Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 5
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 7
Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tình hình chung về dân số, lao động ở các thôn khảo sát 24
Bảng 3: Đặc điểm của các nhóm hộ khảo sát 26
Bảng 4: Tỷ lệ hộ nuôi xen ghép theo thời gian chuyển đổi 29
Bảng 5: Tỷ lệ hộ nuôi theo các hình thức 31
Bảng 6: Kết quả nuôi xen ghép của các hộ khảo sát 32
Bảng 7: Sản lượng các loại sản phẩm 34
Bảng 8: Thực hành mua bán đối với hộ nuôi tôm xen ghép 40
Bảng 9: Thực hành mua bán đối với hộ nuôi cua xen ghép 41
Bảng 10: Thực hành mua bán đối với hộ nuôi cá xen ghép 42
Bảng 11 : Thu nhập bình quân của hộ 45
Bảng 12 : Sự thay đổi chi tiêu của hộ 47
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
3
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
KHKT: Khoa học kỹ thuật
UBND: Uỷ ban nhân dân
WTO: Word trade orgamization
KTTN : Khai thác tự nhiên
BQ: Bình quân
ĐVT: Đơn vị tính
4
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
thực tế nói trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài " Tìm hiểu mạng lưới tiêu
thụ sản phẩm nuôi trồng thủy sản cùng Sam Chuồn - Phú Vang - Thừa
Thiên Huế "
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu quá trình chuyển đổi nuôi trồng thủy sản từ nuôi đơn canh
sang nuôi xen ghép
- Tìm hiểu chủng loại và sự thay đổi cơ cấu sản phẩm nuôi trồng thủy
sản ở vùng Sam Chuồn do phát triển nuôi xen ghép
- Xác định mạng lưới tiêu thụ sản phẩm nuôi xen ghép
6
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.Quá trình hình thành nghề nuôi trồng thủy sản và các loại hình nuôi
trồng thủy sản trên đầm phá
+ Quá trình hình thành nghề nuôi trồng thủy sản trên vùng đầm phá [6]
Nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn bắt đầu phát triển từ những năm
1975 trở lại đâytại hệ đầm phá. Hề đấm phá Tam Giang-Cầu Hai thông với
biển qua hai cửa Thuận An và Từ Hiền, tương tác giữa các nguồn nước ngọt
từ các sông hương, sông Ôlâu, sông Đại Giang… với nước biển theo chế độ
triều tạo ra nên độ mặn có biên độ biển động khá ổn định, là điều kiện tự
nhiên khá thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ.
Từ năm 1977 đến năm 1978 rong câu bắt đầu được trồng thí nghiệm
trên diện tích 6 ha tại xã Phú Tân, huyện Phú Vang, mở ra nghề mới, nghề
nuôi trồng thủy sản tại đầm phá. Năm 1980 diện tích trồng rau câu tăng lên 50
ha. Năm 1986 nhờ có sự tại trợ của UNDP thông qua dự án VIE 86/010 diện
tích trồng rau câu tăng vọt đạt 300 ha tại hai điểm: vùng Sam Chồn huyện
Phú Vang và huyện Phú Lộc. Năm 1989 đạt 400 ha. Từ đầu ngững năm 1993
diện tích chững lại và có xu hướng không ổn định, thoái trào. Trong thập niên
gần đây do nghề nuôi tôm sú phát triển mạnh, mang lại diện tích cao hơn nên
nhiều diện tích trồng râu câu chuyển sang nuôi tôm, bắt đầu năm 1997 đã
không còn diện tích trồng rau câu chuyên canh. Tuy vậy, hàng năm vẫn thu
trung tâm Nuôi tôm Phú Xuân mới bắt đầu việc nuôi cua tương đối bài bản.
Trong những năm này, vùng đầm Sam Chuồn, Thừa Thiên Huế trở thành
điểm trung chuyển cua lớn từ Nam Bộ ra phía Bắc, bàn qua biên giới Trung
Quốc. Càng về sau phương tiện chuyên chở bằng máy bay đã thuận lợi việc
trung chuyển cua không còn nữa.
Hiện nay cua là đối tượng nuôi đầy tiềm năng, nhưng đa phần chỉ tận
dụng vùng ao hồ sau vụ nuôi tôm. Tuy nhiên, một hai năm gần đây với việc
dịch bệnh tôm thất thường thì nghề nuôi tôm trong hệ thồng vây chắn sáo là
cứu cánh cho nhiều hộ ngư dân vùng đầm phá.
Về nhuyễn thể, từ năm 1990 bắt đầu có một vài hộ ngư dân biết cắm
cọc để thu giống vẹm xanh, hàu để nuôi tự nhiên. Sau năm 2000 nghề nuôi
nhuyễn thể phát triển mạnh ở cùng đầm Lăng Cô và sau đó một phần vùng
đấm Cầu Hai.
8
+ Sơ lược các loại hình và kỹ thuật nuôi trồng thủy sản [6]
1) Nuôi tôm bằng ao đất có bốn phương thức chính: quảng canh cải
tiến, bán thâm canh thấp triều, bán thâm canh cao triều và nuôi công nghiệp.
- Phương thức nuôi thâm canh cải tiến: Đây là phương thức nuôi với
mật độ thấp, năng suất thuộc lại trung bình thấp từ 600-1200 kg/ha/vụ mật độ
từ 5-7 con/m2, phương thức nay nuôi khá an toàn do mức đầu tư giống, thức
ăn, sử dụng nguồn nước để thay ở mức độ thấp, ít gây biến đổi môi trường
làm mất canh bằng sinh thái.
- Phương thức nuôi bán thâm canh: mật độ thả giống vừa phải 10-30
con/m2, năng suất trung bình 2-3 tấn/ha. Phương thức này hiện được nuôi ở
các vùng thấp triều lẫn các vùng cao triều ven phá. Đầu tư trang bị vừa phải,
thỉnh thoảng sử dụng thuốc và hóa chất, cho ăn đầy đủ thức ăn.
- Nuôi tôm công nghiệp (nuôi cao triều, nuôi thâm canh): Là hình thức
nuôi có đầu tư cao về chi phí, ao hồ phải đào đắp chắc chắn diện tích từ
5.000-10.000m2, thả giống với mật độ cao từ 30-60 con/m2, có đầu tư trang
thiết bị như quạt nước, hệ thống gom chất thải bùn đáy, cho ăn đầy đủ và định
2
, năng suất sản lượng sẽ nâng cao lên, quá trình thải loại thức ăn
dư thừa, phân cá cũng sẽ tăng, do đó mức độ ô nhiễm sẽ càng lớn.
- Phương thức nuôi lồng: các loại đang được nuôi nhiều ở đầm phá là
cá Mú, cá Hồng, cá Dìa. Với cá Mú, các Hồng hệ số thức ăn thường là 3 đến
5 (để có 1.000 kg sản lượng thịt cá chúng ta phải tốn một lượng thức ăn tươi
từ 3.000-5.000). Tương tự như vậy, khi nuôi cá Dò hệ số thức ăn lên đến 8-
10.
- Phương thức nuôi hỗn hợp: đây là kiểu nuôi xen ghép nhiều loại đối
tượng với nhau, với mật độ nuôi rất thấp và thành phần nuôi ghép hợp lý để
chúng có thể sử dụng tối đa lượng thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao và tận
dụng các nguồn thải ra của các loại này để nuôi loại khác; như nuôi cá rô phi
đơn tính, cá dìa, cá đối, trồng rong câu. Hình thức nuôi hạn chế tối đa việc ấp
thức ăn nên hầu như không gây nên những biển đổi về nguồn nước môi
trường.
4) Nuôi cua: Nghề nuôi cua trên đầm phá hiện nay có 3 hình thức nuôi
phổ biến, đó là nuôi bằng lồng, nuôi đơn và nuôi xen ghép kết hợp với nhiều
đối tượng. Trong nuôi lồng hay nuôi đơn (chỉ nuôi cua) hệ số thức ăn là 3-4,
nguồn thức ăn là tôm cá tạp thu dược trong khai thác tự nhiên, hai dạng nuôi
này khi nuôi với mật độ cao, quy mô lớn vượt quá giới hạn cho phép cũng sẽ
làm cho môi trường bị ô nhiễm như nuôi tôm sú.
10
5) Trồng rong câu và các loại rong biển.
Sau năm 1975, nghề trồng rau câu của đầm phá của Tỉnh ta đã có
những bước phát triển mạnh. Hiện nay, các vùng ven biển, đầm phá đã dựa
vào trồng nhiều giống rong mới như rong cức, rong sụn… Việc trồng rong
câu, yêu cầu về kỷ thuật không đòi hỏi quá cao, cơ bản là phải đảm bảo được
yếu tố môi trường sống cho rong như độ mặn, pH… Ngoài yếu tố tự nhiên,
người trồng rong có thể phải cày xới đất, bón thêm phân chuồng và một lượng
phân vô cơ NPK (khi cần thiết).
đó là:
- Gía cả dễ biến động nhanh: Giá cả của sản phẩm thủy sản có thể thay
đổi đáng kể và đột ngột trong trong một thời gian ngắn. Mức độ biến động giá
do cung cầu điều phối kém hoặc do không thể bảo quản lâu mà phải bán ngay.
Do đó giá của sản phẩm thủy sản có xu hướng giảm nhiều vào cuối ngày
hoặc khi có một lượng thủy sản lớn đột ngột xâm nhập làm cung vượt quá cầu
thị trường
- Tính thời vụ: Không như các sản phẩm công nghiệp, nguồn cung sản
phẩm thủy sản thường tập trung vào vụ thu hoạch và một hai tháng tiếp theo.
Giá sản phẩm thủy sản trong mùa vụ thụ hoạch thường rất thấp do thừa cung
nhưng sau đó lại tăng lên cho đến vụ thu hoạch sau.
- Giao động mạnh về giá giữa các năm : Giá thủy sản nuôi trồng có thể
dao động mạnh giữa các năm. Điều kiện tự nhiên, dịch bệnh là nguyên nhân
chủ yếu gây ra dao động giá do tác động của nó tới cung. Phản ứng của nông
dân đối với những hiện tượng trên càng làm giá cả biến động nhanh hơn.
- Tính rủi ro cao: Tính dễ biến động của giá là nguyên nhân chính của
rủi ro. Một yếu tố rủi ro khác là hao hụt sản phẩm do thối hỏng. Sản phẩm
thủy sản có thể bị ươn do quá trình bảo quản không tốt, do vận chuyển quá
lâu Những yếu tố này đều dẫn ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân.
- Chi phí giao dịch và chi phí tiếp thị cao: Chênh lệch giá bán từ người
sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng thường rất cao.
- Thiếu thông tin: Do hạn chế về điều kiện tự nhiên nên hầu như các hộ
nông dân có sự hạn chế kiến thức và hiểu biết về phương thức hoạt động của
thị trường, thông tin về cầu và giá cả
12
- Cung kém co giãn theo giá : Nói chung lượng cung thủy sản nuôi
trồng không đáp ứng nhanh với giá cả, đặc biệt trong ngắn hạn. Nói cách
khác, nông dân cần nhiều thời gian đề điều chỉnh sản xuất sao cho đáp ứng
với sự thay đổi giá.
- Độ co giãn của cầu theo giá lớn
nhập khẩu đã trực tiếp, gián tiếp tác động đến sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.[1]
2.3 Tình hình tiêu thụ thủy sản ở Việt Nam
Ngành thủy sản trong những năm gần đây đã sự tăng trưởng vượt bậc
về diện tích, sản lượng là giá trị sản lượng. Năm 2009 giá trị kim ngạch xuất
khẩu của cả nước đạt 4,2 tỷ USD. Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ từ phần trăm tăng
trưởng thì không hợp với xu thế kinh doanh hiện nay. Trong điều kiện kinh tế
Việt Nam gia nhâp WTO, các rào cản về thuế quan đã được bãi bỏ nhưng các
rào cản phi thuế quan như an toàn vệ sinh thực phẩm, vấn đề truy xuất nguồn
xuất sứ của sản phẩm, vấn đề chống bán phá giá được các nước nhập khẩu sử
dụng như một công cụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các nhà sản xuất thủy
sản tại nước nhập khẩu đã đặt nhiều thách thức cho các nhà sản xuất thủy sản
ở Việt Nam. Bởi vậy làm thế nào để sản xuất và tiêu thụ thủy sản ổn định,
bền vững , nâng cao giá trị gia tăng mới là mục tiêu thực sự mà ngành thủy
sản phải nghĩ đến.
Trong phạm vi cả nước , sản xuất và tiêu thụ thủy sản nước ta còn biểu
hiện nhiều mặt hạn chế:
- Nuôi trồng thủy sản còn manh mún, tự phát, không xuất phát từ nhu
cầu thị trường. Do vậy đã làm cho giá cả dễ biến động, biên độ lợi nhuận của
tất cả các tác nhân tham gia vào chuỗi tiêu thụ dần bị thu hẹp.
- Mặc dù khối lượng thủy sản tiêu thụ trong nước có xu hướng tăng
nhưng tiêu thụ trong nước lại ít được các doanh nghiệp quan tâm. Bởi vì lợi
nhuận sản xuất trong nước thường thấp hơn so với xuất khẩu
- Mối quan hệ hợp tác giữa người NTTS và cá đơn vị tiêu thụ thủy sản
không chặt chẽ làm cho người sản xuất không đáp ứng nhu cầu thị trường cả
về số lượng và chất lượng, hiện tượng tranh mua, tranh bán thường xuyên
diễn ra làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của cả hai bên.
- Ở khu vực miền Trung, hoạt động tiêu thụ thủy sản chủ yếu phụ thuộc
vào các tư thương nên việc bị ép giá là điều rất dễ thấy. Điều này diễn ra
thường xuyên sẽ làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Do đó việc cần
đó diện tích của 5 huyện ven phá là 3.835,64 ha chiếm 67,2 %. Trước năm
2006 do mới chuyển đổi từ nuôi độc canh tôm sang nuôi xen ghép nên người
dân không dám đầu tư nhiều do đó diện tích nuôi xen ghép là không đáng kể.
Nhưng sau năm 2006 thì mô hình nuôi xen ghép được ứng dụng và nhân rộng
trên toàn Tỉnh, diện tích nuôi xen ghép đã tăng một cách đáng kể. Trong 5
huyện ven phá thì Phú Vang là huyện có diện tích nuôi trồng và diện tích nuôi
xen ghép lớn nhất. Huyện Quảng Điền mặc dù có diện tích nuôi trồng thấp
hơn so với các huyện Phú Lộc và Phú Vang nhưng diện tích nuôi xen ghép lai
lớn, chiếm 99,3 % tổng diên tích nuôi trồng toàn huyện.
Với diện tích không ngừng tăng lên thì sản lượng của nuôi trồng thủy
sản toàn Tỉnh cũng ngày càng cao. Năm 2009, tổng sản lượng nuôi trồng thủy
sản của Tỉnh đạt 10.916,05 tấn, trong đó sản lượng thủy sản nước lợ là
6.373,9 tấn chiếm 58,4% . Sản lượng tôm các loại đạt : 4.927,8 tấn chiếm
45,2 % ( trong đó tôm chân trắng: 2.580,4 tấn, tôm sú: 2.347,4 tấn.). Sản
lượng cá nước lợ là 704 tấn chiếm 6,5 % tổng sản lượng . Sản lượng cua, ghẹ
là 208,6 tấn. Ngoài ra còn có sản lượng nhuyễn thể là 200 tấn.
16
Biểu đồ 2: Sản lượng nuôi trồng thủy sản các huyện đầm phá năm 2009
Nguồn: Báo cáo tổng kết NTTS tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2009
Biều đồ 2 cho thấy tôm vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các loại sản
phẩm , điều này cho thấy nghề nuôi tôm đến nay vẫn còn phát triển tương đối
mạnh. Trong 5 huyện kể trên thì Phong Điền là huyện có sản lượng tôm lớn
nhất. Tuy nhiên tỷ lệ các loài khác như cua, ghẹ, cá cũng dần tăng lên ở các
huyện. Như ở Phú Vang, sản lượng cá là 764 tấn chiếm 26,4 % tổng sản
lượng, sản lượng cua, ghẹ là 18,3 %. Có thể nói với việc chuyển đổi dần mô
hình nuôi đơn tôm sang các mô hình nuôi hỗn hợp khác nhau đã đem lại sự
thay đổi lớn về cơ cấu và chủng loại sản phẩm, làm cho thị trường đầu ra của
sản phẩm nuôi trồng thủy sản trở nên phong phú hơn.
17
Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
mỗi tác nhân
- Các hoạt động mua bán, trao đổi trong mạng lưới tiêu thụ sản phẩm
- Sơ đồ tiêu thụ sản phẩm
- Số lượng kênh, khối lượng sản phẩm qua mỗi kênh và các tác nhân
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu
- Điểm nghiên cứu là 4 thôn Định cư ở các xã Phú An, Phú Mỹ, Phú
Xuân và thị trấn Thuận An.
- Mang tính đại diện cho cộng đồng có đời sống gắn bó chặt chẽ với
vùng Sam Chuồn đang tiến hành quá trình chuyển đổi và nuôi xen ghép.
3.4.2 Chọn mẫu
Tiêu chí chọn mẫu: Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị sản phẩm nuôi
trồng thủy sản vùng Sam Chuồn
- Dung lượng mẫu: 51 hộ nuôi trồng thủy sản mô hình xen ghép
4 tác nhân thu gom
3 tác nhân bán buôn
4 tác nhân bán lẻ
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp được xác định trước
trong danh sách thôn xã.
3.4.3 Thu thập thông tin dữ liệu
- Thu thập thông tin thứ cấp
+ Thông tin thu được từ cấp cộng đồng, dựa vào các tài liệu, báo cáo
của các cơ quan chuyên ngành và các cấp: UBND Tỉnh, Phòng NN&PTNT,
Chi cục NTTS, UBND xã. Báo cáo liên quan đến thực trạng nuôi trồng thủy
sản tại các địa phương thuộc vùng Sam Chuồn.
+ Một số nghiên cứu liên quan đến tiêu thụ sản phẩm và chuỗi giá trị
+ Sử dụng tài liệu, sách báo, internet
- Thu thập thông tin sơ cấp
+ Phỏng vấn sâu : Sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc kết hợp nói chuyện
với một số người am hiểu cộng đồng, cán bộ phụ trách về NTTS và
dân nuôi trồng thủy sản. Thảo luận nhóm với mục đích xác định sơ đồ thị
trường, số lượng kênh, tác nhân, khối lượng hàng hóa bán qua mỗi kênh, các
khó khăn thuận lợi cho các tác nhân
20
3.4.3 Phân tích dữ liệu
- Phân tích định tính được sử dụng để phân tích các thông tin thu được
từ thảo luận nhóm liên quan đến mạng lưới tiêu thụ sản phẩm nuôi trồng thủy
sản.
- Phân tích định lượng: các số liệu sau khi thu thập được mã hóa và xử
lý bằng phần mềm Excel và phương pháp thống kê mô tả.
21
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Giới thiệu khu vực nghiên cứu
Thuỷ vực Sam Chuồn hiện nay được xem thuộc 4 đơn vị hành chính
của huyện Phú Vang là : thị trấn Thuận An, xã Phú An, xã Phú Mỹ và xã Phú
Xuân. Thật ra một phần cồn Dài thuộc địa giới hành chính xã Phú Thuân,
khoảng hơn 80 hecta. Tuy nhiên thực tế sản xuất cho thấy cư dân thuộc thị
trấn Thuận An đang hành nghề ở đây và khu vực này cũng quá cách biệt nên
hầu như Phú Thuận không có một động thái quản lý nào ở đây.[14]
Diện tích đầm ước khoảng 2365 hecta chiếm khoảng 34,6% diện tích
đầm phá của huyện. Hai xã Phú An và Phú Mỹ có tổng diện tích thủy vực
nằm trọn trong đầm Sam Chuồn, còn xã Phú Xuân và thị trấn Thuận An có
các diện tích thủy vực khác ngoài phần Sam Chuồn.
Hình 1: Địa giới hành chính khu vực Sam Chuồn
Nguồn : Google Earth
22
4.2 Thông tin chung về cộng đồng ngư nghiệp vùng nghiên cứu
Các thôn nghề ngư ở khu vực này chính là các cộng đồng có các hoạt
động sống gắn bó chặt chẽ với mặt nước đầm phá, sử dụng tài nguyên đầm
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số hộ
toàn thôn
Hộ
287 100 141 100 180 100 121 100
Số hộ
NTTS
Hộ 167 58,2 120 85,1 120 66,7 109 90,1
Số hộ
KTTN
Hộ 116 40,4 20 14,2 30 16,7 8 6,6
Số hộ làm
nghề khác
Hộ 4 1,4 1 0.7 30 16.7 4 3.3
Số hộ
nghèo
Hộ 43 15 22 15,6 40 22,2 35 28,9
Số hộ
Bên cạnh ngư nghiệp thì trong cơ cấu ngành nghề của bốn thôn ngư
nghiên cứu còn có nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ. Chỉ có duy nhất một
hộ ở thôn Định Cư (Phú Mỹ) làm nông nghiệp, còn các hộ khác chủ yếu là
kinh doanh dịch vụ. Dịch vụ là ngành nghề chính của 30 hộ ở thôn Thủy Diện
(Phú Xuân) chiếm tỷ lệ cao nhất 16,7% Tuy nhiên ở đây thì nghề dịch vụ thực
chất cũng dựa vào hoạt động sản xuất thuỷ sản để tồn tại và phát triển. Ngoài
ra mỗi hộ thường tiến hành làm thêm các nghề như: phụ thợ nề, làm thuê, đan
lát để tăng thêm thu nhập.Nhưng thực chất đời sống nhân dân vẫn rất khó
khăn, tỷ lệ hộ nghèo lớn, ở Định Cư (Phú An) là 43 hộ chiếm 15%, ở Định Cư
(Phú Mỹ) là 22 hộ chiếm 15,6% tổng số hộ trong xã, ở Thuỷ Diện (Phú Xuân)
là 40 hộ chiếm 22,2% và ở Tân Dương (Thuận An) là 35 hộ chiếm 28,9%.
Thuộc các xã ven đầm phá với diện tích mặt nước rộng là cơ sở cho
việc phát triển khai thác thuỷ sản và nuôi trồng thuỷ sản. Tận dụng những
điều kiện tự nhiên sẵn có, đặc trưng cơ bản thích hợp cho việc nuôi trồng thủy
sản nên diện tích nuôi trồng của các hộ dần được mở rộng.
Bình quân mỗi hộ ở các thôn đều có diện tích trên 1 hecta.Thôn Thủy
diện ( Phú Xuân) là thôn có diện tích nuôi trồng lớn nhất 270 hecta, tính trung
bình thì mỗi hộ có 2,25 hecta để nuôi trồng. Ở đây hộ có diện tích nuôi trồng
lớn nhất lên đến 7 hecta.
25