Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại NHNo&PTNT Từ Liêm - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI – KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
----------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT KHẨU TẠI NHNo&PTNT
TỪ LIÊM
Giáo viên hướng dẫn: TS Tạ Văn Lợi
Sinh viên thực hiện: Đặng Thị Hoàng Ánh
Lớp: Kinh doanh quốc tế A
Khoá: 47
Hệ: Chính quy
Năm 2009
22.7
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: chuyên đề tốt nghiệp “Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh
hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại NHNo&PTNT Từ Liêm” là
công trình nghiên cứu của riêng em.
Các số liệu trong chuyên đề được sử dụng trung thực. Kết quả nghiên cứu được
trình bày trong chuyên đề này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào
khác.
Em xin chân thành cảm ơn TS Tạ Văn Lợi đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn
thành tốt chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn Chi nhánh NHNo&PTNT Từ Liêm đã tạo điều kiện
cho em trong quá trình thực tập.
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2009.
Sinh viên
Đặng Thị Hoàng Ánh
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Biểu đồ 2.5 Doanh số cho vay XNK
Biểu đồ 2.6 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời gian
Biểu đồ 2.7 Tỷ trọng dư nợ TDTTXNK theo thành phần kinh tế
Biểu đồ 2.8 Doanh số cho vay xuất khẩu
Biểu đồ 2.9 Doanh số cho vay thanh toán tiền hàng nhập khẩu
Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức NHNo&PTNT Từ Liêm năm 2008
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là đặc trưng và
xu hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới, bất kể đó là nền kinh tế có
quy mô và trình độ phát triển ra sao và thuộc chế độ chính trị nào. Chính xu
hướng này đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu
của mỗi quốc gia phát triển một cách mạnh mẽ và nhanh chóng. Hầu hết tất cả
các doanh nghiệp của mỗi nước đều mong muốn hướng ra thị trường quốc tế bởi
những lợi ích đem lại từ hoạt động này. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào
cũng có khả năng tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế bởi những hạn chế
từ bản thân các doanh nghiệp như kinh nghiệm kinh doanh quốc tế còn ít, chưa
có nhiều uy tín trên thị trường quốc tế… Đặc biệt khả năng tài chính của các
doanh nghiệp còn hạn chế so với giá trị các thương vụ mà doanh nghiệp tham
gia, dẫn tới việc doanh nghiệp không đáp ứng được hết yêu cầu của quá trình sản
xuất kinh doanh như thu mua nguyên vật liệu, sản xuất, vận chuyển đối với
doanh nghiệp xuất khẩu hay quá trình thanh toán đối với doanh nghiệp nhập
khẩu…Việc thiếu vốn cũng như việc không có uy tín trên thị trường thế giới sẽ
hạn chế khả năng tiếp cận với các đối tác nước ngoài, làm mất cơ hội kinh doanh
của doanh nghiệp…Để không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh tốt, mở rộng thị trường,
thị phần, các doanh nghiệp rất cần đến nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài để thực

Liêm.
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu vào các vấn đề:
Về hoạt động: tín dụng TTXNK của NHNo&PTNT Từ Liêm.
Về thời gian: nghiên cứu từ năm 2006-2008.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu là nhằm đưa ra một số biện pháp đẩy mạnh hoạt
động tín dụng TTXNK cho NHNo&PTNT Từ Liêm trong thời gian tới.
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A
2
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến hoạt động tín dụng
TTXNK cũng như hoạt động đẩy mạnh tín dụng TTXNK tại các ngân
hàng thương mại hiện nay.
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng TTXNK và thực trạng đẩy
mạnh hoạt động tín dụng TTXNK của NHNo&PTNT Từ Liêm trong giai
đoạn 2006-2008 nhằm làm rõ những mặt đã đạt được và hạn chế cũng như
nguyên nhân tồn tại.
- Trên cơ sở định hướng về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
trong thời gian tới và phương hướng hoạt động của NHNo&PTNT Từ
Liêm, đề tài đề xuất một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng
TTXNK trong những năm tiếp theo.
3. Bố cục của chuyên đề.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm có 3 chương cơ bản:
Chương I: Lý luận chung về tín dụng TTXNK và hoạt động đẩy mạnh tín dụng
TTXNK của ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng TTXNK và đẩy mạnh hoạt động tín
dụng TTXNK tại NHNo&PTNT Từ Liêm.
Chương III: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng TTXNK tại NHNo&PTNT
Từ Liêm.

Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Mà ngân hàng lại là một trung gian tài chính có uy tín, có khả năng tài chính và
hoạt động hiệu quả cho nên đã dẫn tới quan hệ vay mượn vốn giữa một bên là
ngân hàng với một bên là các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn.
Như vậy ta có thể hiểu “Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng
thương mại là hình thức tài trợ, kỳ hạn gắn liền với thời gian thực hiện thương
vụ, đối tượng tài trợ là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc uỷ thác.
Giá trị tài trợ thường ở mức vừa và lớn”.
Nhu cầu được tài trợ XNK là những nhu cầu vốn tạm thời thiếu hụt của
khách hàng trong quá trình kinh doanh XNK. Đối với nhà XK đó là những nhu
cầu vốn tạm thời thiếu hụt trong quá trình kinh doanh xuất khẩu như quá trình
thu gom hàng hoá cũng như quá trình chế biến hàng hoá chuẩn bị cho xuất khẩu.
Đặc biệt đối với những nhà XK lớn có uy tín, có nhiều hợp đồng xuất khẩu liên
tục thường có nhu cầu vốn ngay để sản xuất kinh doanh. Đối với nhà nhập khẩu
đó là nhu cầu về tiền để thanh toán cho nhà XK nước ngoài trong hợp đồng mua
bán hàng hoá.
1.1.2. Sự phát triển của hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu.
Cùng với sự phát triển của hoạt động ngoại thương và hệ thống ngân hàng,
hoạt động tín dụng TTXNK của ngân hàng phát triển ngày càng đa dạng và
phong phú.
Hình thức đơn giản đầu tiên là ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các
đơn vị xuất nhập khẩu để bổ sung vốn lưu động thu mua chế biến sản xuất hàng
xuất khẩu theo các hợp đồng đã được ký kết hoặc cho vay để thanh toán cho các
nguyên vật liệu, hàng hóa, vật tư nhập từ nước ngoài…
Từ hình thức cho vay ngắn hạn là chủ yếu, ngân hàng đã mở rộng cho vay
trung dài hạn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu. Ngân
hàng cho vay để mua sắm trang thiết bị máy móc, cải tiến công nghệ, ứng dụng
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A

6
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3. Vai trò của hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu.
1.1.3.1. Đối với doanh nghiệp.
Thứ nhất: Tín dụng TTXNK giúp cho các DNXNK thực hiện được những
hợp đồng ngoại thương có giá trị lớn vượt quá khả năng tài chính của mình.
Thông thường, các hợp đồng ngoại thương thường được ký kết với giá trị lô
hàng ở mức vừa và lớn. Điều này đòi hỏi các hai bên người NK và người XK
phải có nguồn vốn tương đối lớn để có thể đáp ứng được các yêu cầu của quá
trình thu mua, chế biến và sản xuất đối với nhà XK và quá trình thanh toán đối
với nhà NK. Tuy nhiên trên thực tế phần lớn các doanh nghiệp không có đủ
lượng vốn lớn như vậy. Bởi nguồn lực tài chính của doanh nghiệp thường được
san sẻ cho các lĩnh vực khác nhau. Chẳng hạn các DNXK không chỉ sản xuất
hàng hoá phục vụ mục đích xuất khẩu mà còn sản xuất hàng hoá để phục vụ thị
trường trong nước hoặc đầu tư vào các lĩnh vực khác. Nguồn lực tài chính hạn
hẹp sẽ hạn chế khả năng tiếp cận với các đơn hàng cũng như các đối tác lớn. Để
không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh tốt, doanh nghiệp sẽ nhờ đến nguồn vốn của ngân
hàng thông qua việc tài trợ. Hơn nữa, các hợp đồng ngoại thương thường được
thực hiện trong một thời gian tương đối lâu. Thời gian thực hiện hợp đồng được
tính từ khi nhà XK tiến hành thu mua nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản
xuất cho đến khi nhà NK nhận được hàng và tiến hành thanh toán cho nhà XK.
Do đó, một hợp đồng ngoại thương có thể kéo dài nhiều tháng liên tục, thậm chí
hàng năm hoặc hơn. Trong khoảng thời gian đó có thể xuất hiện tình trạng doanh
nghiệp cần vốn cho các đơn đặt hàng mới hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh
khác. Như vậy nhờ có hoạt động tín dụng TTXNK mà DNXNK mới có vốn kịp
thời để nhanh chóng thực hiện các đơn đặt hàng khác.
Thứ hai: Tín dụng TTXNK làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp xuất nhập
khẩu trong quá trình thực hiện hợp đồng. Thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh
nghiệp nhận được vốn để thực hiện thương vụ. Đối với DNXK, vốn tài trợ giúp
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A

8
Chuyên đề tốt nghiệp
thanh toán tiền hàng phải thông qua tài khoản của nhà XK được mở tại ngân
hàng. Đối với nhà NK, khi tài trợ ngân hàng buộc họ tập trung tiền bán hàng vào
tài khoản mở tại ngân hàng. Việc quản lý chặt chẽ nguồn thu giúp ngân hàng
tránh được rủi ro mất vốn tài trợ.
Thứ hai: Tín dụng TTXNK đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích. Đồng vốn
tín dụng gắn liền với thương vụ, trong nhiều trường hợp vốn tín dụng được thanh
toán thẳng cho bên thứ 3 mà không thông qua bên xin cho vay như ngân hàng
thanh toán thẳng tiền hàng nhập khẩu, thanh toán tiền nguyên vật liệu cho các
đại lý gom hàng của nhà xuất khẩu…Việc làm này sẽ hạn chế được tình trạng
doanh nghiệp xin vay vốn sử dụng vốn sai mục đích, giúp ngân hàng hạn chế rủi
ro tín dụng.
Thứ ba: Tín dụng TTXNK tạo nguồn thu cho ngân hàng. Thông qua các
khoản tín dụng cấp cho DNXNK, ngân hàng sẽ thu được các khoản phí hấp dẫn
được thể hiện thông qua các lãi suất cho vay. Các khoản phí ngân hàng thu được
thường cao, hấp dẫn vì giá trị tín dụng thường ở mức vừa và lớn, đóng góp quan
trọng vào thu nhập của ngân hàng. Ngoài ra thông qua tín dụng TTXNK, các
ngân hàng còn mở rộng được quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước
ngoài, từng bước nâng cao hình ảnh, uy tín của ngân hàng trên thị trường quốc
tế. Thực tế cho thấy hầu hết các ngân hàng ở khắp nơi trên thế giới đều đặc biệt
chú trọng trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng quốc tế hoặc hẹp hơn là
hoạt động cho vay xuất nhập khẩu.
1.1.3.3. Đối với nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng TTXNK là nhân tố quan trọng làm tăng hiệu quả hoạt
động ngoại thương, góp phần gia tăng kim ngạch xuất- nhập khẩu, cải thiện cơ
cấu mặt hàng xuất nhập khẩu theo hướng tích cực.
Hoạt động tín dụng TTXNK của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh
nghiệp phát triển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo động cơ thúc đẩy nền
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A

10
Chuyên đề tốt nghiệp
mà khách hàng xin bảo lãnh. Trong trường hợp thiếu sự tin cậy hoặc thương vụ
tiềm ẩn rủi ro cao thì ngân hàng yêu cầu ký quỹ 100% giá trị mà khách hàng xin
bảo lãnh. Trong thanh toán quốc tế, khách hàng phải thực hiện ký quỹ khi đề
nghị ngân hàng mở L/C hay xác nhận tín dụng thư…
Cho vay ký quỹ là hình thức tài trợ NK bởi do tính rủi ro của thương vụ
quá cao, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng ký quỹ với giá trị lớn mà khả năng
doanh nghiệp không thể đáp ứng hoặc đáp ứng một phần. Điều này gây trở ngại
cho khách hàng trong quá trình thực hiện thương vụ vì tiền ký quỹ là món tiền bị
phong toả khách hàng không được sử dụng đến suốt thời gian được ngân hàng
bảo lãnh dẫn tới vốn lưu động của doanh nghiệp bị thu hẹp. Khi đó căn cứ vào
uy tín của khách hàng, hiệu quả của thương vụ hoặc trên tài sản đảm bảo ngân
hàng có thể xét cho vay ký quỹ. Nó vừa giải quyết được khó khăn của khách
hàng vừa tăng tính an toàn và mang lại hiệu quả cho ngân hàng. Tuy nhiên, chỉ
nên cho vay ký quỹ đối với khách hàng thực hiện cho việc bảo lãnh và thanh
toán thông qua chính ngân hàng cho vay.
Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu hoặc tài trợ thanh toán bộ chứng từ
giao hàng .
Theo hình thức này, khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanh
mang tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất hoặc kinh doanh. Đồng
thời, khách hàng phải lên kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán
khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt cần ngân hàng tài
trợ. Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phương án của khách hàng,
ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức tài trợ mà ngân hàng chấp
nhận tài trợ. Tất cả công đoạn này phải thực hiện trước khi bộ chứng từ giao
hàng của người xuất khẩu về đến ngân hàng đứng ra tài trợ. Truờng hợp bộ
chứng từ đã về mà khách hàng mới xin tài trợ thanh toán thì khả năng bị ngân
hàng từ chối thanh toán rất cao vì ngân hàng có quá ít thời gian để xem xét bộ
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A

12
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là hình thức tài trợ XK sau khi giao hàng. Sau khi gửi hàng, nhà XK
xuất trình bộ chứng từ hàng xuất cùng với L/C gốc và đề nghị ngân hàng tài trợ.
Sau khi xem xét bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì ngân hàng sẽ thực
hiện việc chiết khấu bộ chứng từ. Như vậy, nhà XK sẽ được thanh toán ngay lập
tức mà không cần chờ đợi tiền thanh toán từ nhà nhập khẩu.
Căn cứ vào chất lượng bộ chứng từ bao gồm tính phù hợp với L/C, mặt
hàng xuất khẩu, thị trường nước xuất khẩu, danh tiếng của ngân hàng mở L/C…
mà ngân hàng quyết định chiết khấu bộ chứng từ có truy đòi hoặc miễn truy đòi.
- Chiết khấu bộ chứng từ miễn truy đòi: ngân hàng tiến hành mua lại bộ
chứng từ xuất khẩu hoàn hảo của người XK. Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa
là nhà XK bán hẳn bộ chứng từ cho ngân hàng, nhận tiền và không còn trách
nhiệm hoàn trả, thu tiền và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về
ngân hàng.
- Chiết khấu được phép truy đòi: ngân hàng thực hiện việc cho vay trên cơ
sở người XK xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo. Khi đó, trách nhiệm của nhà xuất
khẩu vẫn còn cho đến khi ngân hàng đòi được tiền từ nhà nhập khẩu. Trường
hợp ngân hàng không thu được tiền từ người mua, ngân hàng có quyền truy đòi
lại số tiền mà ngân hàng cho nhà xuất khẩu vay.
1.1.4.2. Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ.
So với tín dụng chứng từ, nhờ thu ít được sử dụng trong thanh toán vì đây
là phương thức thanh toán có lợi cho người mua, thường áp dụng khi hai bên
quen biết, tin tưởng lẫn nhau. Tài trợ của ngân hàng trong phương thức nhờ thu
kèm chứng từ thể hiện như sau:
- Nhờ thu đến trong thanh toán hàng nhập khẩu: ngân hàng tiếp nhận chứng
từ từ ngân hàng nước ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà NK. Nếu nhà NK
không có khả năng thanh toán thì cần phải có sự hỗ trợ của ngân hàng cho vay
thanh toán hàng nhập khẩu.
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A

14
Chuyên đề tốt nghiệp
chiết khấu) là mệnh giá của hối phiếu trừ đi lợi tức chiết khấu và lệ phí nhờ thu
mà ngân hàng chiết khấu hưởng.
Công thức xác định như sau:
TCK = M (1−LCK /3600 * T ) − P
Trong đó:
TCK: Giá trị chiết khấu.
M: Mệnh giá hối phiếu.
LCK: Lãi suất chiết khấu (theo năm).
T: Thời gian chiết khấu (ngày).
P: Lệ phí.
Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽ đòi tiền người có nhiệm vụ
trả tiền hối phiếu. Khi thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, các ngân hàng thường gặp
một số rủi ro như chiết khấu phải những hối phiếu không hợp lệ, được lập trên
hành vi gian lận thương mại hay người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu không có
khả năng thanh toán và từ chối thanh toán trả tiền khi hối phiếu đến hạn.
1.1.4.3.2. Chấp nhận hối phiếu.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký chấp
nhận hối phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà NK và khoản vay chỉ
là một hình thức một sự đảm bảo về tài chính vì thực chất ngân hàng chưa phải
xuất tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên khi đến hạn thanh toán nếu nhà NK
không có khả năng thanh toán thì ngân hàng sẽ phải trả nợ thay. Hình thức này
thường áp dụng khi nhà XK thiếu tin tưởng vào khả năng thanh toán của nhà
NK, nhà XK có thể đề nghị nhà NK yêu cầu một ngân hàng đứng ra chấp nhận
hối phiếu do nhà XK ký phát. Nếu ngân hàng đồng ý, điều đó có nghĩa là ngân
hàng đã chấp nhận cấp một khoản tín dụng cho nhà NK để họ thanh toán cho nhà
XK khi hối phiếu đến hạn.
1.1.4.4. Bảo lãnh.
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A

16
Chuyên đề tốt nghiệp
nhà XK người xin bảo lãnh. Mục đích của loại hình bảo lãnh này là tạo nghĩa vụ
cho nhà XK phải thực hiện đúng những điều đã ký kết trong hợp đồng và bồi
thường thiệt hại cho nhà NK trong trường hợp nhà XK vi phạm hợp đồng như
không giao hàng, giao hàng chậm hoặc giao hàng không đúng chất lượng, số
lượng đã cam kết.
- Bảo lãnh thanh toán. Quan hệ giữa nhà XK và nhà NK thực chất là quan
hệ tín dụng thương mại. Theo đó, nhà NK chấp nhận trả tiền hàng hoá theo một
kỳ hạn nợ cụ thể. Để bảo vệ mình trước rủi ro không thanh toán đầy đủ, nhà XK
có thể yêu cầu một bảo lãnh trả chậm của ngân hàng.
1.1.4.5. Bao thanh toán.
Đây là hình thức tài trợ đặc biệt cho nhà XK, ngân hàng hoặc các tổ chức
tài chính sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chưa đến hạn thanh
toán để trở thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ nhà NK nước ngoài. Hiện nay
trên thế giới nghiệp vụ BTT được thực hiện tại các ngân hàng hoặc thành lập ra
các công ty riêng goi là công ty Factoring chuyên mua lại các khoản nợ.
BTT có 2 hình thức chủ yếu sau:
- BTT có truy đòi là hình thức BTT trong đó đơn vị BTT có quyền truy đòi
lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng
hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu.
- BTT miễn truy đòi là hình thức BTT trong đó đơn vị BTT chịu toàn bộ rủi
ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa cụ thanh toán các
khoản phải thu. Để bù đắp các rủi ro có thể phát sinh do không thu hồi được các
khoản phải thu, đơn vị BTT thường áp dụng mức phí cao hơn mức có truy đòi.
1.2. ĐẨY MẠNH TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.2.1. Khái niệm.
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A
17

mà còn đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp XNK bởi họ chính là những người
sử dụng trực tiếp các sản phẩm cho vay XNK của ngân hàng.
Thứ nhất: hoạt động đẩy mạnh tín dụng TTXNK giúp doanh nghiệp được
hưởng một dịch vụ hoàn hảo, khép kín và nhanh chóng. Bởi muốn đẩy mạnh
hoạt động tín dụng TTXNK thì bản thân mỗi ngân hàng cần phải hoàn thiện một
quy trình nghiệp vụ rõ ràng, hiệu quả đem lại lợi ích tối đa cho khách hàng.
Thứ hai: việc đẩy mạnh tín dụng TTXNK giúp doanh nghiệp được nhanh
chóng đáp ứng các nhu cầu về vốn. Thông qua việc đẩy mạnh hoạt động
TDTXNK, nguồn vốn của ngân hàng dành cho hoạt động tài trợ XNK tăng lên
có thể đáp ứng được nhu cầu vay vốn của nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh
vực khác nhau. Kèm với đó là quy trình thực hiện tài trợ nhanh chóng, chính xác
giúp doanh nghiệp kịp thời, nhanh chóng có vốn để thực hiện hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình. Điều này có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt với các doanh
nghiệp thu mua, chế biến hàng nông thuỷ sản.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá việc đẩy mạnh hoạt động tín dụng TTXNK.
1.2.3.1. Các chỉ tiêu định tính.
1.2.3.1. Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Không phải lúc nào khi khách hàng có nhu cầu, ngân hàng cũng có khả
năng đáp ứng được bởi những mặt hạn chế của ngân hàng như nguồn vốn không
đủ lớn, các hình thức tài trợ còn quá ít không phù hợp áp dụng với điều kiện của
khách hàng. Nhu cầu không được đáp ứng buộc khách hàng phải tìm tới những
ngân hàng khác có nguồn vốn lớn và hình thức đa dạng phong phú hơn để xin tài
trợ. Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng mất đi những khách hàng tiềm
năng, uy tín của ngân hàng sẽ bị giảm xuống. Vì vậy việc đáp ứng nhu cầu của
khách hàng được coi là một chỉ tiêu định tính để đánh giá việc đẩy mạnh tín
dụng TTXNK ở mỗi ngân hàng. Bởi hoạt động tín dụng TTXNK có được đẩy
Sinh viên: Đặng Thị Hoàng Ánh Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A
19
Chuyên đề tốt nghiệp
mạnh thì ngân hàng mới dễ dàng đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp XNK,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status