LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa các quốc
gia là rất phong phú và đa dạng, bao gồm: thương mại, đầu tư, du lich, văn
hóa, quân sự, chính trị,… Những mối quan hệ này tạo nên nguồn thu, chi
ngoại tệ cho một quốc gia và được phản ánh chặt chẽ trên cán cân thanh toán.
Trong điều kiện nền kinh tế mở hiện nay, việc theo dõi các luồng ngoại tệ ra
vào là hết sức quan trọng để có được những chính sách đúng đắn, hiệu quả
cho nền kinh tế, điều này khiến cho vai trò của cán cân thanh toán trở nên hết
sức quan trọng. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế phát triển quá nóng và
đang gặp nhiều khó khăn, môi trường kinh tế quốc tế diễn biến tiêu cực, cán
cân thanh toán phản ánh những diễn biến xấu của nền kinh tế. Thâm hụt trong
tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán Việt Nam được đánh giá là một
trong 3 ngòi nổ của khủng hoảng kinh tế. Vậy, thực chất cán cân thanh toán là
gì, vai trò và sức ảnh hưởng của nó đến đâu trong nền kinh tế thời kỳ hội nhập
hiện nay. Với đề tài tìm hiểu về cán cân thanh toán quốc tế và tình hình cán
cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam, đề án này sẽ làm rõ một số vấn đề về cán
cân thanh toán và thực tế diễn biến ở Việt Nam, cũng như chỉ ra những nguy
cơ tiểm ần trong cán cân thanh toán của Việt Nam trong thời gian gần đây.
1
I. Lý thuyết chung về cán cân thanh toán
1. Khái niệm chung
1.1. Khái niệm
Cán cân thanh toán là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống,
ghi chép lại giá trị tất cả các giao dịch kinh tế giữa những người cư trú và
những người không cư trú trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
Có 2 loại cán cân thanh toán: Cán cân thanh toán thời kỳ và cán cân
thanh toán thời điểm.
Cán cân thanh toán trong một thời kỳ là bản đối chiếu giữa những khoản
tiền thực tế thu được từ nước ngoài với những khoản tiền mà thực tế nước đó
chi ra cho nước ngoài trong một thời kỳ nhất định. Vậy, loại cán cân này chỉ
phản ánh số liệu thực thu và thực chi của một nước đối với nước ngoài trong
trong đó tổng các bút toán ghi có đúng bằng tổng các bút toán ghi nợ, nhưng
có dấu ngược nhau. Do đó, chênh lệch giữa tổng các bút toán ghi có và tổng
các bút toán ghi nợ luôn bằng không. Điều này có nghĩa là về tổng thể thì cán
cân thanh toán luôn trong trạng thái cân bằng.
Do đó, khi nói đến cán cân thanh toán là thặng dư hay thâm hụt, người ta
muốn nói đến trạng thái thặng dư hay thâm hụt của một hay một nhóm các bộ
phận nhất định trong cán cân thanh toán. Về mặt nguyên tắc, thặng dư hay
thâm hụt cán cân bộ phận là chênh lệch giữa tổng các bút toán ghi có và tổng
các bút toán ghi nợ trên từng cán cân bộ phận.
2. Nội dung của cán cân thanh toán
2.1. Cán cân vãng lai
2.1.1. Cán cân thương mại
3
Cán cân thương mại còn được gọi là cán cân hữu hình, bởi nó phản ánh
chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu và các khoản chi cho nhập khẩu
hàng hóa, trong đó những hàng hóa này có thể quan sát thấy bằng mắt thường
khi di chuyển. Cán cân thương mại phản ánh chênh lệch thu chi về xuất nhập
khẩu hàng hóa hữu hình trong một thời gian nhất định.
Xuất khẩu làm phát sinh các khoản thu nên được ghi có trong cán cân
thương mại, còn nhập khẩu làm phát sinh các khoản chi nên được ghi nợ
trong cán cân thương mại. Khi thu nhập từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhập
khẩu hàng hóa, tức là khi này nền kinh tế có xuất khẩu ròng dương, thì cán
cân thương mại thặng dư. Ngược lại, khi thu nhập từ xuất khẩu thấp hơn thu
nhập dùng cho nhập khẩu hàng hóa, tức là nền kinh tế xuất khẩu ròng âm thì
cán cân thương mại ở trạng thái thâm hụt.
Với nội dung của cán cân thương mại, có thể thấy cán cân thương mại
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố tác động lên xuất nhập khẩu hàng hóa
của một quốc gia. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến thương mại và trạng
thái của cán cân thương mại là tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và ngoại tệ,
thu nhập của người tiêu dùng trong nước và nước ngoài, giá cả tương đối giữa
không thể chắc chắn giá trị hàng hóa xuất khẩu là tăng hay giảm. Tóm lại, ảnh
hưởng của nhân tố lạm phát lên giá trị xuất khẩu là không rõ ràng.
Chính sách của chính phủ đối với thương mại như chính sách khuyến
khích xuất khẩu, hay hạn chế nhập khẩu bằng thuế quan, hạn ngạch và các
công cụ khác có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị xuất nhập khẩu. Đây là
một yếu tố có tác động mạnh đến cán cân thương mại và có tác động tức thời,
tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế mở hiện nay, việc áp dụng những chính
sách này có thể gây ra những thiệt hại do sự trừng phạt của các quốc gia bạn
hàng.
5
Cán cân thương mại sẽ được cải thiện khi mà các tác động ròng của các
yếu tố tác động lên giá trị xuất khẩu và nhập khẩu là dương, và trở nên xấu đi
khi tác động ròng của các nhân tố lên giá trị xuất khẩu và nhập khẩu là âm.
2.1.2. Cán cân dịch vụ
Cán cân dịch vụ bao gồm các khoản thu chi từ các hoạt động dịch vụ về
vận tải, du lịch, bảo hiểm, bưu chính, viễn thong, hàng không, ngân hàng,
thông tin, xây dựng và từ các hoạt động dịch vụ khác giữa người cư trú với
người không cư trú. Giống như xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập khẩu dịch
vụ làm phát sinh cung ngoại tệ nên được ghi vào bên có và có dấu (+); nhập
khẩu dịch vụ làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ và có dấu ().
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị xuất nhập khẩu dịch vụ cũng giống như
các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa, do dịch vụ có thể
được coi như loại hàng hóa đặc biệt, hàng hóa vô hình.
1.1.3. Cán cân thu nhập
Cán cân thu nhập bao gồm thu nhập của người lao động và thu nhập từ
đầu tư.
Thu nhập của người lao động là các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền
thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền, hiện vật do người không cư trú
trả cho người cư trú và ngược lại. Các nhân tố ảnh hưởng lên thu nhập của
người lao động bao gồm số lượng và chất lượng, tức mức lương của những
dấu (+). Bên cạnh đó, luồng vốn chảy ra phản ánh làm tăng tài sản có hoặc
làm giảm tài sản nợ của người cư trú đối với người không cư trú. Các luồng
vốn chảy ra làm tăng nhu cầu về ngoại tệ, do đó được phản ánh ghi nợ và
mang dấu (-). Có thể coi việc luân chuyển vốn như là việc người cư trú nhập
khẩu hoặc xuất khẩu các khoản đầu tư này.
7
Cán cân vốn bao gồm cán cân vốn dài hạn, cán cân vốn ngắn hạn và
hạng mục chuyển giao vốn một chiều.
Đối với vốn dài hạn, có thể chia thành vốn đầu tư của khu vực tư nhân
và khu vực nhà nước, hay chia thành vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp và các
luồng vốn dài hạn khác. Tiêu chí để phân chia luồng vốn dài hạn vào danh
mục đầu tư trực tiếp hay gián tiếp là mức độ kiểm soát của công ty nước
ngoài. Về mặt lý thuyết, hiện nay nếu mức độ kiểm soát của công ty nước
ngoài đối với nguồn vốn là 51% trở lên thì được coi là đầu tư trực tiếp. Tuy
nhiên, trong thực tế hầu hết các quốc gia coi các khoản đầu tư nước ngoài
chiếm 30% vốn cổ phần trở lên là đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp bao gồm
các khoản đầu tư mua trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và đầu tư cổ
phiếu nhưng chưa đạt đến mức độ để kiểm soát công ty.
Cán cân vốn ngắn hạn có thể được phân chia theo nhiều hạng mục phong
phú và chủ yếu là: tín dụng thương mại ngắn hạn, hoạt động tiền gửi, mua bán
các giấy tờ có giá ngắn hạn, các khoản tín dụng ngân hàng ngắn hạn, kinh
doanh ngoại hối…Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, các nguồn vốn có
thể tự do tru chuyển trong thời gian ngắn và chi phí thấp. Điều này khiến cho
cán cân vốn ngắn hạn trở nên có ảnh hưởng đáng kể đến cán cân thanh toán
nói chung của một quốc gia. Một nguyên nhân chính khiến cho các luồng vốn
ngắn hạn tăng lên nhanh chóng là xu hướng thả nổi tỷ giá sau năm 1973, cũng
như chính sách kinh tế tài chính thị trường tự do cùng xu thế toàn cầu hóa
hiện nay.
Chuyển giao vốn một chiều là hạng mục bao gồm các khoản viện trợ
không hoàn lại cho các mục đích đầu tư và các khoản nợ được xóa.
9
của nền kinh tế. Khi NHTW can thiệp bán ra ngoại tệ, làm cho dự trữ ngoại
hối giảm, đồng thời làm tăng cung ngoại hối cho nền kinh tế nên được ghi co
(+). Ngược lại, khi NHTW can thiệp mua ngoại tệ vào, làm cho dự trữ ngoại
hối tăng, đồng thời làm tăng cầu ngoại tệ đối với nền kinh tế ta ghi nợ (-).
Khi cán cân tổng thể thặng dư, cán cân bù đắp chính thức là âm. Điều
này là vì NHTW đã tiến hành mua ngoại tệ vàom nghĩa là tăng cầu ngoại tệ
đối với nền kinh tế, đồng thời làm dự trữ ngoại hối tăng. Còn khi cán cân tổng
thể thâm hụt, cán cân bù đắp chính thức là dương do khi này, NHTW sẽ bán
ra ngoại tệ, tăng cung ngoại tệ cho nền kinh tế đồng thời giảm dự trữ ngoại
hối.
3. Ý nghĩa của một số cán cân chủ yếu
3.1.Cán cân thương mại
Chệnh lệch cán cân thương mại là chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và
giá trị nhập khẩu về hàng hóa. Là bộ phận chính của cán cân vãng lai, nó phản
ánh kịp thời xu hướng vận động của cán cân vãng lai, từ đó làm cơ sở cho
việc dự báo và đánh giá nền kinh tế.
Trạng thái thâm hụt hay thặng dư của cán cân thương mại có thể được
dùng để đánh giá tình hình thương mại quốc tế cũng như trình độ cạnh tranh
của hàng hóa trong nước và hàng xuất khẩu của một quốc gia. Với các nước
đang phát triển, tình trạng nhập siêu là phổ biến do tính cạnh tranh của hàng
hóa chưa cao.
3.2. Cán cân vãng lai
Cán cân vãng lai bao gồm cả cán cân vô hình và cán cân hữu hình, nên
nhìn tổng thể thì nó có ý nghĩa quan trọng hơn cán cân thương mại.
Nếu cán cân thặng dư, điều đó có nghĩa là thu nhập của người cư trú từ
người không cư trú là lớn hơn so với khoản chi bỏ ra cho người không cư trú.
Điều này có nghĩa là giá trị ròng của các giấy tờ có giá do người không cư trú
10
phát hành nằm trong tay người cư trú tăng lên. Ngược lại, nếu thâm hụt có
cách bán ra ngoại hối, làm giảm dự trữ và ngược lại, NHTW mua vào ngoại
hối tăng dự trữ khi cán cân tổng thể thặng dư. Nếu một quốc gia có thâm hụt
cán cân tổng thể kéo dài, thì chính phủ có thể sẽ không đủ sức tài trợ cho
những mất mát và gây ra trạng thái bất ổn trong nền kinh tế.
Trạng thái của cán cân tổng thể là căn cứ quan trọng đối với các nước có
chế độ tỷ giá cố định, bởi NHTW phải dựa vào trạng thái của cán cân tổng thể
mà đánh giá cung cầu ngoại tệ, từ đó đánh giá các áp lực dẫn đến phải nâng
giá hay phá giá đồng nội tệ. Trong hệ thống tỷ giá cố định, một quốc gia có
thâm hụt cán cân tổng thể phải chịu áp lực cung nội tệ lớn hơn cầu, do đó để
tránh phá giá, NHTW phải bán ngoại tệ để tăng sức cầu nội tệ.
Tuy nhiên, khi phân tích cán cân tổng thể cũng cần đánh giá toàn diện
trạng thái của cán cân vãng lai và cán cân vốn. Nhiều trường hợp, thâm hụt
cán cân tổng thể chưa hẳn là nguy hiểm cho nền kinh tế, nếu như chính phủ
đang thi hành chính sách tăng cường đầu tư ra nước ngoài. Như vậy, mặc dù
trong ngắn hạn, cán cân tổng thể bị thâm hụt, ngoại tệ chảy ra nước ngoài
nhưng sự thâm hụt này lại hứa hẹn những nguồn thu ổn định trong tương lai.
Hoặc khi cán cân tổng thể cân bằng hoặc có thặng dư, nhưng trong đó những
thâm hụt của cán cân thương mại hay cán cân vãng lai được bù đắp bằng
nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn ngắn hạn thì phải nhận thức được nền kinh
tế có những nguy cơ tiềm tàng, sức cạnh tranh của thương mại trong nước
kém hay nguy cơ khi nguồn vốn ngắn hạn tháo chạy sẽ gây náo loạn trong
nền kinh tế…
12