Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thủ Đô - Pdf 32

LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng thương mại là một trung tâm tài chính có vai trò quan trọng đối với sự
phát triển của nền kinh tế thông qua chức năng cung cấp tín dụng, nhận tiền gửi và
thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Bên cạnh các nghiệp vụ truyền thống một nghiệp
vụ hỗ trợ và mang tính chất khá quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, nó giúp cho cán bộ tín dụng và ban lãnh đạo có quyết định đúng hơn đối với
từng món vay, đó chính là nghiệp vụ thẩm định trong ngân hàng.
Ngày nay, các ngân hàng có xu hướng mở rộng các loại hình dịch vụ của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, các mánh khóe trong xã hội ngày càng tinh
vi, phức tạp hơn, điều đó sẽ đem lại những rủi ro cho hoạt động tín dụng ngân hàng.
Chính điều này càng khẳng định vai trò của thẩm định trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng, đặc biệt là công tác thẩm định dự án đầu tư.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thủ Đô thành lập từ tháng 4 năm
2008, ngày từ khi thành lập Ngân hàng đã chú trọng đến công tác thẩm định. Các
cán bộ tín dụng khi có dự án phải trực tiếp tiến hành thẩm định để từ đó đưa ra
quyết định cho từng món vay và giúp Ban lãnh đạo có quyết định đúng trong việc
cho vay, giúp cho Ngân hàng giảm bớt các rủi ro trong hoạt động cho vay. Bên cạnh
những đóng góp của công tác thẩm định đối với hoạt động cho vay thì công tác
thẩm định tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thủ Đô còn có phát
sinh những tồn tại cần tháo gỡ. Chính điều này em chọn đề tài “Giải pháp hoàn
thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Thủ Đô ” làm chuyên đề tốt nghiệp.
1
Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng các phương pháp lý thuyết hệ thống duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, phân tích hoạt động kinh tế, thống kê, tổng kết thực tiễn, phân tích…
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thẩm định ngân hàng là một nghiệp vụ rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng và khá rộng vì trong ngân hàng thẩm định có thể diễn ra ở tất các khâu
trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Chính vì vậy, để có thể đi sâu vào một
nghiệp vụ cụ thể của Ngân hàng, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là

• Trung gian tài chính
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết
kiện thành dầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh
tế. (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu
dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ cần bổ sung vốn: và (2) các cá nhân
và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản
chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Điều tất yếu là tiền
sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi. Như vậy thu
nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm.
• Tạo phương tiện thanh toán
Toàn bộ hệ thống NHTM cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi
được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
3
• Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nayở hầu hết các quốc
gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch
vụ.
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng thương mại luôn luôn tiến hành 3 nghiệp vụ cơ bản :
• Huy động vốn
Đối với hoạt động huy động vốn, đây là hoạt động “đầu vào” của ngân hàng, ngân
hàng phần lớn dựa vào việc huy động tiền vốn nhàn rỗi tạm thời trong nền kinh tế.
Thông thường ngân hàng có các loại tiền gửi là tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Để thực hiện được hoạt động huy động vốn, ngân hàng cần có một lượng vốn nhất
định là vốn tự có. Lượng vốn này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn sử dụng song
nó rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng. Đây là cơ sở thu hút tiền gửi của
khách hàng, là nguồn để trang trải rủi ro khi gặp phải trong kinh doanh và là chỉ tiêu
để Ngân hàng Trung ương quản lý Ngân hàng thương mại.
• Hoạt động sử dụng vốn

nhau một mặt thoả mãn nhu cầu của khách hàng một mặt mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng.
1.2 Tổng quan về dự án đầu tư
1.2.1 Khái niệm dự án đầu tư
Dự án và đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đầu tư phát triển là nguồn
gốc ra đời của các dự án. Ngược lại, việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu tư sẽ
kiểm nghiệm tính đúng đắn và hiệu quả của quyết định đầu tư.
Khái niệm về dự án đầu tư hiện nay vẫn chưa có một định nghiã nào thật hoán
chỉnh. Tuy nhiên, dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ.
Theo luật đầu tư của Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số
59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì dự án đầu tư được định nghĩa như
sau: Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các
hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoản thời gian xác định.
Ngân hàng thế giới xem xét dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi
phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đặt được những mục tiêu nhất định
trong thời gian nhất định.
5
Về mặt hình thức đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và
có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả
và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Trên góc độ quản lý dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật
tư, lao động để tạo ra kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài.
Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi
tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát tiển kinh tế xã hội, làm tiền
đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt nhỏ
nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau
được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ
thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
Dù xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồm các thành

doanh đạt hiệu quả cao, còn các dự án đầu tư phát triển kinh doanh đến lượt mình
lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và
các dự án đầu tư khác.
1.2.2.3. Theo giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất
xã hội
Theo cách thức này thì dự án đầu tư sản xuất kinh doanh có thể chia ra thành dự
án đầu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất.
Dự án đầu tư thương mại là loại dự án đầu tư có thời gian thực hiện đầu tư
và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất bất định
không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao. Nhìn trên giác độ xã
hội thì loại dự án này không tạo ra của cải vật chất cụ thể một cách trực tiếp, những
giá trị tăng thêm do hoạt động của dự án đầu tư này đem lại chỉ là sự phân phối lại
thu nhập giữa các ngành, các địa phương, các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án đầu tư có thời hạn hoạt động dài hạn (từ
5, 20 năm hoặc lâu hơn), với vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu
tư lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố
bất định trong tương lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (về nhu
cầu, giá cả đầu vào, đầu ra, cơ chế chính sách…). Thực hiện loại dự án này cần phải
chuẩn bị kỹ, cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của
hoạt động đầu tư trong tương lai xa, phải xem xét các biện pháp xử lý khi các yếu tố
bất định xảy ra để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi khi hoạt động của dự án đầu tư
kết thúc.
1.2.2.4. Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra
7
Theo hình thức này có thể phân chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư
ngắn hạn (như dự án đầu tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các dự án đầu tư
sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng…)
1.2.2.5. Theo phân cấp quản lý
Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành theo nghị định 52/1999/NĐ - CP
ngày 08/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ phân chia dự án thành 3 nhóm A, B, C

tình hình thị trường, đánh giá kết luận về nhu cầu hiện tại, dự báo nhu cầu tương lai
(khu vực, trong nước, ngoài nước nếu có dự kiến xuất khẩu) về cả số lượng, chất
lượng, giá cả... các nguồn đáp ứng nhu cầu hiện tại. Dự báo mức độ gia tăng cung
cấp cho tương lai, sự thiếu hụt so với nhu cầu thị trường. Các căn cứ về khả năng
phát triển về năng lực sản xuất. Quy mô năng lực hiện tại của ngành và năng lực
huy động. Đánh giá tình trạng hoạt động hiện tại và nhịp độ tăng trưởng tương lai...
Dự báo số lượng, giá cả hàng hoá bán ra, khả năng cạnh tranh với các nhà sản xuất
trong và ngoài nước, khả năng xâm nhập thị trường, hướng lựa chọn thị trường.
Ba là, lựa chọn hình thức đầu tư, công suất
Phân tích các điều kiện và lợi ích của việc huy động năng lực hiện tại, đầu tư
chiều sâu, mở rộng các cơ sở đã có, so với đầu tư mới từ đó lựa chọn phương thức
đầu tư.
Phân tích các điều kiện, yếu tố để lựa chọn hình thức đầu tư (Công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp quốc doanh...).
Phân tích lựa chọn công suất thích hợp. Nêu các phương án và chọn công suất tối
ưu, khả thi.
Bốn là, chương trình sản xuất và các yêu cầu đáp ứng .
Trong phần này nêu lên cơ cấu sản xuất: số lượng sản phẩm hàng năm, chất lượng
giá cả. Số hàng bán dự kiến. Lượng lưu kho trung bình. Lịch trình sản xuất như thế
nào (vận hành, chạy thử, chạy hết công suất ...). Bán thành phẩm, phế liệu. Các nhu
cầu đầu vào và các giải pháp đảm bảo. Phải xác định được nhu cầu đầu vào cho
từng loại sản phẩm và toàn bộ nhu cầu sản xuất hàng năm: Nhu cầu và đặc điểm
nguyên vật liệu (vật liệu thô, các hoá phẩm, vật liệu đã qua chế biến, các sản phẩm
nhập khẩu, vật liệu phụ...). Tình trạng cung ứng, yêu cầu dự trữ nguyên vật liệu.
Chương trình cung cấp nguyên vật liệu sản xuất: các giải pháp về nguồn cung cấp
(trong nước, nhập khẩu) phương thức cung ứng (quy hoạch sản xuất, mua theo hợp
đồng, vận tải, nếu nhập khẩu cần xác định nguồn cung cấp hình thức nhập, điều
kiện giao hàng, giá cả), phân tích các thuận lợi hạn chế, các ảnh hưởng bất lợi,
hướng khắc phục. Lịch trình cung cấp, các chi phí cho từng lịch trình cung cấp. Các
giải pháp đảm bảo kết cấu hạ tầng và phục vụ sản xuất. Các nhu cầu cung cấp điện,

Tám là, tổ chức quản lý sản xuất và bố trí lao động
Xác định được nhu cầu nhân lực cách bố trí nhân lực, sơ đồ quản lý tổ chức sản
xuất. Xác định các chi phí: Chi phí quản lý, chi phí nhân công, chi phí phân xưởng,
chi phí hành chính, chi phí đào tạo, chi phí bảo hiểm...
10
Chín là, phân tích tài chính – kinh tế.
Đây là phần khá quan trọng đối với mội dự án đầu tư. Phần này phản ánh tính hiệu
quả của dự án về mặt kinh tế.
Khi phân tích tài chính của dự án: phải nêu được các chỉ tiêu thành phần vốn của dự
án (vốn cố định, vốn lưu động, vốn dự phòng...). Nguồn vốn (vốn của đơn vị, vốn
vay, ...). Các hình thức góp vốn, tiến độ thực hiện chi phí vốn...
Tính toán hiệu quả tài chính của dự án: phải nêu ra được tổng chi phí dự án, doanh
thu của dự án, lợi nhuận của dự án. Sau khi có các thông số lập biểu tính toán hiệu
quả của dự án, tính điểm hoàn vốn, thời gian hoàn vốn, độ nhậy của dự án. Từ đó
đưa ra các kết luận về mặt tài chính của dự án.
Về mặt kinh tế - xã hội: dự án đã đem lại cho xã hội những lợi ích gì. Giá trị sản
phẩm hàng hoá ra tăng. Tính đa dạng hoá sản phẩm của nền kinh tế, dự án đem lại
việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng góp vào ngân sách quốc gia, thu hút
nguồn ngoại tệ.
Mười là, kết luận và kiến nghị
Trong phần này, đưa ra các kết luận kiến nghị các chính sách và chế độ ưu đãi.
1.3 Hoạt động thẩm định dự án đầu tư của NHTM
1.3.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
Hoạt động đầu tư đã đóng một vai trò không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển
ổn định kinh tế xã hội. Để phát huy được mặt tích cực của các dự án đầu tư và hạn
chế được những mặt tiêu cực của nó thì khi chấp thuận việc thực hiện một dự án,
người ta thường phân tích đánh giá, xem xét dự án về các mặt tài chính, kinh tế xã
hội… Để có được một quyết định đúng đắn khi đưa dự án vào thực hiện. Những
hoạt động xem xét, đánh giá dự án nhằm những mục tiêu nói trên được gọi là “thẩm
định dự án”.

vay một cách đúng đắn và chính xác nhất. (2) Tham gia góp ý cho chủ đầu tư về
phương án sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề để đảm bảo hiệu quả cho vay, thu được
nợ gốc và lãi đúng hạn và hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất. (3) Xác định khả năng
và ý muốn của người cho vay trong việc trả nợ vay (cả gốc lẫn lãi) phù hợp với các
điều khoản của hợp đồng tín dụng. (4) Là cơ sở để xác định mức rủi ro có thể chấp
nhận, xác định số tiền cho vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. (5) Rút ra kinh nghiệm và bài
học để thực hiện các dự án sau được tốt hơn.
Vì vậy, trong công tác thẩm định dự án đầu tư, phải rất thận trọng để đem lại
sự an toàn cần thiết cho ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng đồng thời không
bỏ lỡ cơ hội đầu tư có lãi, phục vụ khách hàng đầu tư có hiệu quả.
1.3.3 Nội dung của thẩm định dự án đầu tư
12
Các cán bộ tín dụng của ngân hàng cần thẩm định các nội dung sau của dự án đầu
tư:
* Thẩm định hồ sơ pháp lý của dự án
Khi thẩm định hồ sơ pháp lý của dự án thì cần phải xem xét xem dự án có phù hợp
với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, địa phương. Phù hợp với quy
hoạch phát triển ngành, địa phương có liên quan.
Dự án có thuộc đối tượng sản xuất kinh doanh trong đăng ký kinh doanh không.
Mỗi dự án bao giờ cũng có bộ hồ sơ pháp lý. Hồ sơ pháp lý của dự án bao gồm các
giấy phép, quyết định liên quan đến dự án mà chủ đầu tư đang thực hiện như: Báo
cáo nghiên cứu khả thi, quyết định phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của cấp có
thẩm quyền phê duyệt, giấy phép xây dựng hoặc giấy chứng nhận đầu tư của cấp có
thẩm quyền phê duyệt, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê đất,
các văn bản pháp lý khác có liên quan đến dự án đầu tư...
*Thẩm định sự cần thiết của dự án
Khi tiến hành thẩm định dự án, trước hết ngân hàng phải xem xét đến các mục tiêu,
định hướng của dự án bởi vì dự án được thực hiện sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến đời
sống nhân dân, đến toàn bộ nền kinh tế, xã hội, ảnh hưởng đến cung cầu hàng hoá,

được mức tiêu hao sản phẩm thì cần có các thông số để đo lường cụ thể như: khối
lượng sản xuất trong năm, mức tồn kho cuối năm của sản phẩm, giá cả của sản
phẩm...Các số liệu này có thể lấy từ các cơ quan thống kê hoặc tự doanh nghiệp
điều tra.
+ Dự báo nhu cầu thị trường trong tương lai. Việc dự báo nhu cầu trong tương lai
ngoài việc dựa vào nhu cầu và mức tiêu thụ sản phẩm trong quá khứ thì cần phải
xem xét thêm một số yếu tố: Tính đàn hồi của nhu cầu so với giá, tính đàn hồi của
cầu so với thu nhập, các yếu tố khác ảnh hưởng đến nhu cầu, dự đoán nhu cầu cho
một số các nhóm hàng tiêu biểu.
+ Vấn đề về tiếp thị và khuyến thị
Việc xác định có nhu cầu của thị trường về sản phẩm của dự án mới chỉ cho phép
giải quyết một số vấn đề về tiêu thụ sản phẩm còn làm thế nào để người tiêu dùng
sử dụng sản phẩm của mình thay vì sử dụng sản phẩm của các dự án khác lại thuộc
về khâu tiếp thị và khuyến thị. Tiếp thị và khuyến thị có nghĩa là xác định bằng cách
nào với chi phí bao nhiêu để có thể tiêu thụ được sản phẩm của dự án.
Tiếp thị là đưa sản phẩm đến tận tay của người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất.
Khi tiếp thị cần phải xem xét một số vấn đề: đối tượng khách hàng, cách thức phân
phối sản phẩm, các chi phí để đưa hàng đến tận tay người tiêu dùng. Mỗi một khách
hàng có một cách tiếp cận và phân phối sản phẩm khác nhau.
14
Khuyến thị là một bộ phận chủ chốt của tiếp thị. Mục tiêu của khuyến thị là làm sao
người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của mình thay vì sử dụng sản phẩm cùng loại
của các cơ sở khác.
+ Xem xét khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Có nhiều loại sản phẩm khác nhau sẽ đem đến nhiều loại hình lựa chọn khác nhau
cho người tiêu dùng. Có những sản phẩm độc quyền nhưng cũng có những sản
phẩm cho nhiều loại để thay thế. Bên cạnh đó cũng có nhiều nhà sản xuất cùng một
loại sản phẩm. Chính vì vậy, để có thể tiêu thụ sản phẩm thuộc dự án của mình nhà
đầu tư nói riêng và ngân hàng nói chung cũng cần phải xem xét đến tính cạnh tranh
của sản phẩm mình sản xuất ra. Nhất là nếu sản phẩm của mình lại là loại sản phẩm

pháp kiểm tra.
- Phương pháp và kỹ thuật sản xuất, công suất của máy móc thiết bị
Để tạo ra sản phẩm có nhiều phương pháp và kỹ thuật sản xuất khác nhau. Mỗi một
loại hình kỹ thuật sẽ cho ra sản phẩm và đặc tính chất lượng và giá thành khác nhau.
Vì vậy việc nghiên cứu để lựa chọn ra được phương pháp và kỹ thuật sản xuất phù
hợp với loại sản phẩm của dự án, phù hợp với điều kiện máy móc thiết bị, phù hợp
với khả năng tài chính của chủ đầu tư cũng là một yếu tố quan trọng cho sự thành
công của dự án.
Việc nghiên cứu kỹ thuật và phương pháp sản xuất cần đươc tiến hành theo các khía
cạnh sau: Bản chất của kỹ thuật sản xuất, yêu cầu về tay nghề của người sử dụng,
khả năng tiếp thu kỹ thuật, yêu cầu về nguyên vật liệu, năng lượng sử dụng. Khả
năng chuyển sang sản xuất mặt hàng khác trong trường hợp mặt hàng cũ không còn
nhu cầu hoặc chức năng không còn phù hợp nữa. Nhà cung cấp, cách thức cung cấp
và quyền sở hữu công nghiệp, yêu cầu về vốn đầu tư và ngoại tệ.
Đối với các sản phẩm đơn giản thì có kỹ thuật sản xuất đơn giản và ngược lại. Song
đối với các sản phẩm phước tạp và đòi hỏi kỹ thuật cao thì khả năng lựa chọn công
nghệ là ít.
Sau khi nghiên cứu kỹ thuật – phương pháp sản xuất khác nhau thì cần phải lựa
chọn một phương pháp sản xuất - kỹ thuật thích hợp nhất phù hợp với điều kiện
thực tế hiện có của dự án mà vẫn đảm bảo đáp ứng được mọi yêu cầu về chất lượng,
số lượng sản phẩm với chi phí hợp lý. Việc lựa chọn kỹ thuật công nghệ chú ý tránh
lựa chọn các kỹ thuật quá mới mẻ hoặc đang thử nghiệm chưa có tính thực tế. Tuy
nhiên cũng cần tránh việc lựa chọn các kỹ thuật quá lạc hậu không đem lại hiệu quả
cao trong hoạt động sản xuất. Để lựa chọn công nghệ cần chú ý đến việc áp dụng
công nghệ ở đâu, khả năng về vốn và lao động thế nào, xu hướng lâu dài của công
nghệ, khả năng vận hành và quản lý công nghệ có hiệu quả không....
16
Khi đã quyết định là sử dụng công nghệ nào thì việc lựa chọn máy móc thiết bị để
sử dụng hiệu quả công nghệ đó cũng là vấn đề nhà đầu tư phải quan tâm. Khi lựa
chọn máy móc thiết bị thì cần có một danh mục thiết bị máy móc như: máy móc

17
tuân thủ đúng các văn bản pháp luật về đất đai, xây dựng, giải phóng mặt bằng...Tất
cả các vấn đề trên cần được khảo sát lựa chọn kỹ lưỡng để đưa ra một phương án
tối ưu nhất.
- Kiểm tra tính hợp lý về kế hoạch tiến độ thực hiện dự án
Đây là một yếu tố quan trọng liên quan đến việc sử dụng vốn, kế hoạch sản xuất, kế
hoạch cho vay thu nợ của ngân hàng. Khi kiểm tra tính hợp lý về kế hoạch thực hiện
dự án thì cần xác định được thứ tự ưu tiên để tập trung vốn đầu tư hoàn thành dứt
điểm. Tránh tình trạng dàn đều tất cả các hạng mục cùng một lúc sẽ không có hiệu
quả thậm chí có thể dẫn đến lãng phí về nguyên liệu, nhân công không cần thiết.
*Thẩm định nội dung tổ chức, quản lý thực hiện vận hành dự án
Trong phần này cán bộ thẩm định cần phải nắm được rõ mô hình thực hiện quản lý
dự án của chủ đầu tư như thế nào. Cách thức quản lý ra sao, năng lực của chủ đầu
tư. Nguồn lao động của dự án. Để từ đấy có thể tư vấn cho chủ đầu tư cách thức nào
là hợp lý và phù hợp với dự án nhất.
*Thẩm định tài chính của dự án
Tài chính dự án là một phần nội dung quan trọng trong tổng thể của dự án. Bất kỳ
một dự án nào dù là tiền khả thi hay khả thi thì cần phải tiến hành phân tích tình
hình tài chính của dự án. Đối với ngân hàng phân tích tình hình tài chính lại có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng. Chính vì
vậy đây là một công việc mà các bộ thẩm định không thể bỏ qua trong thẩm định dự
án đầu tư. Ngoài ra thông qua việc phân tích tài chính của dự án còn cho ta xác định
được quy mô đầu tư, cơ cấu các loại vốn, nguồn tài trợ cho dự án, tính toán thu chi
lỗ lãi những lợi ích thiết thực mang lại cho nhà đầu tư và cả cộng đồng.
Việc tính toán, phân tích tình hình tài chính của dự án được tiến hành theo nội dung
sau:
- Xác định vốn đầu tư, cơ cấu các loại vốn, nguồn tài trợ.
- Tính toán các khoản thu, chi, lợi nhuận.
- Xác định các chỉ tiêu hiệu quả và các vấn đề liên quan khác.
* Xác định vốn đầu tư, cơ cấu các loại vốn, nguồn tài trợ:

lý, chi phí bán hàng, chi phí lãi vay, thuế thu nhập phải nộp, các loại chi phí khác,…
Dòng tiền vào của dự án là các khoản tiền chảy vào dự án: các nguồn vốn tài trợ,
doanh thu hàng năm của dự án, giá trị thanh lý tài sản, vốn lưu động được giải
phóng khi kết thúc dự án.
Lợi nhuận của dự án là khoản tiền thu được hàng năm sau khi đã trừ đi tất cả các
khoản chi phí.
Dòng tiền ròng (thu nhập ròng) = Lợi nhuận sau thuế + khấu hao TSCĐ
19
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của dự án
Chỉ tiêu 1: Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value – NPV)
Giá trị hiện tại ròng của dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tại của luồng
tiền ròng kỳ vọng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư.
Để tính được giá trị hiện tại ròng ta phải quy giá trị dòng tiền về một năm gốc
(thường là năm hiện tại của dự án) nhất định.
Công thức tính:
( ) ( ) ( )
n
n
i
CF
i
CF
i
CF
CFNPV
+
+⋅⋅⋅+
+
+
+

đắp các khoản chi cho dự án.
Đối với chủ đầu tư để có thể lựa chọn được một dự án khả thi thì họ bao giờ cũng
quan tâm đến giá trị của NPV tại thời điểm hiện tại cao hay thấp. Dự án nào có
NPV càng cao thì đồng nghĩa với hiệu qủa của dự án càng cao. Đó cũng là một
trong những điều kiện đánh giá tính hiệu quả của dự án.
Tính NPV cho biết quy mô về số tiền lãi ròng có thể thu được khi thực hiện dự án.
Tuy nhiên chỉ tiêu này lại phụ thuộc nhiều vào lãi suất chiết khấu. Khi lãi suất tăng
thì NPV nhỏ và ngược lại. Chỉ tiêu này rất nhạy cảm với sự tăng giảm của lãi suất.
Chính vì vậy khi tính toán chỉ tiêu này cần phải xác định mức lãi suất thật chính xác
phù hợp với điều kiện thực tế.
20
Chỉ tiêu 2: Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return – IRR)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR là một chỉ tiêu được dùng phổ biến nhất hiện nay. IRR
là mức lãi suất tối đa mà dự án chịu đựng được hay nói cách khác tại mức IRR đó
dự án hoà vốn, các khoản thu từ dự án bằng các khoản chi của dự án.
IRR của dự án là tỷ lệ lãi suất phải đủ trả cho các khoản vay trong suốt thời gian
hoạt động của dự án để đảm bảo dự án không bị lỗ thì dự án mới được chấp nhận.
Cách tính IRR
Để xác định được IRR ta phải tính NPV tại hai mức lãi suất khác nhau. Tại mức lãi
suất r
1
thì tính được mức NPV
1
>0 và tại mức r
2
thì tính mức NPV
2
<0.
Công thức tính IRR
( )

C: Vốn đầu tư ban đầu
LR: Lãi ròng hàng năm
KH: Khấu hao hàng năm
Chú ý:
21
- Công thức (3) áp dụng khi lãi ròng hàng năm là bằng nhau và khấu hao hàng năm
cũng bằng nhau.
- Nếu trong dự án có vay vốn để thực hiện, trong trường hợp lãi vay trả hàng năm
bằng nhau thì mẫu số của công thức (3) cộng thêm phần lãi vay.
- Nếu lãi ròng, khấu hao và lãi vay hàng năm không bằng nhau thì ta có thể tính thời
gian hoàn vốn bằng cách lập bảng tính.
- Nếu áp dụng giá trị đồng tiền theo thời gian thì ta cần phải tính các khoản chi phí,
thu nhập đã chiết khấu để đưa về hiện tại. Kết quả tính toán phụ thuộc vào lãi suất
chiết khấu. Lãi suất này càng lớn thì số tiền bị chiết khấu đi càng nhiều do đó thời
gian hoàn vốn càng dài. Chính vì vậy cần phải xem xét lựa chọn lãi suất chiết khấu
sao cho hợp lý, thường lấy bằng lãi suất thu lợi tối thiểu có thể chấp nhận được.
Việc tính toán thời gian hoàn vốn giúp nhà đầu tư cũng như ngân hàng biết được
thời gian thu hồi vốn của dự án là bao lâu để phục vụ cho sự ra quyết định có đầu tư
hay không. Tuy nhiên, chỉ tiêu này không cho biết thu nhập sau khi hoàn vốn có
nhiều hay không. Có những dự án thời gian hoàn vốn dài nhưng lợi nhuận đem lại
sau hoàn vốn lại cao thì cũng có thể là dự án tốt.
Chỉ tiêu 4: Điểm hoà vốn của dự án:
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu của dự án vừa đúng bằng tổng chi
phí hoạt động. Điểm hoà vốn được biểu hiện bằng số đơn vị sản phẩm hoặc giá trị
của doanh thu.
Cách tính:
Gọi x là khối lượng sản phẩm sản xuất hoặc bán được.
Gọi x
0
là khối lượng sản phẩm tại điểm hoà vốn

vp
f
y


=
0

Nếu điểm hoà vốn càng thấp tức x
0
hoặc y
0
càng nhỏ thì khả năng thu lợi nhuận của
dự án càng cao, rủi ro thua lỗ càng thấp. Thời gian phân tích hoà vốn thường được
tính cho từng năm hoạt động, cho một năm đại diện nào đó hoặc cho cả thời gian
hoạt động của dự án.
Chỉ tiêu 5: Phân tích độ nhậy của dự án
Một dự án thường có tuổi thọ dài nhưng các tính toán trong dự án lại dựa trên các
giả định mà thực tế thường không đúng giả định, do đó dự án có thể không bền
vững. Khi một yếu tố đầu vào thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các yếu tố đầu ra
và đồng thời ảnh hưởng đến các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (NPV, IRR...).
Phân tích độ nhậy của dự án là kỹ thuật chỉ ra chính xác sự thay đổi của các chỉ tiêu
hiệu quả tài chính (NPV, IRR...) khi có sự thay đổi các yếu tố đầu vào, đầu ra dự
tính (chi phí nguyên vật liệu, giá bán sản phẩm...).
* Thẩm định lợi ích kinh tế - xã hội
Trên thực tế cho thấy không phải dự án nào có khả năng sinh lời cao đều tạo ra
những ảnh hưởng tốt đối với nền kinh tế và xã hội. Chính vì vậy, cần phải xem xét
đánh giá việc thực hiện dự án đầu tư có những tác động gì đối với việc thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế, có nghĩa là phải xem xét đến khía cạnh kinh tế - xã hội.
Điều này giữ vai trò quyết định để được các cấp có thẩm quyền chấp nhận cho phép

nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại. Các chỉ tiêu trong trường hợp
có dự án và chưa có dự án.
Trong việc sử dụng phương pháp so sánh thì các chỉ tiêu dùng để so sánh
phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án và doanh
nghiệp tránh khuynh hướng so sánh máy móc cứng nhắc.
* Phương pháp thẩm định theo trình tự
Theo phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình
tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, từ kết luận trước làm tiền đề cho kết luận
sau.
- Thẩm định tổng quát: Là việc xem xét tổng quát các nội dung cần thẩm
định của dự án, qua đó phát hiện các vấn đề hợp lý hay chưa hợp lý cần phải đi sâu
xem xét. Thẩm định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô
tầm quan trọng của dự án, vì xem xét tổng quát các nội dung của dự án, do đó ở giai
đoạn này khó phát hiện các vấn đề cần phải bãi bỏ hoặc các sai sót của dự án cần bổ
xung hoặc sửa đổi. Chỉ khi tiến hành thẩm định chi tiết, những vấn đề sai sót của dự
án mới được phát hiện.
24
- Thẩm định chi tiết: Được tiến hành sau thẩm định tổng quát. Việc thẩm
định này được tiến hành với từng nội dung của dự án từ việc thẩm định các điều
kiện pháp lý đến phân tích hiệu quả tài chính và kinh tế - xã hội của dự án. Mỗi nội
dung xem xét đều đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ý hay cần phải sửa đổi thêm
hoặc có thể chấp nhận được. Tuy nhiên mức độ tập trung cho những nội dung cơ
bản có thể khác nhau tuỳ theo đặc điểm và tình hình cụ thể của dự án.
Trong bước thẩm định chi tiết, kết luận rút ra nội dung trước có thể là điều
kiện để tiếp tục nghiên cứu. Nếu một số nội dung cơ bản của dự án bị bác bỏ thì có
thể bác bỏ dự án mà không cần đi vào thẩm định toàn bộ các chỉ tiêu tiếp theo.
* Phương pháp thẩm định dự án được dựa trên việc phân tích độ nhạy cảm
của dự án
Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có thể xảy
ra trong tương lai đối với dự án, như vượt chi phí đầu tư, sản lượng đạt thấp, giá các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status