ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX - Pdf 32

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.................................................................4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ......................................................4
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ
XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN............3
1.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT
NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN...........................3
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển...........................................................................3
1.1.2. Sự cần thiết của Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển........................................................................................4
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG
HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN ....6
1.2.1 Đối tượng bảo hiểm..........................................................................6
1.2.2. Người tham gia bảo hiểm và người được bảo hiểm........................7
1.2.3 Người bảo hiểm................................................................................8
1.2.4 Thời hạn bảo hiểm ...........................................................................8
1.2.5 Giá trị bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm...................................................9
1.2.6 Phí bảo hiểm...................................................................................11
1.2.7 Các điều kiện bảo hiểm..................................................................12
1.3 CÔNG TÁC KHAI THÁC BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP
KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.....................................16
1.3.1 Vai trò của công tác khai thác........................................................16
1.3.2 Qui trình khai thác..........................................................................17
1.3.2.1 Tiếp thị nhận yêu cầu từ khách hàng.....................................17
1.3.2.2 Đánh giá rủi ro......................................................................17
1.3.2.3 Chào bảo hiểm, cấp đơn bảo hiểm.........................................18
1.3.2.4 Chuẩn bị đơn bảo hiểm..........................................................18
1.3.2.5 Ký duyệt đơn bảo hiểm...........................................................18
1.3.2.6 Đóng dấu chuyển đơn, lưu chuyển nghiệp vụ.........................19

KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN..................................58
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO
HIỂM PETROLIMEX TRONG THỜI GIAN TỚI...............................58
3.1.1 Định hướng phát triển chung..........................................................58
3.1.2 Định hướng phát triển công tác khai thác nghiệp vụ BHHH XNK
vận chuyển bằng đường biển...................................................................60
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY KHAI THÁC .............................61
3.2.1 Làm tốt hơn nữa công tác phục vụ khách hàng..............................61
3.2.2 Thực hiện tốt công tác đánh giá rủi trước khi ký kết hợp đồng....62
3.2.3 Cải tiến đa dạng hoá sản phẩm.......................................................63
3.2.4 Mở rộng và nâng cao chất lượng đại lý, cộng tác viên khai thác...63
3.2.5 Nâng cao chất lượng cán bộ, nhân viên khai thác..........................64
3.2.6 Phát triển hệ thống thông tin..........................................................64
3.3 KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC.........................................................65
3.3.1 Hoàn thiện văn bản pháp luật tạo điều kiện các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu tham gia bảo hiểm trong nước...............................................65
3.3.2 Tạo điều kiện doanh nghiệp mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế .....66
KẾT LUẬN...........................................................................................68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................69
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nội dung
XNK Xuất nhập khẩu
HĐBH Hợp đồng bảo hiểm
DNBH Doanh nghiệp bảo hiểm
GTBH Giá trị bảo hiểm
DT Doanh thu
KTV Khai thác viên
GĐV Giám định viên
BHHH Bảo hiểm hàng hoá
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Lợi nhuận của Pjico 2004-2008 32
Bảng 2.3 Tốc độ tăng KNXNK cả nước giai đoạn 2005-2008 34
Bảng 2.4 Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tham gia bảo hiểm trong
nước giai đoạn 2004 - 2008
35
Bảng 2.5 Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tham gia bảo hiểm
trong nước giai đoạn 2004 - 2008
36
Bảng 2.6 Thị phần theo doanh thu phí bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập giai đoạn 2004-2008
40
Bảng 2.7 Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu phí bảo hiểm
hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển tại PJICO
(2004-2008)
51
Bảng 2.8 Tình hình khai thác bảo hiểm hàng hoá XNK vận
chuyển bằng đường biển tại PJICO(2004- 2008)
52
Bảng 2.9 Tỷ lệ doanh thu phí của nghiệp vụ so với tổng doanh thu
phí toàn công ty giai đoạn 2004-2008
53
Bảng
2.10
Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu tham gia bảo
hiểm tại PJICO năm 2008
54
Bảng
2.11
Hiệu quả khai thác bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển
bằng đường biển tại PJICO giai đoạn 2006-2008

Thương mại quốc tế ngày nay đã và đang trở thành một đòi hỏi khách
quan, một yếu tố không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất ở các nước.
Và cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế kéo theo dịch vụ vận
chuyển nói chung và dịch vụ vận chuyển bằng đường biển nói riêng ngày
càng phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển chiếm khoảng 90% tổng khối lượng hàng hoá
xuất nhập khẩu của thế giới. Giá trị của hàng hoá xuất nhập khẩu thường là
lớn nên việc mua bảo hiểm tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu yên tâm
mở rộng quy mô hoạt động, đảm bảo khả năng tài chính cho doanh nghiệp vì
vậy mà bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đến
nay trở thành tập quán thương mại quốc tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt
Nam đã tăng lên đáng kể. Nhưng thực tế các doanh nghiệp bảo hiểm trong
nước mối khai thác được gần 7% giá trị hàng hóa xuất khẩu và gần 33% giá
trị hàng hoá nhập khẩu. Hàng năm làm chảy máu ngoại tệ khoảng gần 70 triệu
USD tiền phí bảo hiêm cho các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài. Để tìm
hiểu nguyên nhân nằm ở đâu và các giải pháp cần thực hiện như thế nào nhằm
giành lại thị phần nghiệp vụ cho doanh nghiệp bảo hiểm trong nước. Với
mong muốn đó cùng với cơ hội được đi thực tập tại doanh nghiệp bảo hiểm
theo kế hoạch thực tập của trường em đã chọn đề tài nghiên cứu cho mình là:
“Một số giải pháp thúc đẩy khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển tại Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex”.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục từ viết tắt, tài liệu tham
khảo thì kết cấu của chuyên đề gồm ba chương như sau:
1
Chuyên đề tốt nghiệp ThS. Nguyễn Thị Lệ Huyền
Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển
Chương 2: Thực trạng khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex

một phần tuỳ thuộc vào số hàng bị tổn thất đó. Phần lãi vay ở đây vì có cả
phần chi phí đảm bảo rủi ro nên các chủ hàng phải trả lớn hơn phần lãi vay
thông thường. Đây còn gọi là chế độ “vay mượn phiêu lưu” và phần chênh
lệch giữa lãi vay và lãi vay thông thường là phí bảo hiểm trá hình. Như vậy,
bảo hiểm hàng hải ra đời đầu tiên ở Ý. Thế kỷ XVII, nước Anh chiếm vị trí
hàng đầu trong buôn bán và hàng hải quốc tế. Thành thói quen các nhà buôn
3
Chuyên đề tốt nghiệp ThS. Nguyễn Thị Lệ Huyền
thường hay tập trung ở quán café để trao đổi tin tức về hàng hoá và các
chuyến tàu vận chuyển hàng. Và tại các quán café các nhà buôn có thể gặp
các chủ ngân hàng, người chuyên chở bàn luận trực tiếp với nhau. Năm 1683,
tại quán café ở London của Edward Lloyd làm chủ cửa tiệm cũng diễn ra các
hoạt động giao dịch của chủ hàng, chủ tàu, chủ nhà băng và quán này ngay
càng rất đông các thành viên tham gia. Đến năm 1770, quán cafe này đã trở
thành một tổ chức của các nhà bảo hiểm có tư cách pháp nhân và đổi tên gọi
là “Lloyd’s”. Năm 1871, hợp nhất lại theo luật Quốc hội trở thành Hội đồng
Lloy’s và sau này trở thành nơi giao dịch kinh doanh bảo hiểm, hãng bảo
hiểm lớn nhất thế giới.
Đến nay, cùng với sự phát triển của thương mại thế giới bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển phát triển hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Trong đó, nước Anh có thị trường bảo hiểm London là thị
trường lớn nhất thế giới và là mẫu mực cho ngành bảo hiểm nhiều nước.
1.1.2. Sự cần thiết của Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển
Vận chuyển hàng hóa quốc tế có thể tiến hành theo 4 hình thức: bằng
đường hàng không, đường bộ, đường sắt hỏa hay đường biển. Theo thống kê
có khoảng hơn 90% khối lượng hàng hoá XNK của thế giới được vận chuyển
bằng đường biển. Bởi vì, vận chuyển bằng đường biển có những ưu điểm mà
các dịch vụ vận chuyển khác không có được như:
- Vận chuyển bằng đường biển có thể chở được nhiều chủng loại hàng hoá

Do yếu tố kỹ thuật: Ngày nay, con người ngày càng sử dụng nhiều hơn các
phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại. Nhưng dù máy móc hiện đại đến đâu
thì cũng không thể tránh khỏi những sai sót, trục trặc về mặt kỹ thuật. Đó có
thể là trục trặc của chính bản thân con tàu, kỹ thuật dự báo, các tín hiệu điều
5
Chuyên đề tốt nghiệp ThS. Nguyễn Thị Lệ Huyền
khiển từ đất liền hoặc từ vệ tinh… từ đó gây ra đổ vỡ mất mát hàng hoá trong
quá trình vận chuyển hàng hoá XNK.
Do yếu tố xã hội con người: Hàng hoá có thể bị mất trộm, mất cắp, bị cướp
hoặc bị thiệt hại do chiến tranh…
- Tốc độ tàu biển thường chậm, hành trình trên biển thường có thời gian
dài nên xác suất rủi ro xảy ra trên biển là rất cao. Thêm vào đó, việc ứng cứu
rủi ro, tai nạn lại gặp rất nhiều khó khăn.
- Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến hàng thường có giá
trị rất lớn bao gồm giá trị tàu và hàng hoá trở trên tàu nên khi tổn thất xảy ra
sẽ gây tổn thất rất lớn về tài sản, trách nhiệm và con người.
- Trong quá trình vận chuyển hàng hoá, chủ phương tiện sẽ là người chịu
trách nhiệm chính. Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi
và mức độ tuỳ theo điều kiện giao hàng và hợp đồng vận chuyển.
Để phát huy tối đa những mặt tích cực đồng thời hạn chế những mặt tiêu
cực trong vận chuyển hàng hoá bằng đường biển thì nghiệp vụ bảo hiểm hàng
hoá vận chuyển bằng đường biển đã ra đời. Từ khi nghiệp vụ ra đời thì các
doanh nghiệp yên tâm sản xuất, ổn định kinh doanh giúp nền kinh tế phát
triển tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Nghiệp vụ cũng là nhân tố quan
trọng thúc đẩy hoạt động XNK hàng hoá phát triển nhanh chóng như ngày
hôm nay.
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA
XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.2.1 Đối tượng bảo hiểm
Trong nghiệp vụ này đối tượng bảo hiểm là hàng hoá xuất nhập khẩu đang

7
Chuyên đề tốt nghiệp ThS. Nguyễn Thị Lệ Huyền
Người được bảo hiểm ghi trong HĐBH chính là người bán nhưng trên thực tế
quyền lợi bảo hiểm lại thuộc về người mua hàng. Do đó khi mua bảo hiểm
người bán hoặc đại diện của họ phải ký hậu ở mặt sau giấy chứng nhận bảo
hiểm để chuyển toàn bộ quyền lợi bảo hiểm sang cho người mua. Lúc đó,
người mua hàng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của Người được bảo hiểm đã
quy định trong hợp đồng; nếu nhập theo điều kiện FOB, quyền vận tải và
quyền tham gia bảo hiểm thuộc phía người nhập, người nhập khẩu vừa là
người tham gia bảo hiểm vừa là người được bảo hiểm.
1.2.3 Người bảo hiểm
Người bảo hiểm là các công ty bảo hiểm có đầy đủ tư cách pháp nhân
được Nhà nước cho tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, được phép ký
hợp đồng bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm, cam kết bồi thường cho
người được bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo
hiểm đối với đối tượng bảo hiểm. Bù lại người tham gia bảo hiểm phải nộp
một khoản phí bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm. Khoản phí này sẽ không
đựơc trả lại nếu không có tổn thất xảy ra với đối tượng tham gia bảo hiểm.
Các công ty bảo hiểm ngoài việc đáp ứng an toàn của người tham gia thì lợi
nhuận là mục tiêu của hoạt động kinh doanh.
1.2.4 Thời hạn bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian mà hàng hoá được bảo hiểm khi
gặp tổn thất (trừ những rủi ro loại trừ không được bảo hiểm) thì vẫn phát sinh
trách nhiệm bồi thường của nhà bảo hiểm đối với hàng hoá đó.
Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển thì trách nhiệm
bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực từ khi hàng hoá được bảo hiểm được rời kho
hoặc nơi chứa hàng tại địa điểm ghi trong HĐBH để bắt đầu vận chuyển và
tiếp tục có hiệu lực trong suốt quá trình vận chuyển bình thường. Trách nhiệm
bảo hiểm kết thúc sẽ kết thúc khi:
8

dự tính này được tính tối đa 10% giá CIF.
Công thức xác định giá CIF:
CIF = C+F/ 1- R
Công thức xác định giá trị bảo hiểm:
V = C+F/ 1- R
hoặc V = (C+F).(a+1)/ 1- R
Trong đó: V- Giá trị bảo hiểm;
F- Cước phí vận chuyển;
C- Giá FOB của hàng hoá;
a- Số phần trăm lãi dự tính;
R- Tỷ lệ phí bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là số tiền được đăng ký bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo
hiểm, là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do người được bảo hiểm yêu
cầu và được bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm được xác định dựa trên cơ sở giá trị
bảo hiểm. Và về nguyên tắc số tiền bảo hiểm chỉ có thể nhỏ hơn hoặc bằng
giá trị bảo hiểm. Nếu số tiền bảo hiểm bằng giá giá trị bảo hiểm hay bằng giá
CIF gọi là bảo hiểm ngang giá trị hay bảo hiểm toàn phần, còn thấp hơn giá
CIF gọi là bảo hiểm dưới giá trị. Nếu số tiền bảo hiểm cao hơn giá trị bảo
hiểm gọi là bảo hiểm trên giá trị hay bảo hiểm vượt mức. Trong thực tế khách
hàng thường tham gia bảo hiểm ngang giá trị.
10
Chuyên đề tốt nghiệp ThS. Nguyễn Thị Lệ Huyền
1.2.6 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là một khoản tiền nhỏ mà người được bảo hiểm phải trả cho
người bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất do các rủi ro đã thoả thuận
gây nên. Thường được tính toán dựa trên cơ sở tính toán xác suất xảy ra của
những rủi ro gây ra tổn thất hoặc trên cơ sở thống kê tổn thất. Muốn tham gia
bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm phải đóng góp vào quỹ chung. Nếu có
tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm công ty bảo hiểm sẽ lấy tiền từ quỹ
chung đó để bồi thường cho khách hàng. Phí bảo hiểm phụ thuộc vào nhiều

thị trường thế giới có thể nói tất cả các đơn bảo hiểm hàng hoá XNK đều sử
dụng theo các điều kiện bảo hiểm của học việc bảo hiểm Luân Đôn (Institute
of London Underwriters – ILU) là ICC 1963. Nhưng do quy luật phát triển
tình hình kinh tế trên thế giới có nhiều sự thay đổi ICC 1963 đã bọc lộ những
nhược điểm như mập mờ, khó hiểu khiến cho công việc giao dịch khó khăn
thậm chí đôi khi còn xảy ra những nhầm lẫn không đáng có. Vì vậy, ngày
01/01/1982 ILU đã ban hành ICC 1982 thay cho ICC 1963. Các điều kiện bảo
hiểm trong ICC 1982 được trình bày rõ ràng và dể hiểu hơn và đã có những
thay đổi về cơ bản so với ICC 1963. Tên gọi của những điều kiện là A, B, C
thay cho tên gọi cũ FPA, WA, AR nên dễ nhớ và dễ sử dụng hơn.
 Nội dung cơ bản của ICC 1982
a. Điều kiện bảo hiểm A (ICC A)
Phạm vi bảo hiểm của điều kiện này là rộng nhất, Người bảo hiểm phải có
trách bồi thường cho tất cả những hư hỏng, mất mát của hàng hoá được bảo
12
Chuyên đề tốt nghiệp ThS. Nguyễn Thị Lệ Huyền
hiểm kể cả rủi ro do cướp biển chỉ trừ những rủi ro loại trừ theo quy định và
không áp dụng miễn thường.
b. Điều kiện bảo hiểm B (ICC B)
Ngoài những điều kiện loại trừ, trong điều kiện bảo hiểm này Người bảo
hiểm phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những mất mát, hư hỏng xảy ra
cho hàng hoá được bảo hiểm do các nguyên nhân sau:
- Cháy hoặc nổ
- Tàu hay sà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp
- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, sà lan hay phương tiện vận tải đâm va phải
bất kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nước
- Dỡ hàng tại một cảng nơi tàu gặp nạn
- Phương tiện vận tải đường bộ bị lật đổ hoặc trật bánh
- Động đất, núi lửa phun, sét đánh
- Hy sinh hàng trong tổn thất chung

- Và những rủi ro phụ khác tương tự.
Qua những điều khoản chính đã nêu ở trên có thể thấy điểm khác nhau cơ
bản trong cả 3 điều kiện của ICC 1982 so với ICC 1963 là trong ICC 1982 thì
không phân biệt TTTB và TTBP, chỉ cần những tổn thất thuộc phạm vi bảo
hiểm sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường.
Ngoài những điều kiện chính ở trên trong trường hợp có sự thoả thuận
trước thì Người bảo hiểm cũng có thể bồi thường cho những tổn thất gây ra
bởi chiến tranh, đình công…
 Điều kiện bảo hiểm chiến tranh
Theo điều kiện này, Người bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường
những tổn thất xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm do những nguyên nhân
sau:
14
Chuyên đề tốt nghiệp ThS. Nguyễn Thị Lệ Huyền
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung đột
dân sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc do bất kỳ hành động thù địch nào
khác của một thế lực tham chiến .
- Chiếm đoạt, bắt giữ, kiềm chế hoặc cầm giữ
- Mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các vũ khí chiến tranh khác
- TTC và chi phí cứu nạn
Phạm vi không gian và thời gian bảo hiểm đối với rủi ro chiến tranh hẹp
hơn các rủi ro thông thường. Thời hạn bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực khi hàng
hoá được xếp lên tàu biển và kết thúc khi được dỡ khỏi tàu ở tại cảng cuối
cùng hoặc khi hết thời hạn 15 ngày kể từ nửa đêm ngày tàu đến cảng dỡ cuối
cùng, tuỳ theo điều kiện nào xảy ra trước. Trong trường hợp có chuyển tải thì
bảo hiểm vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi hết hạn 15 ngày kể từ nửa đêm
ngày tàu đến cảng chuyển tải.
Đối với rủi ro xảy ra do mìn hoặc ngư lôi thì Người bảo hiểm phải chịu
trách nhiệm đối với hàng hoá ngay cả khi hàng còn ở trên xà lan để vận
chuyển ra tàu hoặc từ tàu vào bờ nhưng không vượt quá 60 ngày kể từ ngày

không chỉ dừng lại khi đơn bảo hiểm được ký kết mà tiếp theo phải cung cấp
khách hàng giúp khách hàng tái tục hợp đồng bảo hiểm.
Quan trọng hơn nữa bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc số đông bù số ít.
Vì vậy với một số tiền đóng phí kiêm tốn nếu khách hàng tham gia bảo hiểm
không may bị rủi ro sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường cho khoản tiền lớn
gấp nhiều lần so với số phí đã đóng. Số tiền ấy lấy của số đông người tham
gia để bù đắp cho số ít người không may bị rủi ro đó. Nếu một nghiệp vụ bảo
16
Chuyên đề tốt nghiệp ThS. Nguyễn Thị Lệ Huyền
hiểm triển khai có ít khách hàng tham gia thì nguyên tắc sẽ bị vi phạm, công
ty phải bỏ tiền vốn của mình ra bồi thường cho khách hàng điều này ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì những nội dung trên ta có
thể nói rằng khâu khai thác có ý nghĩa rất lớn, thậm chí quyết sự thành bại của
mỗi công ty bảo hiểm cũng như mỗi nghiệp vụ bảo hiểm.
1.3.2 Qui trình khai thác
Qui trình khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu được tiến hành
theo hai qui trình: Dịch vụ trong phân cấp( Phòng khai thác/chi nhánh ký
đơn); Dịch vụ trên phân cấp(Ban tổng giám đốc ký đơn). Đối với các đơn bảo
hiểm có số tiền bảo hiểm được uỷ quyền cho phòng khai thác/chi nhánh tự
làm là dịch vụ trong phân cấp nếu vượt quá hạn mức tối đa được uỷ quyền gọi
là dịch vụ trên phân cấp. Quy trình khai thác gồm các bước sau:
1.3.2.1 Tiếp thị nhận yêu cầu từ khách hàng
Khai thác viên nắm bắt thông tin: qua các phương tiện truyền thông đại
chúng, các cơ quan hữu quan, các đơn vị chủ quản, các chủ hàng truyền thống
và tiềm năng. Sau khi đã có thông tin về khách hàng, khai thác viên tiến hành
tiếp cận khách hàng bằng tiếp xúc trực tiếp, hoặc gọi điện thoại hoặc gửi thư
cung cấp tài liệu giới thiệu về PJICO về sản phẩm. Chú ý khi tiếp xúc với
khách hàng khai thác viên phải nắm chắc nội dung bảo hiểm hàng hoá để có
thể giải thích cho khách hàng.
1.3.2.2 Đánh giá rủi ro

phòng Công ty sẽ do Phòng BHHH ký đơn, trước khi chuyển đơn lên
phải có chữ ký xác nhận của Phòng khai thác
18

Trích đoạn Những thuận lợi khó khăn cơ bản của công ty khi triển khai nghiệp GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY KHAI THÁC Hoàn thiện văn bản pháp luật tạo điều kiện các doanh nghiệp xuất Tạo điều kiện doanh nghiệp mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status