫn nhƣ một dòng chảy, xu thế chung của công cuộc đổi mới
vẫn lôi cuốn lớp trẻ tham gia vào các hoạt động văn hóa nghệ thuật thật sôi nổi. Mặc cho con
thuyền giáo dục nghệ thuật trong nhà trƣờng còn cắm neo chờ đợi, họ kéo nhau đến các nhà
văn hóa, câu lạc bộ, lận dụng các phƣơng tiện nghe nhìn, phƣơng tiện truyền thông, mày mò
học hỏi và học lẫn nhau. Nhiều dấu hiệu về tình yêu nghệ thuật và tài năng đang đƣợc phát
hiện qua các phong trào đó. Tuy nhiên sự học hỏi không bài bản ngoài nhà trƣờng đã đƣa đến
tình trạng học tủ, học lỏi và học đƣợc của nƣớc ngoài nhiều hơn là học từ dân tộc mình. Còn
với ngành giáo dục, phải ghi nhận sự cố gắng của một số địa phƣơng, một số trƣờng và thầy
cô giáo rất tâm huyết, chủ động chăm lo giáo dục nghệ thuật cho học sinh, tuy đó còn là hiện
tƣợng thƣa thớt và cá biệt giữa một cao trào dạy chữ, luyện thi vì các con số chỉ tiêu.
Sự điều chỉnh vài năm nay của ngành giáo dục về việc biên soạn chƣơng trình, xuất
bản sách giáo khoa nghệ thuật, khuyến khích địa phƣơng tự lo đào tạo, bồi dƣỡng giáo viên...
đang cải thiện dần tình hình. Nhƣng mỹ dục vẫn còn là một khoảng trống vắng rất lâu dài trên

Tìm hiểu thực tế giáo dục thẩm mỹ qua các môn nghệ thuật cấp Tiểu học tại 5 địa
phƣơng: Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh Đồng Nai, Tỉnh Bình Dƣơng, Tỉnh Lâm Đồng, TP
Đà Nẵng, thông qua các tài liệu sau:
- Các báo cáo Thống kê tình hình môn học và giáo viên nhạc hoạ của các địa phƣơng
(cấp Sở, Phòng GDĐT).
- Các thông tin ghi theo Phiếu điều tra về các trƣờng.
- Các báo cáo tổng hợp của cấp lãnh đạo Sở - Phòng.
Những tài liệu trên thực hiện theo mẫu của BCN đề tài đƣa đến làm việc với địa
phƣơng.
(Kèm theo những văn bản tổng hợp, tóm tắt là các tài liệu thu trực tiếp từ các địa
phƣơng nói trên ).
Những cán bộ công tác trực tiếp với đề tài:
- TP Hồ Chí Minh : TP. GD Tiểu học , Phó phòng GDTH, chuyên viên phụ trách bộ
môn.
- Đồng Nai : Q. Trƣởng Phòng GDTH.
- Bình Dƣơng : Trƣởng Phòng GDTH.
- Lâm Đồng : Trƣởng Phòng GDTH.
- Đà Nẵng : P. Giám đốc Sở GD, Trƣởng Phòng GDTH



7


PHẦN 2 KHẢO SÁT THỰC TẾ
A. NHÌN LẠI MỘT QUÁ TRÌNH - CÁI NHÌN TOÀN CỤC
Từ ý kiến của vị Bộ trƣởng
Đông đảo phụ huynh học sinh và những ngƣời có quan tâm đến giáo dục rất hoan
nghênh cuộc trao đổi ý kiến về tình trạng dạy và học ở nhà trƣờng tiểu học trên báo Tuổi Trẻ
vào thƣợng tuần tháng 3 vừa qua (*) nhất là có hồi âm kịp thời của hộ trƣởng Bộ Giáo dục Đào tạo: "ngành sẽ có những sửa đổi, bổ sung về nội dung, chương trình và phương pháp của

điểm là điểm giả (vì bài kĩ thuật, vẽ học sinh đem về nhờ ngƣời khác làm). Nếu có trƣờng
nghiêm túc thực hiện 9 môn, thì không tránh khỏi tình trạng ép dạy và dạy ép; thầy cô không
hát đƣợc vẫn dạy hát, thầy giáo đi dạy thêu, thầy dạy thể dục không thạo động tác... "Nhiều
chuyện cƣời ra nƣớc mắt dành cho các thầy cô có ý thức trách nhiệm chấp hành" (Tuổi Trẻ,
3.1.98 bài "Ai dạy ?"). Tất nhiên không thể đặt ngang bằng tầm quan trọng của các môn, cần
có môn chính, môn phụ vì chức năng của trƣờng phổ thông trƣớc hết là dạy chữ, dạy văn hóa
(nghĩa hẹp), là nhằm giáo dục trí dục (loại hình trí dục để hàng đầu là vậy). Nhƣng giáo dục
toàn diện là mục tiêu phải hoàn tất, mới có con ngƣời toàn diện.Chấp nhận có môn phụ,
nhƣng phụ môn

(*)

3.1998

9


phụ, gạt môn phụ lại là việc hoàn toàn khác, thuộc quan điểm giáo dục, không còn là chƣơng
trình hay phƣơng pháp giáo dục nữa.
Mục tiêu giáo dục con ngƣời toàn diện là một khái niệm biện chứng lịch sử, không
phải là một khái niệm cứng nhắc, bất biến. Mỗi thời, mỗi dân tộc mỗi đất nƣớc có thể có mẫu
ngƣời toàn diện khác nhau, tùy theo yêu cầu và điều kiện giáo dục. Thời phong kiến, đàn ông,
con trai phải văn võ toàn tài, cầm kì thi họa, con gái phải đủ công dung ngôn hạnh. Thời đất
nƣớc có chiến tranh khái niệm toàn diện bị thu hẹp lại, vì có những mặt không có điều kiện
thực hiện. Nhƣng bất cứ thời nào, nơi nào, muốn giáo dục con ngƣời chân chính cũng phải
vƣơn tới ba giá trị chân - thiện - mỹ, giáo dục học sinh phải đủ 4 mặt trí đức, thể, mỹ. Xã hội
và con ngƣời thiếu đi một trong ba và bốn loại hình giá trị đó, sẽ không thể hoàn thiện, trở
thành méo mó, hụt hẫng.
Kỹ thuật, mỹ thuật, hát - nhạc cùng với văn chương trong nhà trƣờng là những môn
học cụ thể, không bao gồm toàn bộ nội dung mỹ dục, nhƣng đóng vai trò nòng cốt thực hiện

TT 30/10/97, bài: "Ca sĩ mù nhạc thật ƣ ?") Đầu năm 1998 có cuộc thi "Âm nhạc và giới "trẻ"
đƣợc truyền hình trực tiếp. Khán giả theo dõi và chứng kiến những tập thể đội tuyển của các
trƣờng đại học đƣợc cử lên bao gồm những đại biểu sinh viên sành nhạc nhất, có thể kể và
hát thông thạo những bài hát tiếng Anh nhƣng không một ai xƣớng âm nổi đƣợc một câu
nhạc đơn giản viết trên bảng. Dƣ luận có tỏ nhiều lời khen khả năng "uyên bác" về âm nhạc
của các sinh viên dự thi, nhƣng đi vào thực chất mọi khả năng âm nhạc đều học theo lối nghe
theo và truyền miệng. Chứng tỏ, nhờ kinh tế thị trƣờng, các phƣơng tiện nghe nhìn phát triển
đã giúp cho lớp trẻ học chay, học truyền miệng, học lỏi đƣợc những tri thức về nghệ thuật.
Công đó là của phƣơng tiện nghe nhìn, không thuộc về nhà trƣờng. Cái thiếu của họ là trình
độ tối thiểu về khoa học - văn hóa âm nhạc. Một số nhạc sĩ lớn tuổi ƣu tú của ta có ngƣời
không qua nhạc viện, nhƣng tuổi nhỏ của họ đã từng đƣợc học âm nhạc đầy đủ ở nhà trƣờng
và gia đình. Việc không đƣợc học mà vẫn hoạt động âm nhạc, khiến cho cả một lớp ngƣời trẻ
trở thành những nghệ nhân ca hát truyền khẩu, lùi về hình thái âm nhạc dân gian thời trung
cổ. Một điều đáng buồn và khó tin, nhƣng đó là sự thật. Không lấy làm lạ khi lên lớp các giờ
mỹ học, nghệ thuật học, giảng viên hỏi có biết Tô Ngọc Vân là ai, thì cả giảng đƣờng im
lặng. Hỏi đến bức tranh Lajocond, hiện đang có phiên bản ở nhiều cửa hàng, là của tác giả
nào, thời nào, rất nhiều sinh viên không hề biết
Bao nhiêu năm, do quan niệm thiếu sót về mục tiêu giáo dục con ngƣời toàn diện,
không quan tâm đến các mặt khác ngoài việc dạy văn hóa, dạy chữ, đã đƣa đến hậu quả hiện
nay cả trong nhà trƣờng và ngoài xã hội. Những hụt hẫng vẫn sẽ còn tiếp tục bộc lộ trong
trình độ dân trí về văn hóa nghệ thuật. Nhà trƣờng tiểu học không có giáo viên đủ năng lực
giảng dạy, dù là yêu cầu ở mức độ tƣơng đối, về các môn nghệ thuật. Cần bổ sung giáo viên
chuyên dạy về nghệ thuật, thì cấp 2 cũng thiếu vắng nói chi cấp 1.
Do đó chƣơng trình 9 môn, 11 môn ở tiểuu học tuy là một bƣớc tiến, nhƣng tiếc thay,
đó chỉ là một chƣơng trình lý tƣởng, nếu không nói là ảo tƣởng, khi đem đối chiếu với khả
năng thực hiện.
Một giải pháp chậm chạp, nửa vời:
dạy hay không dạy, đào tạo hay không đào tạo ?
Thông tin năm 1993:
"Hiện cả nước có khoảng 13 000 trường PTCS, nhưng cấp 1 hầu như không có giáo

thời khóa biểu ở nhà trƣờng cấp I, II đã từng hiện diện các môn nhạc, họa. Nhƣng việc giáo
dục nghệ thuật trong các trƣờng phổ thông "thường bị coi nhẹ, thả nổi, không có chiến lược
cho môn học, nhiều nơi bỏ trống hoàn toàn," và đó là "một vướng mắc "kinh niên" kéo dài
suốt 30 - 40 năm" (GDTĐ 22 - 3 - 98)
Tình trạng thiếu vắng giáo viên ở cấp II đã nghiêm trọng, nói chi cấp I, giáo viên
chuyên trách hoàn toàn không có. Nhƣng do ảnh hƣởng dây chuyền, các giáo viên cấp I trƣớc
đây không đƣợc đào tạo toàn diện (môn nhạc họa học hiếu lệ và không xem là môn thi tốt
nghiệp), nay không thể có đủ khả năng để dạy cả văn hóa và hát, nhạc, vẽ, thủ công ... Do sự
thúc bách của chỉ thị dạy 9 môn, các trƣờng "ép dạy", và các thầy cô phải "dạy ép", thế là
"nhiều chuyện cười ra nước mắt dành cho các thầy cô có ý thức trách nhiệm chấp hành”, vì
không hát đƣợc phải dạy hát, phải đi dự lớp bồi dƣỡng âm nhạc, thầy phải thay cô dạy trò
thêu thùa, dạy thể dục thì thầy quên động tác v.v... (TT 3-1-1998, bài "Đi dạy?") Để đỡ phiền
thầy cô, lại có thêm giờ dạy "môn chính", thầy cô ra đề về nhà làm, kết quả là điểm kỹ thuật
và vẽ rất khả quan, vì các em nhờ các "chuyên gia" ở nhà làm hộ. Lại một sự bẽ bàng cho
thân phận của môn phụ: vừa ở vị trí lẽ mọn, vừa đeo mề đay giả (TT 12-1997, bài "Đi học?",
TY 5-3-98, bài "Khổ quá...")

13


Tất nhiên không thể đặt bằng tầm quan trọng của các môn. Không chỉ cấp I, II, mà
bậc học nào cũng có môn chính, môn phụ. Trí dục đặt trƣớc thể dục, mỹ dục là vậy. Nhƣng
trên thực tế, môn phụ đã trở thành môn "tùy nghi thực hiện", lại là việc khác hoàn toàn.
Trong tình thế phải thực hiện chỉ thị "dạy đủ", bao nhiêu cán bộ quản lí và giáo viên
có trách nhiệm đã phải lo lắng trăn trở, tìm cô tìm thầy, bố trí thời gian để dạy có kết quả,
nhƣng rồi nơi này làm tốt, nơi khác không làm, cũng chẳng sao. Áp lực về các môn văn hóa,
"môn chính", các cuộc thi, lại tiếp tục lôi cuốn làm nản lòng những nhà trƣờng và thầy cô có
ý thức giáo dục toàn diện.
Chỉ có chỉ thị phải dạy các môn nghệ thuật, nhƣng không có sự khẳng định vị trí các
môn này trong bảng điểm thi cử, lên lớp. Thực tế việc dạy các môn nghệ thuật hiện nay vẫn

hình giảng dạy các môn nghệ thuật, phòng đã giúp BCN đề tài gửi đến các Phòng Giáo dục
trong thành phố thu thập tƣ liệu về tình hình giáo viên và số liệu trƣờng lớp.
Đặc biệt Phòng Giáo dục Tiểu học cùng BCN tổ chức một chuyến đi tham quan giao
lƣu với Phòng GD Tiểu học tỉnh Đồng Nai trong dịp Đồng Nai tổ chức chung khảo ca múa
nhạc họa của học sinh tiểu học toàn tỉnh. Đoàn của TpHCM có các cán bộ lãnh đạo và
chuyên viên Phòng GDTH, Ban chủ nhiệm đề tài với các công tác viên là cán bộ giảng dạy,
hoạ sĩ ... Qua cuộc giao lƣu, thấy đƣợc sự nỗ lực của Đồng Nai trong tổ chức Giáo dục ngoại
khoá về nghệ thuật và những vấn đề khó khăn còn lại của giáo dục nội khoá. Phó Giám đốc
Sở GDĐT tỉnh Đồng Nai đã đến dự và tiếp xúc với Đoàn TPHCM.
Đến Sở GDĐT tỉnh Bình Dƣơng và Lâm Đồng các đồng chí Trƣởng Phòng nhiệt tình
đón tiếp và giao hẹn tích cực hợp tác thực hiện mục tiêu của đề tài. Những biểu mẫu của đề
tài đƣợc các trƣởng phòng giáo dục các huyện thị thực hiện điều tra thống kê rất nghiêm túc.
Tại Đà Nẵng, Phó Giám đốc Sở GDĐT trực tiếp làm việc với đề tài và đã huy động
cán bộ các Phòng giúp đề tài thực hiện các công việc điều tra nghiên cứu, ý kiến tổng kết
cũng do Phó Giám đốc Sở trực tiếp phát biểu.
Công việc nghiên cứu của đề tài tiến hành cụ thể nhƣ sau:
- Soạn các biểu mẫu để cấp Phòng (Quận, huyện) thống kê tình hình trƣờng lớp dạy
nhạc, hoạ, kỹ thuật và số lƣợng giáo viên hiện diện đến thời điểm 1998 (gồm chuyên trách và
hợp đồng, tốt nghiệp sƣ phạm chính quy hoặc qua bồi dƣỡng . . . )
- Soạn các Phiếu phỏng vấn - tìm hiểu ở cấp trƣờng, cử ngƣời trực tiếp đến tận nơi
gặp Ban Giám hiệu để làm việc (có sự giới thiệu của Phòng Giáo dục Tiểu học), Về phỏng
vấn cấp trƣờng, chủ yếu thực hiện ở TPHCM và Bình Dƣơng

15


Kết quả
Các quận, huyện đã làm thống kê về tình hình giảng dạy và tình hình giáo viên các
môn nghệ thuật:
. TP Hồ Chí Minh :

Hồ Chí Minh ngày 09 - 9 - 1998, thì:
1. Năm học 1997 - 1998, thành phố đã có chuyển biến đáng kể về việc thực hiện dạy
đủ 9 môn theo đúng quy định chỉ thị năm học của Bộ Giáo dục - Đào tạo:
Trong đó có: "-Kiểm tra thống nhất toàn trƣờng với các môn: Kỹ thuật, Mỹ thuật. Hát
(Nhạc). Thể dục và các môn tự chọn" (tr.7)
"-Tổ chức hội thảo, tập trung chú ý vào các môn vừa thay sách vừa ít tiết, nhƣ Khoa,
Sử Địa, Nhạc, Hoa ..." (tr.8)
"-Đặc biệt chuyện đề Múa tập thể sân trƣờng đã đƣợc nhiều quận huyện chú ý hƣớng
dẫn các trƣờng thực hiện có hiệu quả (Quận 3, 4, 5, 6, 8)" (tr.8)
2. Đối chiếu học sinh xếp loại ở từng môn học:
- Loai Giỏi :
1996-1997
1997-1998

Mỹ thuật
16,6
19,9

Hát Nhạc
28,3
33,3

(trg.11)

Cả 2 môn đều tăng tỷ lệ học sinh giỏi
- Loại Yếu :
1996-1997
1997-1998

Mỹ thuật

397 Giáo viên Nhạc và
413 Giáo viên Mỹ thuật
Nếu có thêm số liệu từ 3 quận còn thiếu thì có lẽ con số trên sẽ xấp xỉ năm trăm giáo viên cho
mỗi môn. Nghĩa là cả 2 môn Nhạc và Mỹ thuật còn thiếu một ngàn (1000) giáo viên chuyên
trách!
NHẬN ĐỊNH RÚT RA TỪ CUỘC ĐIỀU TRA - PHỎNG VẤN
20 TRƢỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
1. Các trƣờng đều cố gắng huy động khả năng tự có về giáo viên và phƣơng tiện để
dạy các môn nghệ thuật (không có giáo viên biên chế, trƣờng mời giáo viên hợp đồng, tự tạo
phƣơng tiện dạy học).
2. Tất cả các trƣờng đều thiếu giáo viên. Trừ hai trƣờng có giáo viên biên chế, 18
trƣờng không có giáo viên biên chế.
3. Tất cả các trƣờng đều đề nghị nhƣ nhau: đề nghị đào tạo giáo viên chuyên trách dạy
các môn nghệ thuật. Loại giáo viên đó hầu nhƣ vắng bóng. Dạy kiêm nhiệm gƣợng ép không
thể có chất lƣợng và không gây hứng thú cho học sinh
4. Hầu hết các trƣờng đều thiếu tài liệu, thiếu những phƣơng tiện dạy học (mẫu vẽ,
tranh minh họa, bài hát cũ không đƣợc thay, không có băng nhạc, đặc biệt là nhạc cụ...)
5. Chƣơng trình nhiều chỗ chƣa hợp lý (quá nặng nhƣ nhạc lớp 1, vẽ lớp 1, 2... với
học sinh thành phố hoặc nông thôn cùng một loại bài không có những bài cho hoàn cảnh, đối
tƣợng riêng (Thí dụ: 'Mục Vƣờn Trƣờng' hoàn toàn không có ở nhiều trƣờng đô thị)

18


UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO


toàn diện.
Trong những năm trƣớc đây (khi chưa có chủ trương dạy đủ 9 môn) do nhận thức
chƣa đầy đủ, việc giảng dạy các môn này còn tùy tiện, hiệu quả chƣa cao; hơn nữa do chƣơng
trình chƣa hợp lý và ổn định, công tác chỉ đạo và đánh giá còn xem nhẹ. Vì vậy, hiệu quả
giảng dạy chƣa đạt yêu cầu, chƣa đáp ứng mong muốn chung.

19


Từ khi có chủ trƣơng dạy đủ 9 môn, việc giảng dạy đi vào nề nếp và từng bƣớc nâng
cao hiệu quả giảng dạy các bộ môn nghệ thuật này.
II/- Tổng hợp tình hình và số liệu về vấn đề: Tình hình trƣờng lớp, tình hình thực
hiện chƣơng trình, tình hình đội ngũ giáo viên.
Toàn thành phố có 80 trƣờng. Trong đó, có 76 trƣờng Tiểu học, 1 trƣờng PTCS, 1
trƣờng Tiểu học, THCS - PTTH và 2 trƣờng Khuyết tật. Tất cả các trƣờng trừ trƣờng Tƣơng
Lai (Tật câm điếc) đều dạy đủ 9 môn bắt buộc do Bộ qui định. Hếu hét, do giáo viên không
chuyên giảng dạy. Riêng đối với 1 số trƣờng dạy chƣơng trình 2 buổi/ngày - bán trú, việc
giảng dạy các môn nghệ thuật này đƣợc chú ý hơn, trƣờng dã tự tìm nguồn và hợp dồng giáo
viên chuyên giảng dạy.
Việc thực hiện chƣơng trình các bộ môn nghệ thuật, cho tới nay, đã đi vào nề nếp,
đảm bảo tƣớng đối các yêu cầu kiến thức - kĩ năng do Bộ qui định : dạy đủ tiết, không cắt
xén, dồn ghép tiết; tuy nhiên chất lƣợng chƣa thật đồng đều, chƣa thật cao.
III. Những thuận lợi - khó khăn - những cố gắng lớn trong quản lý các cấp: giáo
viên - phụ huynh trong việc thực hiện kế hoạch, mục tiêu giáo dục toàn diện:
1. Thuận lợi:
- Từ sau ngày chia tách địa bàn hành chính, thành phố Đà Nắng đƣợc thu gọn, địa bàn
quản lý hẹp.
- Các trƣờng nội thành có nhiều điều kiện, trang bị khá đầy đủ các thiết bị dạy học của
các bộ môn.
- Phu huynh quan tâm đến việc học lập của con em.

- Phân công chuyên viên theo dõi, chỉ đạo trực tiếp việc thực hiện chƣơng trình việc
đánh giá xếp loại môn học theo đúng tinh thần TT 15.
b.Phòng GD-ĐT:
- Cũng nhƣ ở Sở, các PGD - ĐT đều cử chuyên viên theo dõi, chịu trách nhiệm nắm
tình hình việc tổ chức giảng dạy và thực hiện chƣơng trình.
- Thƣờng xuyên thao giảng, rút kinh nghiệm giải đáp thắc mắc và từng bƣớc giúp giáo
viên (không chuyên) khắc phục các khó khăn trong giảng dạy để nâng cao hiệu quả các giờ
dạy.
c. Trường Tiểu học:
- Những trƣờng có điều kiện đều tổ chức hợp đồng các giáo viên chuyên giảng dạy
các bộ môn nghệ thuật này. Đầu tƣ kinh phí (bằng nhiều nguồn: kinh phí ngành - kinh phí
huy động của PHHS ...) mua sắm trang thiết bị, xây dựng phòng bộ môn ... Nhờ vậy chất
lƣợng dạy - học đã có chuyển biến khá rõ nét.
- Ở những trƣờng chƣa có điều kiện, lãnh đạo trƣờng đã đi sâu đi sát chỉ đạo; không
để giáo viên tự cắt xén giờ giấc, nghiêm cấm việc dạy qua loa lấy lệ bắt học sinh hoàn thành
sản phẩm ở nhà. Chỉ đạo chặt chẽ việc đánh giá bài làm sản phẩm của các em tại lớp.
- Tổ chức cho các em tham gia cuộc thi vẽ tranh theo đề tài; tổ chức triển lãm tranh.

21


d. Phụ huynh học sinh:
- Quan tâm đến việc học tập của con em, mua sắm khá đầy đủ các dụng cụ học tập.
Các trƣờng nội thành, 80% học sinh có bộ lắp ráp kĩ thuật, bộ mạch diện.
- Thƣờng xuyên góp ý cho nhà trƣờng, giáo viên trong việc giảng dạy, đánh giá bài
làm.
- Đóng góp kinh phí cho trƣờng dể xây dựng các phòng chức năng.
IV. Nhận định chung về kết quả giảng dạy, giáo dục và những đề xuất, đề nghị
với cấp trên:
Trong những năm qua, do đƣợc đầu tƣ và quan tâm đúng mức, chất lƣợng giảng dạy

Stt
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
l1
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Trƣờng tiểu học
Nguyễn Thi
Nguyễn Việt Hồng
Trần Quang Diệu
Rạch Ông
Nguyễn Nhƣợc Thị
Bình Đông
Trần Nguyên Hãn

Bình Chánh
Gò Vấp
Gò Vấp
Gò Vấp
Gò Vấp

Địa chỉ
448/6 Lê Văn Sĩ
300 CMT8
388 Lê Văn Sĩ
248 Dƣơng Bá Trạc P2
2 Bến Nguyễn Nhƣợc Thị
58 Bến Phú Định P16
45 Trần Nguyên Hãn P13
157 Tô Hiến Thành P12
8359512
425 Đƣờng 3-2
72B Nguyễn Lâm
438 Ngô Gia Tự
288 Hùng Vƣơng nối dài
Xã Đa Phƣớc
Xã Tân Tạo
Ấp 3 xã Bình Chánh
1A Quang Trung P10
Đƣờng Thống Nhất P16
18/138 Nguyễn Du

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status