Thăm dò hiệu quả của một số phương thức sử dụng phân bón khác nhau đối với giống lạc l26 trong vụ xuân, trên đất cát nội đồng ở trại thực nghiệm nông học trường đại học vinh - Pdf 32

Bộ GIẢO DỤC VÀ ĐÀOTẠO TR ƯỜNG ĐA ỉ HOC VĨNH

THẢM DÒ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SÔ PHƯƠNG THỨC
SỬ DỤNG PHẦN BÓN KHẢ
NHA UĐÓI VỚI
GIÓNG LẠCL26 TRONG VỤXUẦN, TRÊN ĐẤT CÁT
NỘI ĐÔNG Ở TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG HỌC TR ƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

c

L UẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠ

c SỸ CHUYÊN NGÀ NH TR ONG TR ọT MẴ
SỐ: 60.62.01

Người thực hiện:
Trần Anh Tuẩn
Người hướng dan khoa học: PGS. TS Nguyễn Quang Pho

VINH - 2012
LỜI CẢM ƠN


Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Quang Phổ,
người đã chỉ bảo tận tình, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
và hoàn chỉnh luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô giáo trong Khoa Nông - Lâm - Ngư,
Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
thực hiện luận văn này.
Đe hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của bạn bè,
đồng nghiệp và người thân. Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những tình cảm cao quý


ĐT&ỌVC

Đâm tia và quả vào chắc

TTH

Trước thu hoạch 15 ngày


TGST

Thời gian sinh trưởng

p 100 quả

Trọng lượng 100 quả

P100 hạt

Trọng lượng 100 hạt


4
DA NH MỤC CẢ С BẢNG BIÊU

DANH MỤC BIÊU ĐÔ

Bi
ểu


đ:

đ:

















đ:

đ:


3.
1.
3.
2.


Thời gian sinh trưởng và phát triển ở các công thức

40

Chiều cao thân chính ở các công thức

44

Số lá trên thân chính ở các công thức

47

Số cành cấp 1 ở các công thức

49

Số cành cấp 2 ở các công thức

49

Diện tích lá ở các công thức

52

Chỉ số diện tích lá ở các công thức

55

Thời gian diện tích lá ở các công thức

Chương 2. ĐÓI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu
2.1.
2.2.
2.3.

PHỤ LỤC
2.4.
I.

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài
2.5.

Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, có tổng diện

tích đất sản xuất nông nghiệp là 15.493 ha. Trong các loại cây trồng chính, cây lạc luôn
chiếm diện tích và sản lượng lớn bên cạnh các loại cây trồng khác như lúa, ngô, đậu đỗ.
Trên địa bàn huyện lạc là cây trồng chính có nhiều tiềm năng phát triển. Diện tích cũng
như năng suất của lạc trong những năm gần đây không ngừng được tăng lên, diện tích
trồng lạc năm 2003 đạt 4.386 ha, năm 2008 đạt 5.567 ha (chiếm 23,7% diện tích trồng
lạc toàn tỉnh), đến năm 2010 diện tích trồng lạc đạt 4.668 ha năng suất đạt 22,6 tạ/ha.
2.6.

Đất trồng lạc trên địa bàn huyện chủ yếu là đất cát nội đồng và đất cát

biển (chiếm 70% diện tích trồng lạc). Đây là loại đất giữ nước và hấp phụ các chất
khoáng kém nên các ion khoáng rất dễ bị rửa trôi hoặc bị thấm lậu vào lòng đất (đặc
biệt phân Kali và phân đạm là những muối dễ hòa tan). Từ đó cho thấy rằng các loại
phân dễ hòa tan mặc dù đã bón đủ lượng ở giai đoạn đầu nhưng đến giai đoạn sinh

phân bón khác nhau đối với giống lạc L26 trong vụ Xuân, trên đất cát nội đồng
ở Trại thực nghiệm Nông học
-

Trường Đại học Vinh. ”

2. Mục đích nghiên cứu.
-

Nghiên cứu phương thức, vai trò của việc phối hợp các phương thức bón ở các
công thức khác nhau đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc
L26 trong điều kiện cụ thế về trên đất cát nội đồng ở Trại thực nghiệm Nông
học - Trường Đại học Vinh.

-

Xác định được phương thức bón hợp lý nhất để đạt năng suất và lợi nhuận tối
ưu cho giống lạc L26.

3. Ỷ nghĩa thực tiễn.
-

Nghiên cún, theo dõi quá trình sinh trưởng, phát triến và cho năng suất của
giống lạc L26. Từ đó, xác định chính xác được phương thức, liều lượng phân
bón thích họp nhất cho lạc L26 tại địa phương.

-

Neu đề tài thành công sẽ trở thành một hướng kỹ thuật tốt nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng phân bón cho cây lạc và các loại cây trồng khác trên nền đất cát


với sức khỏe con người. Khi phân tích hạt lạc đã cho thấy trong hạt lạc hầu như có đầy
đủ các chất đại diện cho tất cả các nhóm hóa hũu cơ và những chất vô cơ, các chất này
chia thành các nhóm như sau:
*

Lipit: Tỷ lệ lipit trong lạc chiếm 40 - 57%, đứng đầu trong các cây có dầu về
mặt số lượng, về mặt chất lượng chỉ đứng sau dầu ô liu, là loại dầu thực vật có
chất lượng tốt ở nhiệt độ 20°c, dầu lạc là chất lỏng màu vàng nhạt, có độ nhớt
từ 71,67 - 86,15. Dầu lạc là hỗn hợp glyxerin trong đó bao gồm 80% axit béo
không no và 20% axit béo no. Các axit béo không no bao gồm: axit Oleic, axit
Linoleic... Các axit béo no gồm: axit Panmitic...[26].

*

Protein: Hàm lượng protein trong lạc khá cao thường đạt từ 20 - 37,5%. Lượng
protein hạt lạc chỉ thua kém protein của đậu tương. Protein của lạc chủ yếu là
do loại globulin (đạt 95% họp chất) tạo nên. Trong đó, arachin chiếm 2/3,
conarachin chiếm 1/3. Hai protein này của lạc có hàm lượng lưu huỳnh khác
nhau, phần lớn nguyên tố này đều ở dạng hũu cơ, nghĩa là ở dạng protit. Trong
protein của hạt lạc có tới 13 axit amin quan trọng và cần thiết cho hoạt động
sống của con người gồm: arginin, histidin, ghycocon, loxin, izoloxin, lizin,
metionin, triptophan, metonin, và izoxin hơi thiếu hụt so với tiêu chuẩn, có thế


9
bố sung vào khấu phần bằng các các loại ngũ cốc khác [32], [26].
*

Vitamin: Hạt lạc có chứa hầu hết các vitamin nhóm B (chỉ trù’ vitamin B12).

nhuận đến 31,86% (cao hơn các loại nông sản khác) và xuất khẩu lạc đóng góp 15,11%
cho nguồn vốn xuất khẩu. Xuất khẩu lạc những năm qua đóng góp khoảng 15% trong
nguồn hàng nông sản xuất khẩu. Tuy nhiên, chất lượng xấu làm giảm kim ngạch xuất
khẩu và thị trường bị thu hẹp (Nguyễn Minh Hiếu, 2003)[16].
2.15.

Trong các loại cây lấy dầu hàng năm được trồng ở nước ta, cây lạc có

diện tích và sản lượng lớn nhất, là đối tượng cây trồng có thế sinh trưởng phát triển trên
nhiều loại hình sinh thái khác nhau nên diện tích trồng lạc có thế vẫn tiếp tục tăng nếu
nhu cầu sản phấm lạc tăng, giá cả phù họp và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người


1
0
sản xuất. Chính vì vậy, cây lạc được Bộ Nông nghiệp và Phát triến nông thôn xác định
là một trong những cây trồng trọng điểm trong chương trình phát triển nông nghiệp và
nông thôn ở nước ta, được nhiều địa phương trong cả nước xem là cây trồng chủ lực
trong cơ cấu cây trồng và có nhiều chính sách để khuyến khích mở rộng diện tích, đầu
tư thâm canh tăng năng suất và sản lượng.
*

Giả trị trong công nghiệp
2.16.

Hạt lạc được dùng trong công nghiệp ép dầu. Dầu lạc làm nguyên liệu

cho công nghiệp thực phẩm như làm bánh kẹo, làm bơ, nước chấm, mì ăn liền, sữa hộp
đặc...và làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến xà phòng, chất tẩy rửa. Dầu lạc
tinh khiết dùng trong y học (thẩm mỹ học) và trong nghề tiểu thủ công nghiệp, trong


1
1
2.1.

Chỉ tiêu phân
tích
2.4.
Nước
2.7.

N

2.10.

P2O5

2.13.

K20

2.16.

2.2.

Thân
lá lạc
2.5.
4-7


trồng. Chính nhờ khả năng cố định đạm mà lượng protein trong hạt, trong các bộ phận
khác của cây lạc cao hơn nhiều cây trồng khác. Bên cạnh đó, lạc có khả năng sử dụng
được đạm do vi sinh vật cố định đạm từ không khí, nhờ vi sinh vật này sống cộng sinh
trong nốt sần ở rễ cây họ đậu. Trong hệ thống cố định N sinh học, giữa vi khuẩn
Rhozobium và cây bộ đậu là quan trọng nhất, ước tính đạt trên 80 triệu tấn mỗi năm
tương
2.25.

đương vớilượng
phân đạm vô cơ trên toàn thế giới năm 1990 [32].
2.26.

So sánh với phân chuồng tính theo chất khô thì tỷ lệ lân và kali trong

thân lá lạc xấp xỉ ngang phân chuồng, riêng đạm của thân lá lạc bằng 2 lần phân
chuồng. Cho nên, thân lá lạc còn loại phân xanh có giá trị cả về số lượng và chất
lượng. Mỗi ha lạc cho khối lượng trung bình từ 8 - 10 tấn có khi đến 1 5 - 2 0 tấn thân
lá tươi. Hiện nay, hầu hết các vùng trồng lạc đều sử dụng thân, lá lạc làm phân bón cho
lúa, màu. Mỗi ha thân, lá lạc đủ bón cho 2-3 ha lúa và năng suất tăng rõ rệt (Trần Văn
Lài, 1995) [19].
2.27.
trồng lạc luân canh với các loại cây trồng

Vì vậy, người ta
khác,xen

canh


1

2000 là: 1,45 tấn/ha trên diện tích 243,9 ngàn ha [16].
2.30.

Trung Quốc là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích trồng lạc.

Diện tích và năng suất lạc tăng nhanh trong những thập kỷ qua. Thập kỷ 70, diện tích
là 2,092 triệu ha/năm, năng suất là 12,0 tạ/ha; thập kỷ 80, diện tích tăng lên 2,647 triệu
ha/năm, năng suất 17,6 tạ/ha [36]. Sản lượng hàng năm của Trung Quốc là 14,160 triệu
tấn, chiếm 40% tống sản lượng lạc trên toàn thế giới [37].
2.31.

Tính đến năm 2008, những nước có diện tích, sản lượng và năng suất

hàng đầu trên thế giới được thể hiện qua bảng 1.2:
2.32.

Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới
năm 2008


1
3
2.17.

Nước

2.18. Diệ
2.19.
n tích (triệu
Sản

suất 1,0
2.24.
7
2.28. 3,1
0
2.32. 1,6
9
2.36. 0,9
6
2.40. 1,22
2.44.

3

3,8

2.33.
2.34.

Theo nhận định của các nhà khoa học, tiềm năng để nâng cao năng

suất lạc lạc ở các nước còn rất lớn cần phải khai thác. Trong khi năng suất lạc bình
quân của thế giới mới đạt xấp xỉ 1,3 tấn/ha. Ở Trung Quốc, đã làm thí nghiệm trên diện
hẹp đã thu được năng suất khoảng 12 tấn/ha, cao hơn 9 lần so với năng suất bình quân
của thế giới. Gần đây, tại Viện Quốc tế Nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô
hạn (IRISAT) Án Độ đã thông báo sự khác biệt giữa năng suất lạc tại các trạm thí
nghiệm và năng suất trên đồng ruộng từ 4 5

tấn/ha. Trong khi năng suất các cây ngũ cốc như lúa mì và lúa nước đã gần đạt
tối đa và có xu hướng giảm dần ở nhiều nước trên thế giới thì năng suất cây lạc


nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy trên diện rộng hàng chục ha, gieo trồng
giống mới với các biện pháp canh tác tiên tiến, nông dân có thể dễ dàng đạt năng suất
lạc 4 - 5 tấn/ha, gấp 3 lần so với năng suất lạc bình quân trong sản xuất đại trà. Tình
hình sản xuất lạc ở nước ta trong 5 năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.3:
2.38.

Bảng 1.3. Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam từ năm 2006 - 2010
2.39. tiêu
2.40. Năm
2.44.

2006

2.48.

2007

2.52.

2008

2.56.

2009

2.60.

2010



2.58.

8

2,0
9
2.62. 2,1

2.43.
Sản
lượng
2.47.
462,5
2.51.
510,0
2.55.
530,2
2.59.
510,9
2.63.
485,7

(Nguồn: Niên giám thống kê, 2011) [40]

Diện tích trồng lạc ở nước ta trong những năm qua không mở rộng

nhiều (năm 2006 là 246,7 nghìn ha đến năm 2008 cũng chỉ có 255,3 nghìn ha). Nhưng
do áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật nên sản lượng lạc đã tăng lên tù’ 462,5 nghìn tấn
năm 2006 lên 530,2 nghìn tấn năm 2008. Sản lượng tăng chủ yếu do năng suất tăng,

Bảng 1.4. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Nghệ An
2.71.
Năm
2.75.
2007
2.79.
2008
2.83.
2009
2.87.
2010

2.91.
2011

2.95.
2.96.
2.97.

2.72. Diệ
n tích (ha)
2.76. 24.
443
2.80. 23.
448
2.84. 23.
757
2.88. 21.
919
2.92. 20.


(Nguồn: Niên giám thống kê 2011) [40]

Qua số liệu trên bảng 1.4 cho thấy, trong 5 năm (2007 - 2011) diện tích

sản xuất lạc ở Nghệ An tương đối ổn định và năng suất, sản lượng có sự thay
2.98.

đối theo chiều hướng tăng lên, năng suất tăng từ 21,68 tạ/ha (năm 2007) lên

22,34 tạ/ha (năm 2009); Sản lượng tăng từ 52.986 tấn (năm 2007) lên 53.078 tấn (năm


1
6
2009). Đen năm 2011 diện tích lạc giảm xuống 20.541 ha, năng suất giảm còn 21,91
tạ/ha dẫn đến sản lượng lạc toàn tỉnh chỉ còn 42.962 tấn. Nguyên nhân là do năm 2011
sản xuất nông nghiệp Nghệ An gặp nhiều khó khăn, thời tiết rét đậm rét hại kéo dài làm
cho một số diện tích lạc gieo không mọc được, người dân phải chuyến qua trồng một
số loại cây trồng khác. Thời tiết khắc nghiệt cũng làm cây lạc sinh trưởng, phát triển
kém, năng suất đạt được không cao.
2.99.

Những năm trước ở Nghệ An chủ yếu sản xuất các giống lạc Sen Nghệ

an, LVT, MD7, L08 ... có thời gian sinh trưởng 95-5-115 ngày. Năng suất bình quân
15^-18 tạ/ha, những nơi thâm canh tốt năng suất đạt cao nhất 20+22 tạ/ha. Trong các
năm gần đây, tại các huyện như Nghi Lộc, Diễn Châu đã tiến hành xây dựng mô hình
khảo nghiệm một số giống lạc mới có năng suất cao, chất lượng tốt như L14, LI 8, L23,
L26, ... kết quả các mô hình rất thành công, được các địa phương đánh giá cao. Hiện

Độ đã thông báo sự khác biệt giữa năng suất lạc ở các trại thí nghiệm và năng suất trên
đồng ruộng của nông dân tù’ 4 - 5 tấn/ha. Trong khi năng suất của các giống ngũ cốc
như lúa mì, lúa nước đã đạt gần tới tối đa và có xu hướng giảm thì năng suất lạc vẫn
còn thấp so với tiềm năng.(Ngô Thế Dân, 2002) [8].
2.103.

Trong công việc chon tạo giống, ngoài việc nâng cao về mặt năng suất,

chương trình chọn giống của Ấn Độ với mục đích là chọn ra giống có tỷ lệ nhân và
hàm lượng dầu cao đã xác định được một số giống có hàm lượng dầu cao 52 - 56%, chỉ
tiêu về mặt chất lượng dầu tốt như tỷ lệ oleic/linoleic cao (Nguyễn Thị Đào, 1998)
[14].
2.104.

Trung Quốc là nước đứng sau Ấn Độ về diện tích trồng lạc nhưng lại

đứng đầu về sản lượng. Điều này chứng tỏ công tác nghiên cứu cải tiến kỹ thuật về
thâm canh và công tác lai tạo giống của họ rất có hiệu quả. Các giống mới có năng suất
cao được đưa ra sản xuất chiếm diện tích 90 - 95% diện tích trồng lạc cả nước (Ngô
Thế Dân, 1999) [9]. Tính đến năm 1991, Trung Quốc đã chọn tạo được hơn 200 giống
lạc năng suất cao và được trồng phố biến ở nhiều địa phương. Giống Fushuasheng và
baisha 106 là 2 giống chín sớm cho năng suất cao, được trồng trên diện tích 10,33 triệu
ha (Ngô Thế Dân, 1999) [9]. Các giống lạc có chất lượng hạt tốt, phục vụ cho xuất
khẩu như: Baisha 1016, Luhua 10 và 8013, hay các giống lạc có khả năng kháng bệnh
cao như: Luhua 3, Zhonghua 2, Zhonghua 4, được trồng rộng rãi ở những vùng có
nguy cơ nhiễm bệnh cao. Trong các năm 2003 và 2004, Trung Quốc đã công nhận 17
giống lạc mới, trong đó điển hình là các giống Yueyou 13, 99-1507, R 1549 có năng
suất đạt 46,0 - 70,0 tạ/ha [34].
2.105.



Từ những thông tin trên, có thể thấy rằng những kết quả nghiên cứu đã

góp phần to lớn vào thâm canh tăng năng suất lạc. Trên cơ sở đó, tăng hiệu quả kinh tế
cho các vùng trồng lạc trên thế giới.
1.3.2.
2.109.

Những tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lạc ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, diện tích cây trồng nói chung, cây lạc nói

riêng đã bị thu hẹp, với mục đích tăng sản lượng lạc cho đất nước, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng và xuất khẩu, các nhà nghiên cứu đã và đang chọn tạo nhiều giống lạc có năng
suất cao, phấm chất tốt nhằm góp phần đưa nền kinh tế nước nhà phát triển, tăng thu
nhập cho người dân.
2.110.

Từ năm 1995 đến năm 2005, Việt Nam đã chọn tạo được 14 giống lạc

mới, trong đó có 5 giống quốc gia được chọn tạo bằng lai hữu tính và gây đột biến, 9
giống được chon lọc từ các tập đoàn giống nhập nội. Các giống đã được trồng phổ biến
trên cả nước (Nguyễn Thị Chinh, 2005) [7].


1
9
2.111.

Các giống được chọn tạo tù’ việc gây đột biến gồm: giống V79 có


ngạch xuất khẩu, nâng cao thu nhập và đời sống của người nông dân.
2.115.

Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu thì đòi hỏi phải có


2
0
các vùng chuyên canh sản xuất lạc, người sản xuất phải được trang bị các biện pháp kỹ
thuật tiên tiến, đồng bộ...Bên cạnh đó, việc tạo ra các giống mới bằng ứng dụng các
tiến bộ khoa học công nghệ là một trong những yếu tố quyết định đến sản xuất lạc ở
nước ta.
1.4.

Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng
đối với lạc ỉ. 4.1. Vai trò của phân đạm đoi
với lạc

2.116.

Đạm là yếu tố hàng đầu đối với các cơ thể sống vì nó là thành phần cở

bản của protein, chất cơ bản biểu hiện sự sống. Đạm nằm trong nhiều hợp chất cơ bản
cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các chất men, các bazơ có nitơ,
thành phần cơ bản của axit nucleic, trong các ADN, ARN của nhân tế bào, nơi cư trú
các thông tin di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc tống họp prôtein. Do vậy,
đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ
và việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác (Võ Minh Kha, 1996)[18].
2.117.


cs, 1999) [4], thời gian sinh trưởng kéo dài, ngăn cản sự hình thành nốt sần ở rễ và khả
năng cố định đạm của vi khuấn nốt sần do sản phấm quang hợp chuyến hóa nhanh
thành protein, làm giảm việc cung cấp hyđratcacbon cho các vi sinh vật này (Nguyễn
Hữu Quân 1984) [23].
2.121.

Ở nước ta, quá trình nghiên cứu Nông Hóa Thổ Nhưỡng, đã kết luận:

trên đất thịt nhẹ chỉ nên bón khoảng 30kg N/ha là thích họp, nếu tăng lên đến 40kg/ha
thì sẽ làm giảm hiệu suất, hiệu suất của 1 kg N trên đất cát ven biển và bạc màu từ 6 10 kg lạc vỏ (Trần Văn Lài, 1993)[20]. Trên đất chuyên màu Quảng Trị, nếu bón 30kg
N cho hiệu quả cao nhất (1 lkg lạc khô/kg N). Trên đất cát biến tỉnh Thừa Thiên Huế,
nếu bón đạm đơn độc liều lượng 40kg N/ha hiệu quả đạt 4,88kg lạc quả/kgN (Nguyễn
Minh Hiếu, 2003)[16].
1.4.2.
2.122.

Vai trò của lân đổi với lạc.
Lân là thành phần của axit nucleic, photphatit, prôtein, lipit, coenzim,

NAD, NADN, ATP và nhiễm sắc thế. Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân
sinh, kích thích sự phát triển của rễ, sự ra hoa, sự phát triển của hạt và quả (Trần Văn
Lài, 1993)[20]. Ngoài việc xúc tiến phát triến, lân còn là thức ăn chính của vi khuẩn có
tác dụng đẩy mạnh sự hình thành và nâng cao hoạt tính của nốt sần, làm tăng khả năng
hút, giữ đạm khí trời, thúc đấy lạc tăng số cành hữu hiệu, hoa nở sớm và tập trung,
nâng cao tỷ lệ quả và quả chắc, giảm tỷ lệ nước trong quả. Quan trọng hơn là xúc tiến
việc hình thành chất béo và chất đạm, làm tăng tỷ lệ dầu trong hạt, quả chóng già, chín.
2.123.

Lân là yếu tố dinh dưỡng chủ đạo của cây lạc và cũng là một trong


Quá trình cố định đạm đòi hỏi nguồn năng lượng lớn cho sinh trưởng của vi
khuấn nốt sần và sự chuyến hóa N 2 thành NH3. Nguồn năng lượng đó chủ yếu
được cung cấp từ lân ở dạng ATP.

*

Lân có vai trò tích cực trong việc vận chuyến các sản phấm của quá trình
quang hợp từ lá về rễ và sự di chuyển của các hợp chất có đạm trong nốt sần về
các bộ phận khác của cây và làm tăng hàm lượng đạm trong thân, lá.
2.126.

Ngoài ra, bón lân có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ rễ cây

trồng, nhờ đó mà cây có khả năng thu hút nhiều hơn các nguyên tố dinh dưỡng từ đất


2
3
và từ phân bón.
2.127.

Vậy lân được xem như một yếu tố dinh dưỡng hạn chế sinh trưởng,

phát triển và cho năng suất của các cây họ đậu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
[33]. Lượng lân bón không thích hợp sẽ làm giảm cường độ quá trình đồng hóa
carbonhyđrate, trong khi đó việc tống hợp chất này thông qua quá trình quang hợp vẫn
tiếp tục xảy ra hiện tượng tích lũy carbonhyđrate làm cho lá có màu xanh sẫm, trầm
trọng hơn sẽ có màu huyết dụ và có ảnh hưởng bất lợi đối với quá trình quang họp và
cuối cùng làm sụt giảm năng suất cây trồng rõ rệt (Vũ Văn Vụ và cs, 1993) [27].
2.128.

thước hạt (Vũ Hữu Yêm, 1995)[30].
2.130.

Thiếu kali ở những lá già phần mép lá xuất hiện các đốm màu vàng

nhạt, phần còn lại vẫn có màu xanh đặc trung, còn trên các lá non thì hiện tượng
chuyển màu lại tương đối đều hơn, có khi còn có những chấm nhỏ màu nâu, nhiều quả
một hạt và năng suất thấp. Tuy nhiên, nếu lượng kali quá nhiều sẽ làm giảm sẽ làm
giảm năng suất ở những giống dạng đứng chín sớm. Kali có vai trò quan trọng trong sự
quang hợp của lá và sự phát triến của quả, tăng khả năng giữ nước của tế bào, làm cho
thành tế bào vững chắc, tăng thêm tính chịu hạn và chống đỗ của cây. Do tác động đến
quang hợp và hô hấp nên kali ảnh hưởng tích cực đến việc tổng hợp đạm và tổng hợp
prôtêin. Kali làm giảm tác hại của việc bón quá nhiều đạm. Thiếu kali cây quang hợp
giảm mà hô hấp tăng lên nên năng suất giảm, chất lượng quả kém. Kali xúc tiến sự
phân cành của lạc, tăng chiều cao cành, tăng nhiều hoa, làm hoa nở đều và vỏ ít thối.
Kali còn có tác dụng tăng sức đề kháng của cây, giúp lạc chống chịu khá với một số
loại sâu bệnh, kali còn tác động đến toàn bộ thời gian sinh trưởng của cây và cuối cùng
đến năng suất lạc (Trần Văn Lài, 1993) [20].
2.131.

Khác với lân, kali không tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành

nốt sần. Tuy nhiên, ảnh hưởng của kali đến chỉ tiêu này có thế thông qua việc tích lũy
và vận chuyển lân trong cây. Sự vận chuyển photphat và các nguyên tố khác trong các
xylem trong cây bị giảm sút khi cây không được cung cấp đầy đủ kali. Bón đầy đủ kali
góp phần đảm bảo cân bằng lân trong cây, tạo điều kiện đế hệ rễ phát triến mạnh và
tăng số lượng nốt sần xâm nhập [20]. Kali có vai trò vận chuyển carbonhyđrate vào rễ
cây họ đậu và tạo điều kiện để nốt sần có thể hình thành nhiều hơn (Nguyễn Vy, 1993)
[28].
2.132.

sau khi tia

2.135. chui xuống đất (Trần Thị Kim Ba, 2003) [2].
2.136.

Canxi tồn tại trong lạc dưới dạng pentat và cần cho sự phân chia tế

bào. Ca có ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng của lạc, lý do là lạc nhất thiết
hấp thu Ca mới phát triến thành quả. Ca được rễ hấp thu chuyến qua thân đến lá và
hoa, sự cần thiết phải hấp thu là sau khi hoa thụ phấn, tia hình thành và đâm vào đất.
2.137.

Như vậy, đối với lạc

Ca là thức ăn cần thiết. Ngoài ra, Ca còn giảm độ chua, tạo môi trường thuận lợi cho vi
khuấn nốt sần hoạt động cố định đạm nhiều hơn. Ca ngăn ngừa việc tích lũy các chất
độc hại và điều chỉnh sự bốc hơi nước, làm tăng sức chịu hạn của lạc. Bón canxi còn
huy động

được đạm

2.138.

cho lạc, quả thêm chắc và

tiết kiệm được đạm. Lạc

mẫn cảm với canxi và yêu

2.139. cầu cao với canxi, nhất là thời kỳ kết quả. Ca làm cho rễ phát triến, tia dài và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status