Phản ứng của giống lạc L14 với 2 yếu tố Đạm và Lân trên đất cát nội đồng huyện Phú Vang - Thừa Thiên Huế trong vụ Xuân năm 2007 - Pdf 68

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Phú vang là một huyện thuần nông với phần lớn diện tích đất sản xuất
nông nghiệp. Mặc dù vậy đất nông nghiệp ở đây thường có chất lượng thấp
mà phần lớn trong đó là đất cát nội đồng có hàm lượng dinh dưỡng rất thấp,
kết cấu rời rạc, dễ hạn vào mùa khô và úng vào mùa mưa. Nhiều loại cây
trồng được người dân sử dụng nhằm tăng thêm vụ hoặc thay thế những cây
trồng truyền thống (lúa, khoai lang...v.v) nhằm nâng cao mức thu nhập thấp
đáng kể của người nông dân trong vùng. Trong những năm gần đây huyện
cũng đã có nhiều hoạt động khuyến nông tích cực nhằm cải tạo hoặc giới
thiệu những giống mới có năng suất và chất lượng cao hơn những giống cây
trồng hiện hành. Trong số đó giống lạc L
14
đã được bà con nông dân đánh giá
cao và thị trường nội địa tiêu thụ mạnh, giống lạc mới L
14
đang được trồng
khá phổ biến tại địa phương này, việc xác định các yếu tố hạn chế và vai trò
bổ sung tích cực của các yếu tố dinh dưỡng cho cây lạc nhằm phát huy có
hiệu quả tiềm năng của giống lạc L
14
là một nhu cầu hết sức cấp thiết trong
việc mở rộng diện tích trồng lạc của huyện.
Với những tiềm năng rộng lớn về đất sản xuất nông nghiệp, việc sử
dụng giống lạc mới L
14
trên những chân đất có mức độ dinh dưỡng thấp đã
đưa đến việc cần phải xác định vai trò và ảnh hưởng của những yếu tố dinh
dưỡng chính như N và P là hết sức cần thiết. Trên cơ sở đó đề tài: “Phản ứng
của giống lạc L

quan trọng đặc biệt (Nguyễn Văn Bộ, 1999) [10]. Điều này đặc biệt có ý
nghĩa đối với các loại đất nghèo dinh dưỡng như đất cát nội đồng huyện Phú
Vang, Thừa Thiên Huế .
1.5. Giới hạn nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ tập trung vào vụ Xuân năm 2007 tại vùng đất cát nội
đồng huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế mà người dân đang trồng lạc.
- Phản ứng của các giống lạc khác nhau với hai loại phân bón trên có
thể không giống nhau. Tuy nhiên, L
14
là giống duy nhất được sử dụng trong
nghiên cứu này.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Vai trò của cây lạc
2.1.1. Giá trị dinh dưỡng của cây lạc
Cây lạc (Arachis hypogeae L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy
dầu có giá trị kinh tế cao. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong lạc rất cao và
rất có giá trị đối với sức khoẻ con người. Thành phần sinh hoá của lạc như
sau: [11]
- Nước : 8-10%
- Dầu thô (Lipit) : 40-60%
- Gluxit : 6-22%
- Protein : 26-34%
- Xenlulô : 2-4,5%
Như vậy, giá trị dinh dưỡng chủ yếu nhất của lạc là lipit và protein.
Trong công nghiệp ép dầu người ta thu được hai sản phẩm chính là dầu và
khô dầu.
Dầu lạc là dầu thực phẩm tốt được cơ thể hấp thụ dễ dàng, thành phần
chủ yếu của dầu lạc là các axit béo chưa no (80%) còn lại khoảng 20% là axit

30
;
C
19
H
38
và các vitamin B
1
, B
2
, PP và A. Protein lạc chứa đầy đủ 8 axit amin
không thay thế trong đó có 4 axit amin đạt hàm lượng quy định của FAO về
hàm lượng các axit amin không thay thế trong thành phần protein thực phẩm.
Đó là: lơxin, Izolơxin, valin, phenylalanin [11].
3
Do hạt lạc có giá trị kinh tế cao như vậy nên từ lâu người ta đã sử dụng
lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng. Sản phẩm lạc được sử dụng rất đa
dạng, phong phú như luộc, rang, bột dinh dưỡng, bánh kẹo.
Ngày nay nhờ nền công nghiệp phát triển người ta chế biến nhiều mặt hàng
thực phẩm có giá trị từ lạc như rút dầu, bơ lạc, chao, phomat lạc, sữa lạc…
Một giá trị khác của lạc mà không thể không nhắc tới là làm thức ăn gia súc.
Khô dầu lạc chứa 50,8% protein; 7% lipit; 24,3% gluxit; 4,4% xenlulo
là nguồn thức ăn giàu protein trong chăn nuôi. Do giá trị dinh dưỡng cao nên
trong khẩu phần thức ăn gia súc khô dầu lạc có thể chiếm tới 25-35%. Trong
thân lá lạc chứa tới 11,75% protein; 1,84% lipit; 46,95% gluxit [11]. Do đó nó
cũng là một nguồn thức ăn rất tốt trong chăn nuôi.
Về mặt dinh dưỡng, thành phần hạt lạc chủ yếu chứa dầu 44 - 56%,
protein 25 - 34%, ngoài ra còn có các vitamin và các chất khoáng khác.
Lạc là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, là nguồn cung cấp
chất béo và bổ sung protein cho con người. Hàm lượng các chất dinh dưỡng

nước như: Hồng Kông, Đài Loan đã chuyển sang mua lạc của Trung Quốc. Sản
xuất lạc đạt hiệu quả kinh tế rất cao, tỷ suất lợi nhuận tới 31,86% (cao hơn một
số nông sản khác) và xuất khẩu lạc góp 15,11% cho nguồn vốn xuất khẩu [6].
Hiện nay Việt Nam đứng vào hàng thứ 5 trong 10 nước xuất khẩu lạc lớn
nhất thế giới. Do đó việc đầu tư nghiên cứu để cải tạo giống, kích cỡ hạt, chất
lượng cần được quan tâm hơn.
Xuất khẩu lạc trong những năm qua đóng góp khoảng 15 % trong nguồn
hàng nông sản xuất khẩu. Tuy nhiên chất lượng xuất khẩu lạc của Việt Nam
vẫn chưa thật sự đáp ứng thoả mãn nhu cầu nhập khẩu của một số nước. Vì
vậy cần nâng cao giá trị chất lượng nông sản phẩm để đạt được kim ngạch cao
và mở rộng thị trường xuất khẩu.
5
Xuất khẩu lạc được quy định như sau:
Loại 1: 160 - 180 hạt/100g
Loại 2: 200 - 220 hạt/100g
Loại 3: 230 - 270 hạt/100g
Muốn tăng được thu nhập từ lạc chúng ta phải đa dạng sản phẩm, ngoài
lạc nhân còn phải xuất khẩu cả dầu lạc, khô dầu, nắm bắt thị trường nhạy bén
để đầu cơ tích trữ lạc quả khô.
Phát triển cây lấy dầu nói chung, trong đó cây lạc được Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn xác định là một trong những cây trọng điểm trong
chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn của nước ta. Trên cơ sở hệ
thống giải pháp kỹ thuật tổng hợp đồng bộ, tiếp thu kinh nghiệm và những
thành tựu mới của các nước trong thời gian tới về sản xuất lạc, nước ta sẽ có
điều kiện để đạt được đầy đủ các tiêu chí về xuất khẩu. Góp phần phát triển
một nền nông nghiệp bền vững, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao thu nhập
và đời sống của nhân dân.
Nếu Nhà nước có chính sách thỏa đáng để khai thác triệt để những tiềm
năng vốn có của cây lạc thì trong vòng 5 năm (2000 - 2005) năng suất lạc của
Việt Nam sẽ đạt bình quân 1,5 - 2 tấn/ha, diện tích gieo trồng mở rộng tới

2.2. Tình hình trồng lạc ở trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Tình hình trồng lạc trên thế giới
Lạc được du nhập vào Châu Âu khoảng 500 năm trước nhưng thực sự
phát triển rộng khắp thế giới vào khoảng 125 năm trở lại đây khi công nghiệp
ép dầu lạc ra đời. Hiện nay lạc là cây đứng thứ hai trong số các cây lấy dầu
(về diện tích và sản lượng ) sau đậu tương.
Tình hình sản xuất lạc trên thế giới tính đến năm 2005 được thể hiện
7
qua bảng 2.2:
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, và sản lượng lạc trên thế giới.
TT Tên nước
Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sảnlượng (triệu tấn)
2003 2004 2005 2003 2004 2005 2003 2004 2005
1 Ấn Độ 8,00 8,00 6,72 9,60 9,30 9,67 7,68 7,44 6,50
2 T-Quốc 5,08 5,12 4,87 26,5 27,41 30,0 13,46 14,03 14,63
3 Nigieria 2,80 2,80 2,88 9,60 9,60 10,1 2,69 2,69 2,93
4 Indonexia 0,68 0,70 0,72 20,10 20,62 20,4 1,37 1,44 1,47
5 Mỹ 0,53 0,56 0,65 35,40 33,90 32,4 1,80 1,90 2,11
6 Xu Đăng 1,90 1,90 1,90 6,70 6,70 6,31 1,27 1,27 1,02
7 Xenegan 0,57 0,64 0,75 6,51 7,20 8,00 0,37 0,46 0,60
8 Myanma 0,57 0,58 0,58 12,30 12,30 12,3 0,70 0,71 0,71
9 Camarun 0,20 0,20 0,20 9,70 9,70 9,75 0,19 0,19 0,19
10 Việt Nam 0,24 0,25 0,26 16,66 17,43 17,4 0,40 0,43 0,45
Thế Giới 25,02 24,92 25,21 14,55 14,40 14,4 36,40 35,88 36,48
Nguồn:FAOSTAT, 2006
Trên thế giới lạc chủ yếu được trồng tập trung ở Châu Á, Châu Phi và
Châu Mỹ. Trong đó Châu Á có diện tích trồng lạc lớn nhất, chiếm 31,3% và
18% sản lượng.
Tính hết năm 2005, diện tích lạc trên thế giới có khoảng 25,21 triệu ha.
Trong đó quốc gia có diện tích lớn nhất là Ấn Độ 6,72 triệu ha, tiếp theo là

vào công nghệ sản xuất giống.
Sản lượng lạc hàng năm thế giới đạt từ: 26,63 - 29,66 triệu tấn. Đứng
đầu là Trung Quốc: 9,65 - 12,00 triệu tấn, thứ đến là Ấn Độ: 7,85 - 8,00 triệu
tấn, Mỹ: 1,61 - 1,80 triệu tấn (USDA, 1999) [22].
Theo nhận định của các nhà khoa học, tiềm năng để nâng cao năng suất
9
và sản lượng lạc ở các nước còn rất lớn cần phải khai thác. Trong khi năng suất
lạc bình quân của thế giới mới đạt xấp xỉ 1,3 tấn trên hecta ở Trung Quốc, thử
nghiệm trên diện hẹp đã thu được năng suất khoảng 12 tấn trên hecta, cao hơn
9 lần so với năng suất bình quân của thế giới. Trên diện tích rộng hàng chục
hecta, năng suất lạc có thể đạt 9,6 tấn/ha. Gần đây, tại Viện Quốc tế Nghiên
cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (IRISAT) Ấn Độ đã thông báo sự
khác biệt giữa năng suất lạc trên các trạm trại nghiên cứu và năng suất trên
đồng ruộng nông dân là từ 4 - 5 tấn/ha. Trong khi năng suất của các cây ngũ
cốc như lúa mì và lúa nước đã gần đạt tới trần và có xu hướng giảm dần ở
nhiều nước trên thế giới thì năng suất cây lạc trong sản xuất còn khác rất xa so
với năng suất tiềm năng. Thực tế này đã gợi mở khả năng nâng cao năng suất
và hiệu quả sản xuất lạc trên cơ sở áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất để khai thác tiềm năng. Chiến lược này đã được áp dụng thành
công ở nhiều nước và đã trở thành bài học kinh nghiệm trong phát triển sản
xuất lạc của các nước trên thế giới (Ngô Thế Dân và các tác giả, 2000) [33].
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam cây lạc được trồng từ lâu đời, tuy nhiên không được quan
tâm và phát triển. Trong những năm trở lại đây, cây lạc đã được quan tâm và
phát triển hơn. Nhưng so với một số cây trồng khác thì diễn biến tăng về diện
tích, năng suất và sản lượng đều giảm.
Từ năm 1990 đến nay công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật trồng lạc ở nước đã được quan tâm hơn trước. Các đề tài nghiên cứu cấp
nhà nước và cấp ngành, các dự án trong nước và quốc tế về nghiên cứu và
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc đã được triển khai thu hút sự tham gia

1
, LO
5
, ngắn ngày, chịu hạn,
phục vụ cho vùng nước trời với năng suất khá (18 - 25tạ/ha) đã được đưa ra sản
xuất. Một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc cũng đã được áp dụng như phân
bón NPK cân đối, mật độ gieo thích hợp, kỹ thuật che phủ nilon đã làm tăng
năng suất 30 - 40%. Nhiều mô hình thâm canh lạc đạt năng suất cao trên 3 tấn/
ha đã được trình diễn trên đồng ruộng nông dân ở nhiều địa phương (Ngô Thế
11
Dân và các tác giả, 2000) [33]
Tiềm năng để nâng cao năng suất lạc ở nước ta còn rất lớn. Kết quả
nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy trên diện tích rộng hàng chục
hecta, gieo trồng giống mới với các biện pháp canh tác tiên tiến, nông dân có
thể dễ dàng đạt năng suất lạc 4- 5 tấn/ha, gấp 3 lần so với năng suất lạc bình
quân trong sản xuất đại trà. Điều đó chứng tỏ rằng các kỹ thuật tiên tiến được
áp dụng rộng rãi trong sản xuất sẽ góp phần rất đáng kể trong việc tăng năng
suất và sản lượng lạc ở nước ta. Vấn đề chính hiện nay là làm sao để các giống
mới và các kỹ thuật tiến bộ đến được với nông dân và được nông dân tiếp nhận.
Nhà nước ta đã đề ra chỉ tiêu đưa diện tích cây lạc lên 400.000 ha vào
năm 2005 với năng suất bình quân 1,5 - 2,0 tấn/ha. Để đạt được mục tiêu đề ra
trước hết chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật một cách rộng rãi trong sản xuất. Trên cơ sở áp dụng hệ thống các
giải pháp kỹ thuật tổng hợp đồng bộ, tiếp thu kinh nghiệm của các nước trên
thế giới, trong thời gian tới sản xuất lạc ở nước ta sẽ có điều kiện để đạt được
những thành tựu mới, góp phần phát triển một nền sản xuất nông nghiệp bền
vững, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân.
Sự biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở nước ta từ 1975
- 1998 có thể chia làm 4 đoạn chính:
+ Từ năm 1975 - 1979: giai đoạn này diện tích gieo trồng lạc có xu thế

tác giả, 2000) [33].
Ở Việt Nam, từ Những năm 1980 sản xuất lạc có chiều hướng phát triển
ngày càng tăng. Trong 10 năm từ 1981 - 1990, diện tích tăng bình quân
7%/năm, sản lượng tăng 9%/năm. Từ năm 1990 - 1995, sản xuất lạc tăng về
diện tích và sản lượng song năng suất lạc vẫn còn thấp, chỉ đạt 1tấn/ha.
Những năm gần đây (1996 - 1998) diện tích và sản lượng lạc tăng rõ rệt,
13
năng suất đạt gần 1,5 tấn/ha. Một trong những yếu tố quan trọng nhất góp
phần nâng cao năng suất lạc là do áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật mới (Ngô
Thế Dân và các tác giả, 200) [33].
Hiện nay ở nước ta lạc chủ yếu phân bố ở bốn vùng lớn: Miền núi trung
du Bắc Bộ, Đồng bằng Sông Hồng, Khu Bốn cũ và Miền Đông Nam Bộ. Cả
bốn vùng này chiếm 3/4 diện tích và sản lượng của cả nước, số còn lại nằm
rải rác ở một số vùng khác.
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Năm Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
2000 244,9 1,45 355,1
2001 244,6 1,48 362,0
2002 246,7 1,62 399,6
2003 243,8 1,67 407,1
2004 258,7 1,74 450,1
2005 260,0 1,74 452,4
( Nguồn: FAOSTAT, 2006)
Qua số liệu ở bảng 2 ta thấy diện tích trồng lạc những năm gần đây có
tăng nhưng không nhiều, đặc biệt giảm vào các năm 2002, 2003. Đến năm

2003 4,58 1,60 7,33
2004 4,67 1,75 8,20
2005 4,83 17,6 8,49
2006 4,72 18,6 8,80
(Nguồn: niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế, 2006)
Qua số liệu ở bảng 3 cho thấy từ năm 1995-1998 diện tích và sản lượng
lạc ngày càng tăng. Về diện tích tăng từ 3300 ha lên 4300 ha, về sản lượng
tăng từ 4500 tấn lên 5800 tấn. Riêng năm 1999-2000 thì cả diện tích và sản
lượng đều giảm. Tuy nhiên trong những năm gần đây từ năm 2001- 2006 diện
tích và sản lượng lạc có xu hướng tăng lên. Trong năm 2006 diện tích trồng
lạc tăng lên 6000ha, sản lượng đạt 9024 tấn.
Nhìn chung diện tích tăng dần qua các năm nhưng năng suất chưa cao,
có xu hướng giảm và không ổn định.
15
2.2.4. Tình hình sản xuất một số cây trồng và đặc điểm của đất cát
trồng lạc chính ở Thừa Thiên Huế.
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất một số cây trồng chính của Thừa Thiên Huế
Loại cây trồng Diện tích (1000 ha) Năng suất (tạ/ha)
Lúa 51,6 45,7
Ngô 1,3 30,0
Khoai lang 4,9 47,3
Sắn 5,6 100,5
Lạc 4,6 15,9
Nguồn: Niên giám thống kê 2003
Số liệu ở bảng cho ta thấy, lạc là loại cây trồng ngắn ngày có diện tích
gieo trồng khá lớn trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của tỉnh.
Theo số liệu điều tra nông hộ của chúng tôi, mặc dù có diện tích gieo
trồng không lớn bằng khoai lang và sắn nhưng xét về thu nhập thì lạc là loại
cây trồng cho thu nhập cao nhất và có giá trị ngày công cũng cao nhất
(30.000đ/ngày so với 15.000đ so với cây lúa). Có thể nói, sản xuất lạc có sức

thành phần cơ giới và cấu trúc. Sức chứa ẩm đồng ruộng của đất thấp, chỉ đạt
1-20% ở lớp mặt, các tầng sâu có trường hợp chỉ đạt 6-10%.
Sức chứa ẩm đồng ruộng thấp, nhưng vì độ ẩm cây héo thấp, nên lượng
nước hữu hiệu của đất thuộc loại khá (16-20%).
Đất thoát nước dễ, thấm nước nhanh, nhưng giữ nước kém. Đất có độ
thông khí cao, vi sinh vật háo khí hoạt động mạnh làm cho quá trình khoáng
hoá chất hữu cơ và mùn xảy ra mãnh liệt, vì vậy đất cát thường nghèo mùn.
Đất thường nóng nhanh, lạnh nhanh gây bất lợi cho cây trồng và vi sinh vật đất.
Đất cát khi khô rời rạc nên dễ cày bừa, ít tốn công, rễ cây phát triển dễ
nhưng cỏ mọc nhanh. Khi đất cát gặp mưa to hay do nước tưới sẽ bị dí chặt.
* Tính chất hoá học
Độ phì nhiêu của đất cát nhìn chung rất thấp. Hàm lượng chất hữu cơ
dao động từ 0,6 - 1,0%. Ở lớp đất mặt, đạm tổng số thay đổi trong khoảng
0,03 - 0,09%. Kali tổng số thấp song ở các lớp sâu 100 - 110cm có chiều
hướng tăng (0,77 - 1,3%).
Kết quả phân tích trên 1000 mẫu đất của Nguyễn Thị Dần và Trần Thúc
17
Sơn (1990) [35] cho thấy: hàm lượng lân và kali dễ tiêu trong đất cát biển rất
thấp, trung bình 3-5mg P
2
O
5
và 6-7mg K
2
O/100g đất.
Đất cát có độ chua trung bình hoặc kiềm yếu, phần lớn pH
KCl
từ 5,5-6,0
nhiều vùng đạt 6,0-7,5. Lượng Ca
++

96
; 92056. Kết quả thử nghiệm các giống
này đều cho năng suất cao từ 36,3 - 40.1 tạ/ha [31].
18
+ Giống cho vùng thâm canh: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn đã công nhận hai giống cho vùng thâm canh có nguồn gốc từ Trung
Quốc đó là: LO
2
và LVT, những giống này đều cho năng suất cao 30 tạ/ha.
Ngoài ra chúng ta còn tạo ra một số giống kháng được bệnh mốc vàng, giống
kháng bệnh héo xanh vi khuẩn như: LO
2
, MD
7
.
- Về tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh tăng năng suất lạc: Trong thời
gian qua đã có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh tăng năng suất lạc
nhanh chóng được áp dụng vào sản xuất. Các nghiên cứu đó tập trung vào các
vấn đề sau:
+ Xây dựng chế độ phân bón hợp lý
+ Kỹ thuật che phủ nilon
+ Chế độ nước tưới hợp lý
+ Kỹ thuật trồng xen, chuyển vụ
+ Kỹ thuật sử dụng các chất kích thích sinh trưởng
Với những tiến bộ kỹ thuật mới này đã nhanh chóng góp phần giúp cho
năng suất và sản lượng lạc nước ta ngày càng tăng.
2.4. Cân đối dinh dưỡng cho cây trồng
Bón phân cân đối được hiểu là cung cấp cho cây trồng đúng các chất
dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho
từng đối tượng cây trồng, đất, mùa vụ cụ thể đảm bảo năng suất cao, chất

2.5. Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đối với lạc
2.5.1.Vai trò của N và phân N đối với lạc
Đạm là yếu tố hàng đầu đối với các cơ thể sống vì nó là thành phần cơ bản
20
của protein chất cơ bản biểu hiện sự sống. Đạm nằm trong nhiều hợp chất cơ bản
cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các chất men, các bazơ có
nitơ, thành phần cơ bản của axit nuclêic, trong các AND, ARN của nhân tế bào,
nơ khu trú các thông tin di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp
protein. Do vậy đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá cacbon, kích thích
sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác [52].
Cây lạc chứa nhiều đạm trong lá, hạt. Thiếu đạm cây cằn cỗi, mảnh dẻ,
mềm yếu và có dáng cao do sự sinh trưởng bị trừng trệ khá sớm và do các lá
non phát triển không đầy đủ, không đẫy, nảy nở rất chậm, những lá già đã mọc
bình thường rồi cuống cũng dài ra hơn bình thường, màu lá ban đầu thì sáng
màu sau chuyển sang màu xanh nhạt và cuống lá sau cũng chuyển màu, lá sẽ
ngã sang vàng. Hiện tượng chuyển màu tập trung ở giữa lá, các lá non cũng bị
nhạt và chuyển màu và cũng mọc dài ra. Thiếu đạm nặng thì lá gốc vàng rụng,
sự hình thành quả bị hạn chế và cây có thể chết sau hai tháng trồng cây lạc non
cần đạm để sinh trưởng tốt, phân cành sớm. Khi ra hoa đầu tiên lạc cần đến
70% tổng lượng đạm. Tuy lạc hút được một phần đạm từ không khí nhờ vi
khuẩn nốt sần nhưng phải sau 3 tuần thì lạc mới phát triển đủ rễ, và khi cây nở
hoa thì nốt sần mới phát triển mạnh. Do đó thời kỳ cây con, lạc chưa cố định và
tự cung cấp được đạm nên cần bón hỗ trợ cho lạc để xúc tiến sự hình thành nốt
sần và phân hoá mầm hoa, tăng nhiều quả. Tuy nhiên, nếu bón đạm quá nhiều
thì ức chế hình thành nốt sần và hoạt động của vi khuẩn dẫn đến cây vóng lốp,
số cành hữu hiệu giảm. Khi thiếu nitơ, hàm lượng lân tổng số trong cây cũng
giảm xuống (L.Azueva và Golubêva, 1963) [23], Khi bón phân cho lạc dạng
Sunphat amon ((NH
4
)

vật nốt sần do sản phẩm quang hợp chuyển hoá nhanh thành protein, làm
giảm việc cung cấp hydratcacbon cho các vi sinh vật này (Nguyễn Hữu Quân,
1984) [100].
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của viện Nông hoá Thổ nhưỡng chỉ ra
rằng trên đất nhẹ chỉ nên bón khoản 30kgN/ha là thích hợp, nếu tăng lên đến
40kgN/ha thì sẽ làm giảm hiệu suất, hiệu suất của 1kg N trên đất cát ven biển
và bạc màu là từ 6 - 10kg lạc vỏ [69]. Trên đất chuyển màu tại Quảng Trị nếu
bón 30kgN cho hiệu quả cao nhất (11kg lạc khô/kgN). Trên đất cát biển tỉnh
22
Thừa Thiên Huế nếu bón đạm đơn độc liều lượng 40kgN/ha hiệu quả đạt
4,88kg lạc quả/kgN [10].
2.5.2. Vai trò của P và phân lân đối với lạc
Lân là yếu tố dinh dưỡng chủ đạo của cây lạc và cũng là một trong
những yếu tố hạn chế năng suất trên các loại đất trồng lạc có thành phần cơ
giới nhẹ. Lân là nguyên tố cần thiết để làm tăng lượng dầu, cần cho hoạt động
của vi khuẩn. Lân làm tăng khả năng huy động đạm cho cây. Trong cây lân
tồn tại ở dạng Photpho lipit và Nucleo protein, trong lá lân tồn tại dưới dạng
axit photphoric tham gia tổng hợp các chất có chứa nitơ. Cũng như đạm, tỷ lệ
lân cao ở trong hạt và các cơ quan non, cơ quan đang phát triển để dùng vào
việc tổng hợp chất hữu cơ mới, do vậy hiện tượng thiếu lân biểu hiện ở lá già
trước. Cây non rất mẫn cảm với việc thiếu lân, thiếu lân trong thời kỳ này cây
con sẽ cho hậu quả rất xấu, sau này dù bón nhiều lần cũng không bù đắp được
do vậy cần bón lót lân ngay từ giai đoạn đầu và bón gần hạt vì khả năng di
chuyển của lân trong đất rất thấp. Dinh dưỡng lân có liên quan mật thiết với
dinh dưỡng đạm, cây được bón cân đối đạm, lân sẽ xanh tốt, sinh trưởng
mạnh, nhiều hoa, lắm quả, chín sớm và phẩm chất nông sản cao. [52].
Lân là thành phần của axít nucleic, photphatít, protein, lipít, coenzim,
NAD, NADN, ATP và nhiễm sắc thể. Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào,
mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, sự ra hoa, sự phát triển của hạt và
quả (Vũ Hữu Yêm, 1995) [108]; (Trần Văn Lài, 1993) [70]. Ngoài việc xúc

. Nguồn năng lượng đó
chủ yếu cũng được cung cấp từ lân ở dạng ATP.
* Lân có vai trò tích cực trong việc vận chuyển các sản phẩm của quá
trình quang hợp từ lá về rễ và sự di chuyển của các hợp chất có đạm trong
nốt sần về các bộ phận khác của cây và làm tăng hàm lượng đạm trong thân
lá.
Ngoài ra, bón lân có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ rễ cây
trồng, nhờ đó mà cây có khả năng thu hút nhiều hơn các nguyên tố dinh
24
dưỡng từ đất và từ phân bón.
Thiếu lân có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nốt sần, khả năng
tích luỹ chất khô và năng suất lạc. Bón lân có tác dụng kích thích sự phát
triển của bộ rễ vì vậy ở cây họ đậu nói chung và cây lạc nói riêng được bón
đầy đủ lân thường hình thành một số lượng lớn nốt sần hữu hiệu ở rễ, nốt sần
thường lớn và có màu hồng (Nguyễn Văn Bình, 1996) [12].
Khi thiếu nguyên tố lân, cây con cằn cỗi, thời gian sinh trưởng chậm, lá
non vàng nhạt, thể hiện dấu hiệu khô héo nhanh ảnh hưởng xấu tới sự phát
triển của nốt sần, hoa rụng nhiều quả ít, kém chắc, năng suất và phẩm chất lạc
đều giảm (Nguyễn Quỳnh Anh, 1994) [2].
Theo kết quả nghiên cứu về lân đối với lạc cho thấy rằng đất càng
nghèo thì hiệu lực của lân càng cao. Các nghiên cứu của nhiều nước đều cho
thấy rõ hiệu lực của lân càng cao. Các nghiên cứu của nhiều nước đều cho
thấy rõ hiệu lực của phân lân là 4,5 - 11kg quả khô/1kg P
2
O
5
. Các nghiên cứu
ở Việt Nam với các liều lượng lân từ 60 - 90kg P
2
O

. Bón phối
hợp 40kgN + 90kg P
2
O
5
/ha hiệu quả đạt 5,6kg lạc quả khô/kg P
2
O
5
[52].
2.5.3. Vai trò của kali và phân kali đối với lạc
Đối với cây trồng, kali là một trong 3 nguyên tố khoáng thiết yếu nhất.
Vai trò quan trọng nhất của kali được thể hiện ở khả năng hoạt hoá các enzim
trong hợp chất ATP đóng vai trò cung cấp năng lượng cho rất nhiều quá trình
sinh hoá xảy ra trong cây (Trần Văn Lài, 1993) [69].
Kali có vai trò quan trọng trong sự quang hợp của lá và sự phát triển
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status