Sơ lược cấu trúc địa chất và tiềm năng dầu khí bồn trũng Cửu Long - Pdf 32

Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................3
LỜI CẢM ƠN ..............................................................................................................5
PHẦN 1
SƠ LƯC CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BỒN TRŨNG
CỬU LONG.
Chương I: Sơ lược cấu trúc đòa chất khu vực bồn trũng Cửu Long ..........................7
I/ Vò trí đòa lý ............................................................................................7
II/ Đặc điểm đòa tầng, cấu trúc, kiến tạo khu vực bồn trũng Cửu Long ....8
Chương II: Tiềm năng dầu khí của bồn trũng Cửu Long ..........................................29
PHẦN 2
MINH GIẢI TƯỚNG, MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH VÀ KHẢ NĂNG CHỨA CỦA
CÁT KẾT MỎ HƯNG NAM – LÔ 01 – BỒN TRŨNG CỬU LONG, QUA MÔ TẢ
VÀ PHÂN TÍCH MẪU LÕI (11,30 M) CỦA GIẾNG KHOAN HN-3T.
Chương I: Các phương pháp và công cụ nghiên cứu ................................................35
Trang 1
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
Chương II: Giới thiệu vài nét về cấu trúc đòa chất mỏ Hưng Nam và giếng
khoan HN-3T
39
Chương III: Mô tả và phân tích mẫu lõi (11,30m) của giếng khoan HN – 3T
– mỏ Hưng Nam – Lô 01 – bồn trũng Cửu Long
.........................................................................................................
45
I/ Kết quả phân tích thạch học lát mỏng ..................................45
II/ Kết quả phân tích bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM)......53
III/ Kết quả phân tích nhiễu xạ tia X .........................................58
IV/ Kết quả phân tích kích thước hạt .........................................59
V/ Mô tả mẫu lõi – minh giải tướng và môi trường trầm tích....61
V.1 Tướng trầm tích ...............................................66

khoan thẩm đònh và phát hiện khí ở mỏ Emerald cũng trong lô này. Vì vậy, việc
nghiên cứu chi tiết đặc điểm thạch học, tướng và môi trường trầm tích cũng như khả
năng chứa của các đá cát kết là hết sức quan trọng. Báo cáo này nhằm làm sáng tỏ
nguồn gốc, bản chất tầng chứa. Đây cũng là tiền đề cho các nghiên cứu khác nhằm
mục đích chính xác hoá đòa chất tầng sản phẩm, hình thái, sự phân bố và tính chất
chứa của chúng. Đó cũng chính là cơ sở dữ liệu cho việc tính toán trữ lượng, tính toán
trong khai thác, hiệu quả thương mại đầu tư..v..v… Với tầm quan trọng như vậy, tác giả
đã chọn đề tài cho bài tiểu luận với nhan đề: “Sơ lược cấu trúc đòa chất và tiềm năng
dầu khí bồn trũng Cửu Long. Minh giải tướng, môi trường trầm tích và khả năng
chứa của cát kết mỏ Hưng Nam – lô 01 – bồn trũng Cửu Long, qua mô tả và phân
tích mẫu lõi (11,30 m) của giếng khoan HN-3T.”. Nội dung bài tiểu luận gồm hai
phần chính với sáu chương, kèm các bản vẽ và hình ảnh minh hoạ.
Trang 4
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
LỜI CẢM ƠN
Sau hơn ba tháng thu thập – xử lý tài liệu và viết báo cáo, tác giả đã nhận được
sự giúp đỡ rất q báu của các thầy cô trong khoa Dầu Khí, trường Đại Học Khoa Học
Tự Nhiên – Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh và sự giúp đỡ của các anh chò
trong phòng Thạch Học của Viện Dầu Khí Việt Nam (VPI) đặc biệt là Thạc Só
Nguyễn Văn Dũng, người đã tận tình hướng dẫn khoa học cho tác giả.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Dầu Khí, trường Đại Học
Khoa Học Tự Nhiên – Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Thạc Só Nguyễn Văn Dũng đã hướng dẫn tận
tình và tạo mọi thuận lợi cho tác giả tham khảo các tài liệu góp phần vào sự hoàn
thành của bài tiểu luận tốt nghiệp.
Tác giả xin cảm ơn các bạn đồng khoá đã trao đổi những kiến thức hữu ích
cũng như mọi sự giúp đỡ để tác giả hoàn thành bài tiểu luận này.
Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của tác giả, với kiến thức còn
hạn chế, lại chưa có kinh nghiệm thực tiễn, do đó trong nội dung báo cáo không thể
tránh khỏi những khiếm khuyết. Tác giả mong nhận được sự thông cảm cũng như sự

2
(Hình 1).
Trang 7
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
Hình 1: SƠ ĐỒ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ BỂ CỬU LONG VÀ LÔ 01
II. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG, CẤU TRÚC, KIẾN TẠO CỦA BỒN TRŨNG KHU
VỰC BỂ CỬU LONG
A. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG CỦA BỒN TRẦM TÍCH CỬU LONG
Giai đoạn từ năm 1980 đến nay, với số lượng giếng khoan ngày càng tăng trên bồn
trũng cho phép hiểu biết ngày càng nhiều hơn về đòa tầng và cấu trúc của bồn trũng
này. Đòa tầng của bồn trũng Cửu Long được thành lập dựa vào kết quả phân tích mẫu
vụn, mẫu lõi, tài liệu carota đòa chấn và các tài liệu phân tích cổ sinh từ các giếng
khoan trong phạm vi bồn trũng, bao gồm các thành tạo móng trước Kainozoi và các
trầm tích Kainozoi.
II.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG TRƯỚC KAINOZOI:
II.1.1. Các thành tạo trầm tích biến chất
Trang 8
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
Được phát hiện với thành phần chủ yếu là các đá phiến sét (phylit) màu xám đen
và màu nâu đen. Các đá phiến này tương ứng với phiến sét ở Bản Đôn có tuổi Jura
sớm – giữa (J
1-2
) hay còn gọi là hệ tầng Là Ngà.
II.1.2. Các thành tạo magma xâm nhập
Bao gồm diorite thạch anh, granodiorite, granite và granite á kiềm được phát hiện
trong một số giếng khoan ở tất cả các lô. Về mặt kiến trúc và thành phần thạch học,
các đá này khá giống với phức hệ xâm nhập Mezozoi muộn lộ ra trên đất liền (phức
hệ Đèo Cả nằm ở đới Đà Lạt và phần phía Nam và phía Tây khối nhô Kon Tum hoặc
núi Sam) và ở các đảo kế cận (hải đảo Hòn Trứng, Côn Sơn, Bảy Núi và bán đảo Hòn
Gốm).

Hệ tầng Cà Cối
Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Cà Cối được mô tả và đònh danh tại giếng khoan CL–1,
làng Cà Cối, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, đồng bằng Nam Bộ trong khoảng độ sâu
1220-2100m.
Hệ tầng Cà Cối được nhiều tác giả nghiên cứu và đặt tên khác nhau trên cơ sở mô
tả thành phần thạch học và so sánh với mặt cắt trầm tích ở các vùng khác. Tác giả
Nguyễn Giao (1982) khi nghiên cứu các thành tạo trầm tích giếng khoan CL – 1 đã
đặt tên là hệ tầng Cà Cối. Nhưng Lê Văn Cự (1982) đặt tên là hệ tầng Cù Lao Dung
khi nghiên cứu và so sánh nó với mặt cắt trầm tích ở Cù Lao Dung. Đỗ Bạt đặt tên là
Điệp Cà Cối khi nghiên cứu mặt cắt trầm tích ở giếng khoan CL – 1 trong các đề tài
sinh đòa tầng vào các năm 1985, 1993 và 2000.
Trầm tích của hệ tầng chủ yếu gồm các đá vụn thô, màu xám trắng, nâu đỏ và đỏ
tím: cuội kết, sạn kết, cát kết hạt trung – thô đến rất thô chứa cuội sạn và ít lớp sét
kết. Các trầm tích này nằm bất chỉnh hợp trên móng phun trào (andezite và tuff
andezite) có tuổi trước Kainozoi.
Cuội kết, sạn kết và cát kết thường có cấu tạo dạng khối hoặc phân lớp rất dày, độ
chọn lọc kém, gắn kết yếu. Thành phần chính của cuội và sạn là các đá phun trào
(andezite, tuff andezite, dacite, rhyolite), đá biến chất (quarzite, đá phiến mica), đá
Trang 12
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
vôi và ít mảnh granitoid. Đây là các trầm tích được thành tạo trong môi trường lục đòa
trong điều kiện năng lượng cao của thời kì đầu sụt lún, tách giãn hình thành các đòa
hào. Do vậy, diện phân bố của các thành tạo này chắc chắn chỉ giới hạn tại sườn của
một số hố sụt của bồn Cửu Long. Bề dày của hệ tầng tại giếng khoan CL – 1 là 880m.
Tại một số nơi như giếng khoan 09 – Sói – 1X, từ độ sâu 2941 – 3280m cũng phát
hiện một tập cuội kết, sạn kết và cát kết hạt thô dạng khối dày tới 339m phủ bất chỉnh
hợp trực tiếp lên đá móng granitoid tuổi Jura. Cuội kết, sạn kết có độ chọn lọc và mài
tròn kém, tuy nhiên chúng được gắn kết tốt hơn do nằm ở độ sâu lớn hơn và thành
phần gồm chủ yếu là các mảnh granitoid (có thành phần gần tương tự như các đá
móng nằm dưới nó).

với các lớp bột kết và cát kết đôi khi có các lớp sét vôi. Thành phần của đá sét gồm
kaolinite, illite và chlorite. Nhiều nơi tập sét này phủ trực tiếp lên móng (vòm trung
tâm Bạch Hổ, Rạng Đông) và đóng vai trò là một tầng chắn tốt mang tính đòa phương
Trang 14
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
cho các vỉa chứa dầu trong đá móng ở mỏ Bạch Hổ, Tây Nam Rồng, Rạng Đông, Sư
Tử Đen…
Cát kết, bột kết có thành phần đa khoáng thuộc loại Arkose, hạt từ nhỏ đến thô đôi
khi rất thô hoặc cát chứa cuội và sạn (thường gặp ở phần dưới). Hạt vụn có độ chọn
lọc và mài tròn kém – trung bình, hình dạng hạt từ bán góc cạnh đến bán tròn cạnh.
Thành phần giàu feldspar, thạch anh và mảnh đá (chủ yếu các mảnh granitoid, ít
mảnh đá phun trào và biến chất). Điều đó chứng tỏ nguồn cung cấp vật liệu để hình
thành nên các trầm tích hệ tầng Trà Cú chủ yếu được vận chuyển từ các sản phẩm
phong hoá, bóc tròn của móng granitoid.
Cát kết nhìn chung rất rắn chắc do được gắn kết tốt bởi một lượng lớn xi măng sét,
carbonate, thạch anh, zeolite, đôi khi là anbite và epidote, là kết quả của quá trình
biến đổi thứ sinh từ catagenes muộn (phần trên) cho tới giai đoạn biến chất sớm (phần
lớn trầm tích nằm sâu dưới 4200m). Kết quả của quá trình biến đổi thứ sinh cao làm
giảm phần lớn độ rỗng và độ thấm nguyên sinh, tuy nhiên quá trình biến đổi này lại
hình thành nên đặc tính chứa thứ sinh (lỗ rỗng dạng hoà tan, hang hốc và khe nứt).
Loại cát kết, bột kết này chứa dầu ở các mức độ khác nhau đã được phát hiện ở mỏ
Bạch Hổ, Rồng và một số cấu tạo khác.
Trầm tích hệ tầng Trà Cú được hình thành trong điều kiện tướng đá, môi trường trầm
tích khác nhau từ sườn tích, lũ tích, bồi tích, sông, kênh rạch và đầm lầy ven sông. Hệ
tầng Trà Cú có chiều dày được phát hiện theo giếng khoan CL – 1 thay đổi từ 100 –
500m ở các vòm nâng, còn ở các trũng đòa hào đạt trên 1000m. Hệ tầng Trà Cú phủ
bất chỉnh hợp trực tiếp trên các đá móng và hệ tầng này tương đương tập đòa chấn E.
Trang 15
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
Hệ Paleogene


Đá cát kết, bột kết thường có màu xám sáng đến xám xanh, đôi khi xám phớt nâu
hoặc tím phớt đỏ (tại các giếng khoan 09.1-R-6, 09.1-R-9, 15-G-1X) phần nhiều là
Arkose, Lithic Arkose, hạt nhỏ đến trung bình, bán góc cạnh đến bán tròn cạch được
gắn kết bởi xi măng carbonate, sét, thạch anh và đôi khi anhyrite. Cát kết phần trên
của mặt cắt đôi chỗ có mặt glauconite là bằng chứng tồn tại cho môi trường vũng vònh.
Tỉ lệ cát kết/sét kết tăng dần khi đi từ phía trung tâm của bể (cấu tạo Rạng Đông,
Bạch Hổ) về phía Tây Nam (lô 16, 17 cát kết chiếm 45 – 65%). Các tập cát kết, bột
kết thuộc hệ tầng Trà Tân ở nhiều nơi là tầng chứa sản phẩm có ý nghóa với độ rỗng
5-15% và độ thấm nhỏ hơn 50 mD.
Nhìn chung, trầm tích của hệ tầng Trà Tân đã bò tác động của các quá trình biến
đổi thứ sinh không giống nhau từ giai đoạn Katagenes sớm (cho các trầm tích nằm
nông hơn 3200m) đến Katagenes muộn (cho phần lớn trầm tích nằm sâu hơn 3500m).
Đá phun trào thường chỉ xuất hiện tại một số khu vực chủ yếu liên quan đến hoạt
động của đứt gãy phân bố tại các lô 16, 17, cấu tạo Rồng (lô 09) và các lô 01, 02 (01-
Ruby-1X, 01-Emerald-1X…) và một vài nơi khác.
Trang 17
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
Trầm tích hệ tầng Trà Tân được thành tạo trong các môi trường sông bồi tích, đồng
bằng châu thổ, đầm lầy, hồ, vũng vònh nên có thể phân chia thành 2 phụ hệ tầng đặc
trưng:
Phụ hệ tầng Trà Tân dưới : Phụ hệ tầng Trà Tân dưới tương đương với tập đòa
chấn D. Về thạch học, phụ hệ tầng này có tỉ số cát kết/sét kết khá thấp, phần lớn các
tập sét dày xen kẹp các tập cát mỏng, nhỏ đôi khi có tìm thấy glauconite, pyrite, chứa
nhiều vật liệu hữu cơ, được lắng đọng trong môi trường đầm hồ, vũng vònh. Diện phân
bố tương đối rộng khắp trong toàn bồn trũng Cửu Long và bề dày biến đổi không
nhiều từ 280-690m.
Phụ hệ tầng Trà Tân trên : Phụ hệ tầng Trà Tân trên tương đương với tập đòa
chấn C, được đặc trưng về mặt thạch học, có sự tăng lên về thành phần hạt thô, chứa
hàm lượng vật chất hữu cơ thấp hơn phụ hệ tầng Trà Tân dưới. Môi trường lắng đọng

) phụ hệ tầng Bạch Hổ
dưới về mặt thạch học chủ yếu là thành phần cát kết hạt thô được lắng đọng trong môi
trường đồng bằng bồi tích sông năng lượng cao, chứa hàm lượng vật chất hữu cơ
không đáng kể. Xen kẹp các tập trầm tích hạt thô tồn tại một số tập hạt mòn phản ánh
Trang 19
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
điều kiện thành tạo đầm lầy ven sông. Chính các tập hạt mòn thành tạo trong môi
trường này là tầng sinh đòa phương. Thực tế, mặt cắt trầm tích phụ hệ tầng Bạch Hổ
dưới của bồn Cửu Long đã phát hiện được các tích tụ dầu khí trong các thân cát tướng
lòng sông với độ rỗng 15 – 30% và độ thấm lớn hơn 100 mD.
Trầm tích có cấu tạo phân lớp ngang, phân lớp ngang gợn sóng, phân lớp xiên và
xiên mỏng rất phổ biến trong các trầm tích của hệ tầng. Cát kết thường rất đa khoáng,
phần lớn là Arkose Lithic với sự có mặt của feldspar, thạch anh và mảnh đá (granitoid,
phun trào, ít mảnh đá biến chất). Xi măng gắn kết gồm khoáng vật sét, carbonate, đôi
chỗ có anhyrite (Rạng Đông, lô 16 và một số giếng khoan trên cấu tạo Bạch Hổ). Đá
mới bò biến đổi thứ sinh ở giai đoạn Katagenes sớm, do vây không ảnh hưởng đáng kể
đến độ rỗng và độ thấm nguyên sinh của đá. Phụ hệ tầng Bạch Hổ dưới có chiều dày
thay đổi từ 230-600m.
Phụ hệ tầng Bạch Hổ trên : (tương đương tập đòa chấn B
1.2
) về thạch học cho thấy
thành phần trầm tích hạt mòn tăng từ dưới lên trên của mặt cắt. Môi trường trầm tích
đặc trưng cho quá trình biển tiến được bắt đầu từ môi trường đồng bằng bồi tích sông
và kết thúc bằng môi trường biển nông.
Tập sét kết Rotalia, nằm trên cùng của phụ hệ tầng Bạch Hổ trên, có màu lục, xám
lục, phân lớp mỏng xiên chéo và song song, dạng khối. Tuy nhiên màu sắc và bề dày
của tập sét này cũng thay đổi nhiều trong các khu vự ở rìa Tây Nam của bồn (cấu tạo
Rồng, 17-VT-1X, 17-DD-1X,…). Tại các khu vực này đá sét chuyển sang màu tím phớt
đỏ hoặc xám nâu, nâu đỏ và bề dày của tập sét cũng mỏng đi nhiều, khoảng trên dưới
10m so với bề dày cực đại vài chục mét (các giếng khoan ở vùng Đông Bắc của bồn ở

Trầm tích hệ tầng Côn Sơn phân bố tương đối rộng khắp, chúng được hình thành
trong điều kiện môi trường thay đổi từ sông, đồng bằng châu thổ (các lô 16, 17 và Tây
Nam cấu tạo Rồng) đến đầm lầy ven biển và biển nông (lô 01, 02, 09 và 15). Tính
chất biển tăng dần khi đi từ phía dưới lên trên mặt cắt. Trầm tích bò biến đổi thứ sinh
yếu đặc trưng bởi cát kết gắn kết yếu, còn sét kết thường mềm. Mặt cắt trầm tích có
thể phân thành 2 phần chính :

Phần dưới của hệ tầng : Gồm chủ yếu đá cát kết hạt nhỏ đến thô đôi khi cát chứa
cuội và sạn màu xám, xám trắng (Sói-1, 15-G-1X, R-4, R-6) phân lớp dày tới dạng
khối, độ chọn lọc và mài mòn từ trung bình đến kém. Đá gắn kết yếu tới bở rời do ít xi
măng và carbonate. Phần lớn đá cát kết của tầng có độ rỗng và độ thấm thuộc loại rất
tốt và chúng có khả năng là những tầng chứa dầu khí có chất lượng tốt.
Phần trên của hệ tầng : Chuyển dần sang cát kết mòn hạt, hạt nhỏ xen kẽ các lớp
sét kết, sét chứa vôi hoặc đôi khi các lớp đá vôi mỏng màu xám xanh đến nâu đỏ,
vàng nâu loang lổ (Sói-1, 15-G-1X, Rồng-6), các lớp sét chứa than, các thấu kính hoặc
các lớp than nâu mỏng màu đen.
Hệ tầng Côn Sơn có bề dày từ 660-1000m (tương đương tập đòa chấn B
2
). Môi
trường trầm tích của hệ tầng Côn Sơn chuyển từ đồng bằng bồi tích ven biển sang tam
giác châu đến biển nông.
Trang 22
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
Hệ Neogene
Thống Miocene
Phụ thống Miocene thượng
Hệ tầng Đồng Nai
Hệ tầng Đồng Nai được Ngô Trường San (1981, 1988) nghiên cứu và đặt tên là hệ
tầng Đồng Nai, Đỗ Bạt (1986) gọi là điệp Côn Sơn, Lê Văn Cự (1982) gọi là hệ tầng
Vàm Cỏ và Đỗ Bạt (1993 và 2000) gọi là điệp Đồng Nai. Trầm tích hệ tầng Đồng Nai

trầm tích của hệ tầng lúc đầu gọi là hệ tầng Cửu Long. Tuy nhiên, sau này khi nghiên
cứu và liên hệ với các trầm tích Pliocene được thành tạo khắp Biển Đông, Lê Văn Cự
đã gọi là hệ tầng Biển Đông. Hệ tầng này dày khoảng 250-650m tại giếng khoan
15-G-1X và gồm 2 phần :
Phần dưới : Đặc trưng là cát thạch anh thô có màu xám trắng.
Phần trên : Ưu thế là sét và bột kết. Bề dày của hệ tầng này khoảng 400m.
Diện phân bố của hệ tầng Biển Đông rộng khắp toàn bồn Cửu Long và được thành
tạo chủ yếu trong môi trường biển nông và trầm tích còn bở rời. Mặt cắt trầm tích gồm
chủ yếu là cát thạch anh màu xám, xám sáng, xám lục hoặc xám phớt nâu; cấp độ hạt
từ trung bình đến thô xen kẽ ít lớp sét và bột. Cát phân lớp dày hoặc dạng khối, hạt
vụn có độ chọn lọc và mài tròn trung bình đến tốt, thường chứa phong phú mảnh vụn
Trang 24
Tiểu luận tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Mạnh Tuân
hoá đá động vật biển, pyrite và đôi khi có các mảnh vụn than. Hệ tầng Biển Đông có
chiều dày thay đổi từ 400 – 700m (tương đương tập đòa chấn A).
B. CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KHU VỰC BỂ CỬU LONG
Các đặc điểm cấu trúc khu vực bồn trũng Cửu Long (được hình thành từ Eocene
đến Oligocene) có thể được chia thành 4 yếu tố cấu trúc chính:
+ Phụ bồn trũng Bắc Cửu Long: Có cấu trúc phức tạp hơn cả, bao gồm các lô 15 – 1,
15 – 2 và phần phía Tây lô 01 và 02. Các yếu tố cấu trúc chính theo phương Đông
Bắc – Tây Nam, còn phương Đông – Tây thì ít nổi bật hơn, đặc biệt là khu vực phía
Đông và Đông Bắc của phụ bồn.
+ Phụ bồn trũng Tây Nam Cửu Long (hay phụ bồn Tây Bạch Hổ): Với các yếu tố cấu
trúc chính có hướng Đông Tây và sâu dần về phía Đông.
+ Phụ bồn trũng Đông Nam Cửu Long (hay phụ bồn trũng Đông Bạch Hổ): Được đặc
trưng bởi một máng sâu có ranh giới phía Bắc là hệ thống đứt gãy Nam Rạng Đông.
Ranh giới phía Tây là hệ thống đứt gãy Đông Bạch Hổ, phía Đông tiếp giáp với một
sườn dốc của khối nâng Côn Sơn. Tại đây, hệ thống đứt gãy phương Đông – Tây và
phương Bắc – Nam chiếm ưu thế.
+ Đới cao trung tâm (hay đới cao Rồng – Bạch Hổ): Ngăn cách phụ bồn Tây Bạch Hổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status