LUẬN VĂN
CÁC HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG MÔI
TRƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô cùng toàn thể các bạn để em có điều
kiện bổ sung, nâng cao kiến thức phục vụ cho công việc thực tế sau khi tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn.
TP.HCM. ngày 16 tháng 4 năm 2012
Sinh viên thực hiện Nguyễn Trần Thiên Di
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
ii
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
LỜI CAM ĐOAN
Là sinh viên năm cuối của trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ, nay được vinh
dự làm bài Chuyên Đề Tốt Nghiệp để hoàn tất chương trình học của mình và ra trường.
Em rất tự hào khi mình là người được thực hiện bài chuyên đề này, do đó em thấy mình
phải có trách nhiệm thực hiện tốt bài khóa luận này, em xin cam đoan không sao chép nội
dung bài khóa luận của người khác dưới bất kỳ hình thức nào. Những số liệu và nội dung
trong bài làm này đều được cho phép thu thập một cách trung thực.
Vì những lý do trên, em thấy mình phải có trách nhiệm thực hiện đúng với những gì
đã cam đoan như trên, thực hiện đúng và không có bất cứ sai phạm gì.
TP.HCM. ngày 16 tháng 4 năm 2012
Sinh viên thực hiện Nguyễn Trần Thiên Di
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
iii
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
2.2.2 Truyền thông môi trƣờng 12
2.2.2.1 Tại sao lại cần truyền thông môi trƣờng 12
2.2.2.2 Nguyên tắc của truyền thông môi trƣờng 13
CHƢƠNG 3: CÁC HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG MÔI TRƢỜNG TẠI CÁC
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH 14
3.1 CÁC CHỦ TRƢƠNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƢỚC VÀ NGÀNH GIÁO DỤC
ĐÀO TẠO VỀ BVMT – GDMT 14
3.1.1 Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 15/11/2004 về “BVMT trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc” 14
3.1.1.1 Một số nội dung quan trọng của Nghị quyết 14
3.1.1.2 Các giải pháp thực hiện 14
3.1.2 Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ số 1363/QĐ –TTG ngày 17/10/2001
về việc phê duyệt dự án “Đƣa nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”
15
3.1.2.1 Mục tiêu của dự án 15
3.2 CÁC TỔ CHỨC TRUYỀN THÔNG MÔI TRƢỜNG 16
3.2.1 Tổ chức Đoàn thanh niên- Hội sinh viên 16
3.2.2 Một số tổ chức truyền thông về môi trƣờng 18
3.2.2.1 Hội bảo vệ thiên nhiên môi trƣờng Việt Nam (VACNE) 18
3.2.2.2 Trung tâm truyền thông bảo vệ môi trƣờng (Media Center
Environment Protection) 18
3.2.3 Một số tổ chức phi chính phủ về truyền thông môi trƣờng 19
3.2.3.1 Trung tâm Phát triển Sáng kiến Cộng đồng và Môi trƣờng (C&E) 19
3.2.3.2 Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD) 19
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
v
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
3.2.3.3 Tổ chức hành động vì môi trƣờng 20
3.2.3.4 Tổ chức 350.org 20
CHƢƠNG 4: CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG MÔI TRƢỜNG TẠI TP. PHAN
5.1.1 Biện pháp về nguồn lực và tổ chức 45
5.1.2 Phát triển hệ thống truyền thông môi trƣờng 46
5.1.3 Nội dung thông điệp truyền thông môi trƣờng 46
5.2 XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG MÔI TRƢỜNG 47
5.2.1 Chƣơng trình giáo dục truyền thông môi trƣờng thông qua các cuộc thi
triễn lãm tranh ảnh, thông qua các buổi sinh hoạt tọa đàm tại các trƣờng THCS,
THPT, các buổi sinh hoạt cùng các trƣờng cấp 1 và mầm non v…v… 48
5.2.2 Các chƣơng trình hành động 48
5.3 THUẬN LỢI – KHÓ KHĂN KHI XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH 50
5.3.1 Thuận lợi 50
5.3.2 Khó khăn 50
CHƢƠNG 6: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 52
6.1 KẾT LUẬN 52
6.2 KIẾN NGHỊ 52 Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
vii
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MT: Môi Trường
BVMT: Bảo vệ môi trường
GDMT: Giáo dục môi trư
SRD: Trung tâm phát triển nông thôn bền vững
PTBV: Phát triển bền vững
TNTN: Tài nguyên thiên nhiên
VSV: Vi sinh vật
C&E: Trung tâm Phát triển Sáng kiến Cộng đồng và Môi trường
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] PGS.TS. Hoàng Hưng , “Con người và môi trường”, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009
[2] Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường,“Tài liệu hướng dẫn Đánh giá tác
động biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng”, Nxb Tài Nguyên-Môi
Trường và bản đồ Việt Nam.
[3] Trần Hồng Hà, 2004. Vấn đề nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng ở
Việt Nam. Hội thảo “Nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục cộng đồng về BVMT”
26/11/2004. TP.HCM.
[4] Chính phủ Việt Nam, 2004. Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam.
Quyết định số 153/2004/TTg.
[5] Chính phủ Việt Nam, 2003. Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020. Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg.
[6] Quỹ Tái chế chất thải, 2010. Báo cáo đánh giá Ngày hội tái chế chất thải 2010.
TP.HCM.
[7] Lê Văn Khoa, 2004. Các họat động và chiến lược nâng cao nhận thức cộng đồng về
BVMT TP.HCM. Hội thảo “Nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục cộng đồng về
BVMT” 26/11/2004. TP.HCM.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
1
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
CHƢƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Môi trường đang trở thành vấn đề chung của nhân loại, được cả thế giới quan tâm.
Việt Nam cũng là nước có môi trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng do các hoạt động
của con người như phá rừng, khai thác tài nguyên thiên nhiên vô tội vạ…. gây nguy cơ
mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như sự phát triển của
đất nước. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hậu quả trên là do nhận thức và
thái độ của con người về môi trường còn nhiều hạn chế. Từ đó yêu cầu đặt ra là phải làm
thức bảo vệ môi trường sẽ là công cụ giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả nhất.
Để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường phải thông qua hình thức giáo dục môi
trường, truyền thông môi trường đến với tất cả mọi người. Việc giáo dục môi trường phải
gắn liền với các yếu tố thực tiễn, hình thành thói quen tự nguyện bảo vệ môi trường.
Để vừa đảm bảo sự phát triển xã hội cùng với sự phát triển bền vững là vấn đề
thách thức, ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Vì vậy hơn lúc
nào hết việc giáo dục nhận thức bảo vệ môi trường thông qua hình thức truyền thông môi
trường đang được các nước hưởng ứng như một chiến lược toàn cầu.
1.3.2 Phƣơng pháp cụ thể
Thu thập tài liệu- số liệu: thu thập tài liệu, số liệu của các tài liệu nghiên cứu có
liên quan đến công tác giáo dục truyền thông môi trường.
Phương pháp điều tra xã hội học: Lập phiếu khảo sát với đối tượng khảo sát là học
sinh, sinh viên, công nhân viên chức đang cư trú và công tác tại Tp. Phan Rang – Tháp
Chàm để có thể đánh giá hiệu quả công tác truyền thông môi trường.
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thống kê số liệu sau khi khảo sát để có thể
đánh giá hiệu quả công tác truyền thông môi trường có hiệu quả hay không?
1.4 Nội dung đề tài
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, nội dung cần nghiên cứu bao gồm:
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
3
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
Nghiên cứu hiện trạng giáo dục môi trường tại Việt Nam và nhất là công tác
truyền thông môi trường tại các trường trên địa bàn TPHCM.
Khảo sát công tác truyền thông môi trường tại trường Tp. Phan Rang – Tháp Chàm
qua các hoạt động truyền thông môi trường, phiếu khảo sát…
Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả truyền thông, nâng cao ý thức bảo vệ
môi trường cho sinh viên…
1.5 Ý nghĩa khoa học- thực tiễn
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Là cơ sở dữ liệu đầy đủ về hoạt động truyền thông môi trường tại địa bàn Tp Phan
2.1 Giáo dục môi trƣờng
2.1.1 Định nghĩa về giáo dục môi trƣờng
Giáo dục môi trường được phát triển trong nửa thế kỷ 20 từ các môn học như:
nghiên cứu tự nhiên, giáo dục về bảo tồn và giáo dục ngoại khóa…Khái niệm giáo dục
môi trường có thể tóm tắt trên một số quan điểm sau đây:
- Giáo dục môi trường nhằm hiểu biết mối quan hệ môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội và vai trò của con người trong đó.
- Giáo dục môi trường là quá trình học hỏi liên tục phát triển theo kinh nghiệm của
chúng ta trong quá trình trải nghiệm cuộc sống.
- Mục tiêu cuối cùng đạt được qua học hỏi, trải nghiệm là thay đổi hành vi của
nhân loại.
- Nỗ lực giáo dục của chúng ta cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng cuộc
sống bền vững và thân thiện với môi trường.
Con người với các tổ chức khác nhau coi giáo dục môi trường như một phương
tiện để tiến đến sự bền vững hơn, bảo vệ môi trường tốt hơn và thay đổi hành vi của con
người.
Một số định nghĩa về giáo dục môi trường
- Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa thế giới (UNESCO), (Belgrade- Nam Tư
năm 1975): “Mục tiêu của giáo dục môi trường là phát triển một thế giới mà mọi người
nhận thức và quan tâm về môi trường cũng như các vấn đề liên quan và có kiến thức, kỹ
năng, thái độ, tình cảm và cam kết hành động cá nhân hay tập thể hướng đến các giải
pháp cho các vấn đề hiện tại và ngăn chặn các vấn đề mới phát sinh”
- Báo cáo kết luận hội nghị liên chính phủ về Giáo dục môi trường (Tbilisi,
USSR,1977): “…nhằm tiếp tục làm cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng hiểu tính phức tạp
của môi trường tự nhiên và xã hội trong sự tác động lẫn nhau giữa các phương diện vật
lý, sinh học, xã hội, kinh tế và văn hóa; thu được kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng
thực hành để tham gia với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả, nhằm giải quyết các vấn đề
về môi trường trong việc quản lý nâng cao chất lượng môi trường”.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
6
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
Ở Đức, có chương trình “Tìm hiểu đất nước” trong bậc tiểu học. Các cấp học từ
trung học trở lên thì nội dung GDMT được gắn hữu cơ vào chương trình Sinh học và
Địa lí
ở Bungari, cấu tạo chương trình khoa học ở cấp 1 và học sinh ở cấp 2và 3 theo tư
tưởng chủ đạo “Con người và Môi trường”. Trong chương trình cấp 1 có hẳn một môn
riêng biệt là “Kiến thức về môi trường”, cung cấp cho học sinh nội dung đơn giản
nhưng rất cơ bản về môi trường xung quanh như: nhà trường, làng mạc, thôn xóm, địa
phương, đường xá, giao thông, vườn cây, rừng, nước, lửa, động vật có ích, có hại.
Chương trình học sinh cấp 2 biên soạn theo quan điểm “Tìm hiểu môi trường từ gần tới
xa” như môi trường thôn xóm, môi trường rừng, các cây nông nghiệp, sinh vật đồng
ruộng,…
Ở Nhật, trọng tâm của GDMT là chống ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe, nội dung này
đựơc lồng ghép vào các môn học đặc biệt là môn Sinh học và Địa lý.
Ở Indonesia, người ta đã thiết lập các trung tâm nghiên cứu về môi trường trong
các học viện. Các trung tâm này là nơi cung cấp các chuyên gia cho việc nghiên cứu,
đào tạo cho các công việc khác có liên quan đến khoa học môi trường ở các cấp quốc
gia và khu vực. Tuy nhiên ở các vùng sâu vùng xa thì trình độ dân trí về môi trường
chưa được cao.
Ở Malaysia, các trường đại học đã có mối liên kết với các học viện trong và ngoài
nước để đào tạo các chuyên gia về môi trường. Một số trường đại học đã tổ chức các
khóa chính trị, các khóa học ngoại khóa về môi trường cho hầu hết các sinh viên ở các
ngành khác nhau. Trình độ môi trường của nhân dân Malaysia khá cao.
Ở Singapore, các chương trình giảng dạy môi trường ở các trường đại học tổng
hợp, đại học bách khoa. Học viện giáo dục được tiến hành tốt nhất. Việc giáo dục về
môi trường được các quy định về pháp luật đi kèm. Các trường đại học thành lập các ủy
ban để cố vấn cho chính phủ về mặt môi trường nhằm đưa ra những chính sách, những
chủ trương kịp thời và thích hợp. Ngoài ra, các trường còn tập trung vào các “Dự án
thành phố sạch và xanh”, “Nguồn gốc của ô nhiễm không khí và sự kiểm soát nó”,
“Quản lý chất thải nguy hiểm”, “Bảo quản, lọc và xử lí nước thải”…
Ở nước ta, việc GDMT mới được bắt đầu từ những năm cuối thập niên 70, còn việc
GDMT trong trường phổ thông chỉ mới được thực hiện vào thập niên 80 cùng với kế
hoạch cải cách giáo dục. Để thực hiên nhiệm vụ GDMT trong trường phổ thông, ngay từ
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
9
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
thời kỳ đó đã có hai đề tài cấp nhà nước được tiến hành nghiên cứu về phương thức nội
dung GDMT trong nhà trường, trong đó tập trung chủ yếu là môn sinh học và địa lý. Từ
năm 1982 – 1983 khoa học địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đưa môn bảo vệ tự
nhiên, mà nay là GDMT vào chương trình đào tạo. Đến năm 1985, cuốn “Quán triệt tinh
than giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dân số và bảo vệ môi trường” của nhà
xuất bản Giáo dục và cuốn “Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông”
của PGS. Nguyễn Dược in vào năm 1986 cho thấy rõ sự nhận thức về GDMT ở nước ta.
Hiện nay, các hoạt động GDMT được tiến hành một cách mạnh mẽ. Ngoài việc GDMT
cho quần chúng nhân dân thông qua phương tiện truyền thông đại chúng rất đa dạng và
phong phú ( chương trình “Dân số và Môi trương”, “Môi trường và Đời sống”. Các
phong trào “Sạch và Xanh” của các thành phố lớn, các trường đại học đã đóng góp đáng
kể vào công tác GDMT) trong nhiều trường đại học đã có các môn học về môi trường.
Từ năm học 1995 – 1996 trở đi, tất cả trường đại học khoa học tự nhiên (Hà Nội), năm
học 1993 – 1994 khoa “Môi trường học” được thành lập và triển khai đào tạo các cán bộ
về khoa học môi trương. Ơ Tp. Hồ Chí Minh, khoa môi trường cũng được thành lập ở
trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Kỹ thuật Công nghệ vào năm 1999.
Song song với việc giảng dạy trong nhà trường, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học
về GDMT cấp nhà nước và cán bộ quản lý, nhiều đề tài luận án phó tiến sĩ và thạc sĩ đã
và đang được thục hiện, có tác dụng mở rộng nôi dung và nâng cao hiệu quả của việc
GDMT.
Thật ra, hành động có ý nghĩa biểu trung lớn nhất ở nước ta về GDMT là ngay từ
năm 1962, Bác Hồ đã khai sinh ra “Tết trồng cây” và cho đến nay, phong trào này phát
triển ngày càng mạnh mẽ. Năm 1991, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã có chương trình trồng
cây hỗ trợ phát triển giáo dục và đào tạo BVMT (1991 – 1995).
Truyền thông có thể phổ biến các tri thức, trình bày các giá trị, các chuẩn mực xã
hội. Các tri thức bao gồm kiến thức, nhận thức và ý thức trách nhiệm về bất cứ hành
vi nào vì lợi ích tốt đẹp, vì mục tiêu chính đáng của phát triển bền vững.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
11
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
Hình 2.1 Mô hình truyền thông đơn giản
Các yếu tố của hệ thống truyền thông
Với mô hình truyền thông như trên thì một hệ thống truyền thông bao gồm các yếu tố sau:
Người gửi
Thông điệp
Kênh truyền thông
Người nhận
Mô hình truyền thông có thể được diễn giải đơn giản như sau:
Người gửi có một thông điệp ( thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ, thái độ) muốn
được gửi đi.
Người gửi phải mã hoá thông điệp đó, nghĩa là phải chuyển thông điệp đó thành âm
thanh, từ ngữ, ký tự (thể hiện bằng ngôn ngữ) hay dùng cử chỉ, ký hiệu, ra hiệu, tư
thế…(thể hiện bằng phi ngôn ngữ) để người nhận có thể hiểu được.
Người nhận thông điệp bằng các giác quan của mình. Nếu không có gì cản trở, gây
nhiễu hay làm sai lạc thì người nhận sẽ có một bản sao chính xác, nghĩa là nguyên si thông
điệp đã được gửi.
Người nhận phải giải mã và diễn dịch, phân loại, chấp nhận thông điệp để có thể
hiểu nó một cách chính xác.
NNgười gửi
gửi
Người nhận
Ý tưởng
và giải pháp của dự án hay chương trình đưa ra không được những người có liên quan hiểu
rõ và cùng tham gia.
Những người thực hiện các dự án hay chương trình môi trường thường nghĩ rằng
các sự kiện khoa học và sự quan tâm đến môi trường của họ có sức thuyết phục, tuy nhiên, người
dân thường nhận thức vấn đề thông qua xúc cảm và giao tiếp xã hội hơn là bằng lý lẽ và kiến
thức.
Những xung đột, mâu thuẫn về lợi ích giữa những người trong cuộc không được
điều đình, hoà giải với nhau. Cách tiếp cận đối đầu nhau đã dẫn đến thông tin một chiều,
không quan tâm đến sự hiểu biết và hoàn toàn không dựa vào cách truyền thông hai chiều
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
13
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
là hình thức truyền thông hướng về “cùng chia sẻ” và về các tình huống “đôi bến cùng có
lợi”.
Nhiều cấp ra quyết định không biết cách làm thế nào để lồng ghép một chiến lược truyền
thông vào các dự án về môi trường.
2.2.2.2 Nguyên tắc của truyền thông môi trƣờng
Truyền thông môi trường cần phải:
Là mắt xích để gắn kết các vấn đề môi trường với quá trình hoạch định chính sách
và sự tham gia của người dân.
Quan tâm tới lợi ích của đối tượng truyền thông /cộng đồng.
Cách thức truyền thông cần phù hợp với đối tượng truyền thông, có nghĩa là cần
phải đơn giản, cụ thể và phù hợp về văn hoá - xã hội.
Truyền thông có định hướng tới các vấn đề cần được giải quyết, hay các nhu cầu của
cộng đồng.
Tính tới chi phí - hiệu quả và có tính sáng tạo bằng cách sử dụng các cơ sở vật chất,
nguồn nhân lực, phương tiện truyền thông sẵn có ở địa phương, hơn là dựa vào các sản
phẩm truyền thông đắt tiền.
Trao quyền cho cộng đồng.
Có sự hợp tác giữa những người có trình độ khác nhau, chức năng khác nhau (giữa
nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế, kết hợp giữa công nghệ hiện đại với
các phương pháp truyền thống
BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất
cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp Ủy Đảng, sự quản lý thống
nhất của nhà nước, sự tham gia tích cực của mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
3.1.1.2 Các giải pháp thực hiện
“Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm
BVMT”- đây là nội dung rất quan trọng, tăng cường đa dạng hóa các hình thức tuyên
Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: GS.TS Hoàng Hưng
15
SVTH: Nguyễn Trần Thiên Di
truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật và các thông tin về môi trường và phát
triển bền vững cho mọi người, đặc biệt là trong thanh niên, thiếu niên.
“Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường” trong đó chú ý đến
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra,
giám sát, sớm xây dựng, ban hành quy định giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường.
“Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động BVMT” trong đó chú trọng tạo cơ sở pháp lý và
cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tác
BVMT, xây dựng và thực hiện các quy ước, cam kết về BVMT của cộng đồng dân cư.
“Áp dụng các biện pháp kinh tế trong BVMT, tạo sự chuyển biến cơ bản trong
đầu tư BVMT”, ngân sách nhà nước sẽ có mục chi riêng cho sự nghiệp môi trường và
tăng dần mức đầu tư hằng năm để đến năm 2006 đạt ít nhất 1% tổng chi ngân sách nhà
nước. Ngoài đầu tư của Nhà nước, sẽ có chính sách khuyến khích các tổ chức cá nhân
trong và ngoài nước đầu tư BVMT.
“Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực
về môi trường, mở rộng hợp tác quốc tế về môi trường”
3.1.2 Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ số 1363/QĐ –TTG ngày
17/10/2001 về việc phê duyệt dự án “Đƣa nội dung BVMT vào hệ thống
giáo dục quốc dân”
3.1.2.1 Mục tiêu của dự án