1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành nuôi trồng thủy sản trong những năm gần đây đã có những bước phát
triển mạnh mẽ và đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia, hàng năm đóng
góp một phần rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Theo số liệu đã công bố của
Cục Thống kê, GDP của ngành Thủy sản giai đoạn 1995-2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên
24.125 tỷ đồng. Đến năm 2003, đã đưa vào sử dụng 612.778 ha diện tích nước lợ, mặn
và 254.835 ha nước ngọt để nuôi trồng thủy sản. Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực là
tôm với diện tích 580.465 ha. Nuôi trồng thủy sản đang góp phần nâng cao thu nhập cho
người dân, giúp cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo... đồng thời cũng đã giải quyết
việc làm cho không ít người lao động.[6], [26]
Thừa Thiên Huế là một tỉnh duyên hải miền Trung có nghề nuôi trồng thủy sản
phát triển từ rất lâu đời. Trong đó, Phú Vang là huyện có nhiều lợi thế về nuôi trồng
thủy sản, huyện có 19 xã và 1 thị trấn, trong đó có 13 xã, 1 thị trấn ven biển, đầm phá
với diện tích 20.635 ha, chiếm 73,6% diện tích đất tự nhiên. Huyện có trên 35 km chiều
dài bờ biển, có cửa biển Thuận An và nhiều đầm phá như Đầm Sam, Đầm Chuồn, Đầm
Thanh Lam, Đầm Hà Trung, Đầm Thủy Tú nằm trong hệ thống phá Tam Giang - Cầu
Hai với diện tích trên 6.800 ha mặt nước. Đây là tiềm năng lớn để phát triển đánh bắt và
nuôi trồng, là lợi thế để phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn. Tổng diện tích nuôi trồng
năm 2009 của huyện là 2.125,7 ha; tổng sản lượng 2.843,4 tấn; tổng giá trị đạt hơn 155
tỷ đồng.(IMOLA, 2006)
Chính sự phát triển mạnh mẽ này đã cho ra đời hàng loạt các trang trại nuôi
chuyên canh, thâm canh... và sự chuyển đổi phương thức nuôi từ quảng canh, quảng
canh cải tiến sang bán thâm canh, thâm canh làm cho nhu cầu về tôm giống rất cao và
cấp thiết, đặc biệt là tôm sú giống.
Mặc dù đã sinh sản nhân tạo thành công loài này từ lâu với số lượng hàng năm
rất lớn.[10], [11], [12] Song tôm sú giống thường bị rất nhiều bệnh do vi khuẩn, nấm
hay kí sinh trùng gây nên.[7], [14] Để phòng và trị bệnh cho tôm giống người ta sử dụng
kháng sinh hay hóa chất. Tuy nhiên do việc sử dụng không đúng cách và quá liều các
loại thuốc kháng sinh đã gây nên hiện tượng kháng thuốc làm cho việc chữa trị không
có hiệu quả hoặc rất thấp. Vì vậy xu hướng mới hiện nay của thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng là sử dụng những chế phẩm sinh học, thảo dược có nguồn gốc từ thiên
Black Tiger Shrimp
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo
Chuỷ: nằm ngang, phần cuối hơi dày và hơi cong lên, dài đến cuối cuống râu I.
Mép trên có 7- 8 răng, mép dưới có 2- 3 răng, phần sau gờ chuỷ có rãnh giữa.[1]
Vỏ đầu ngực: gờ sau chuỷ hầu như kéo dài đến mép sau vỏ đầu chuỷ, gờ bên
chuỷ thấp, kéo dài đến phía dưới gai trên dạ dày. Gờ gan rõ thẳng.[1]
Phần bụng: từ giữa đốt bụng thứ IV đến cuối đốt VI có gờ lưng. Đốt đuôi dài
hơn đốt VI, không có gai bên.[1]
Các chi: gai cuống râu I kéo dài đến giữa đốt thứ I, nhánh phụ trong đến
hoặcvượt quá đốt I cuống râu I. Sợi ngọn râu I ngắn, sợi ngọn dưới bằng khoảng 2/3 vỏ
đầu ngực, sợi cong trên ngắn hơn sợi cong dưới.[1]
Thelycum: nằm ở giữa đôi chân bò IV, vôi hoá, viền quanh có nhiều lông cứng.
Túi nhận tinh dạng đĩa, chiều rộng lớn hơn chiều dài, mép rãnh giữa dày hình thành
môi.[1]
- 3 -
Hình 2.1: Tôm sú
Penaeus monodon
Petasma: u đỉnh phiến lưng giữa nhỏ, phiến bên tương đối rộng và vượt quá
đỉnh phiến giữa, đỉnh tròn có gai nhỏ.[1]
Màu sắc: thân có màu nâu nhạt, các vân ngang màu vàng, chân bơi màu cam
nhạt, viền lông màu hồng.[1]
Kích thước: là loài có kích thước và khối lượng lớn nhất trong họ tôm he, con
lớn nhất đạt kích thước 320 mm, nặng 380g.[1]
2.1.1.3. Phân bố
Theo địa lí:
- Trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan, Úc, Ấn Độ…..
- Ở Việt Nam: có mặt hầu hết các vùng biển, nhưng nhiều nhất là ở ven biển
miền Trung.[1]
Theo môi trường sống:
- Tôm sú thích hợp với môi trường sống với các yếu tố :
2.1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng
2.1.1.6.
Đặc điểm sinh sản
Bộ phận sinh dục (nằm dưới bụng)
Tôm sú thuộc loại dị hình phái tính, con cái có kích thước to hơn con đực. Khi
tôm trưởng thành, phân biệt rõ đực, cái thông qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài.
- Con đực: cơ quan sinh dục chính của con đực nằm ở phía trong phần đầu ngực,
bên ngoài có cơ quan giao phối phụ nằm ở nhánh ngoài đôi chân ngực thứ 2, lỗ sinh dục
đực mở ra hốc háng đôi chân ngực thứ 5. Tinh trùng thuộc dạng chứa trong túi.[1], [29]
- Con cái: Buồng trứng nằm dọc theo mặt lưng phía trên, hai ống dẫn trứng mở ra
ở khớp háng đôi chân ngực thứ 3. Bộ phận chứa túi tinh gồm 2 tấm phồng lên ở đôi
chân ngực thứ 4 và thứ 5 dưới bụng tôm.[1], [29]
2.1.2. Một số loại vi khuẩn thường gặp ở tôm sú giống
- Vi khuẩn Vibrio spp thuộc họ Vibrionaceae
- 5 -
Hình 2.2: Vòng đời của tôm sú (Penaeus monodon)
Giống Vibrio thuộc họ Vibrionaceae, thuộc
loại Gram âm. Hình que thẳng hoặc hơi uốn cong,
kích thước 0,3 - 0,5 x 1,4 - 2,6 µm.[20], 29], [30],
[31], [32], [33]
Trong vòng đời không có sự hình thành
bào tử, chuyển động nhờ tiên mao mảnh. Tất cả
đều thuộc loại yếm khí tuỳ tiện và hầu hết là oxy
hoá và lên men trong môi trường O/F Glucose.
[20], 29], [30], [31], [32], [33]
TCBS (Thiosulphate Citrat Bile Salt agar) là môi trường chọn lọc của Vibrio.
Hầu hết các loài đều phát triển trong môi trường nước biển cơ bản, ion Na
+
kích thích
cho sự phát triển của tất cả các loài Vibrio và đối với nhiều loài là nhu cầu tuyệt đối,
[19]
2.1.3.2. Chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L)
Chúng là các loài cỏ dại mọc quanh năm, cao
thường 30cm, thân gần như nhẵn, mọc thẳng đứng
mang cành, thường có màu đỏ nâu. Lá mọc so le,
lưỡng bộ trong như lá kép, phiến lá thuôn, dài 5 -
15mm, rộng 2 - 5mm, đầu nhọn hay hơi tù, mép
nguyên thủy như hơi có răng cưa rất nhỏ, mặt dưới
lá màu xanh lơ, không cuống. Hoa mọc ở kẽ lá, nhỏ,
màu đỏ nâu, đơn tính, hoa đực, hoa cái cùng gốc,
đực ở đầu cành, cái ở dưới. Hoa không có cuống
hoặc có cuống rất ngắn. Cây chó đẻ răng cưa mọc hoang khắp nơi ở nước ta. Thành
phần hoá học: Chúng chứa chất Phyllanthin (C24H34O6), Niranthin (C
24
H
32
O
7
),
Nirtetralin (C
24
H
30
O
7
), Phylteralin (C
24
H
34
O
xuống ao, hoặc ngâm xuống ao với liều lượng 3-5kg
rễ tươi/1.000m
2
ao ở mức nước 15-20cm.[2], [3], [5],
[8]
.2.1.3.5. Cây xoan (Melia azedarach)
Cây xoan có tên khoa học: Melia azedarach L. còn
có tên là Xoan ta, Sầu đông, Sầu đâu.
Lá, vỏ, quả, rễ đều có thể làm thuốc sát trùng.
Dùng lá xoan để diệt trùng mỏ neo, trùng bánh xe ở cá
đều mang lại hiệu quả cao. Dùng lá xoan bón lót
xuống ao trước khi thả cá, lấy lá xoan non bó thành
từng bó, ngâm trong ao cá đang bị bệnh trùng mỏ neo, trùng bánh xe. Nên ngâm ở đầu
nguồn nước hoặc 4 góc ao với lượng 150 - 200kg cành, lá xoan /1.000m
2
ao có mức
nước 1,5 - 2m hoặc 20-25kg lá xoan/lồng cá 8m
2
.[2], [3], [4], [5], [8], [16], [19]
2.1.3.6. Cây thàn mát (Milletia ichthyochtona Drake)
Quả khi già hạt có chứa 30 - 40% dầu và chất
gây độc (như rotenon, sapotoxin) đối với cá. Có thể
dùng hạt thàn mát để diệt cá tạp trong ao nuôi tôm.
[14], [21]
Cách dùng: nghiền nát hạt rồi hoà vào nước,
dùng nước đó tưới đều lên ao; hoặc đập nát cho vào
bao tải ngâm ở ao, tác dụng chậm hơn. Liều lượng cứ
0,5-1kg hạt dùng cho một ao 1.000m2 ở mức nước 15-
20cm.[2], [3], [4], [5], [8], [19]
.
Dùng rau sam để chữa bệnh viêm ruột do vi khuẩn đối với cá trắm cỏ. Khi dùng,
rửa sạch rau rồi vô trùng bằng nước muối 3%, rải rau trong khung nổi ở ao hoặc trong
lồng cá, mỗi ngày cho ăn một lần, liên tục trong 6 ngày với
liều lượng 1,5-3kg rau sam/100kg cá. Đối với cá giống cần
băm nhỏ rau, rắc đều trên mặt ao hoặc trong lồng cá.[3],
[4], [5], [8]
2.1.3.12. Cây tía đỏ (Ricinus communis L)
Cây tía đỏ thường được dùng để chữa bệnh đường
ruột cho động vật thuỷ sản. Khi dùng lấy thân và lá cây
băm nhỏ, nấu kỹ, lấy nước trộn với thức ăn tinh rồi cho ăn lượng 0,2-0,5kg lá/kg thức
ăn, cho ăn liên tục trong 3-5 ngày.[3], [4], [5], [8], [16]
2.1.3.13. Cây hoàn ngọc (Pseuderanthemum palatiferum)
Cây hoàn ngọc còn có nhiều tên gọi khác như xuân
hoa, tú linh, con khỉ, nhật nguyệt... Kết quả kiểm tra độc
tính cấp của dịch chiết lá Hoàn Ngọc khô dùng làm trà tại
Viện Kiểm nghiệm, Bộ Y tế cho thấy lá Hoàn Ngọc
không độc và có tác dụng kháng khuẩn đối với vi khuẩn
gram âm và gram dương ở đường tiêu hóa và kháng nấm.
2.1.3.14. Cây khế (Averrhoa carambola L)
Cây khế có tên khoa học Averrhoa carambola L.
Vào thế kỷ thứ 12 Averhoes là một thầy thuốc kiêm triết
gia Ả rập đã phát hiện cây khế là một dược liệu quý nên
khế đã mang tên của ông. Tên Hán là ngũ liễm tử, ngũ lăng
tử (quả cắt ngang có 5 cánh như ngôi sao, có tính năng thu
vào).
Cây khế có nhiều tác dung dược lý như: Chữa dị ứng do tiếp xúc với sơn ta, rửa
vết thương lở loét, chữa nước ăn chân, cảm cúm, sốt, đau mình, hắt hơi sổ mũi, ho, chữa
phong nhiệt mẩn ngứa mày đay, viêm họng , cảm nắng, khát nước, nhức đầu...
2.1.3.15. Cây ổi (Psidium guajava)
Tên khoa học của ổi là Psidium guajava L., trong dân gian còn có tên phan thạch
Năm 1981- 1982 được sự giúp đỡ của FAO nghiên cứu thủy sản nước lợ Hải
Phòng, trại tôm giống Quy Nhơn đã cho đẻ thành công trên đối tượng P.merguiensis và
P.monodon.[29], [30], [31], [32], [33]
Năm 1983 trại thực nghiệm Cửu Bé, trường Đại Học Thủy sản Nha Trang đã cho
đẻ thành công đối tượng P.merguiensis và P.monodon.[29], [30], [32]
Đến năm 1986 cả nước sản xuất được 3,3 triệu Postlarvae của các loài tôm he và
đã xây dựng các trại có quy mô lớn như: Bãi Cháy, Kim Quý…[29], [30], [31], [32]
Năm 1989 cả nước có 28 trại sản xuất tôm giống và sản xuất được 20 triệu
Postlarvae/năm, đến năm 1994 cả nước có 49 trại, sản xuất được 200 triệu
Postlarvae/năm chủ yếu là tôm sú (Bài giảng sản xuất tôm sú, Tôn Thất Chất, 2002).
- 12 -
Tiếp đó phong trào sản xuất giống tôm sú đã phát triển và lan rộng khắp các tỉnh ven
biển miền Trung như: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Ninh Thuận…[29], [30], [31], [32]
Theo Phan Lương Tâm (1994) hầu hết sản xuất giống tôm sú xây dựng không
theo quy hoạch, mật độ trại giống có nơi dày đặc. Trong từng trại sản xuất giống không
xây dựng đúng theo quy trình kỹ thuật, không có hệ thống xử lý nước thải, nước thải xả
trực tiếp ra biển làm gia tăng sự nhiễm bệnh và mầm bệnh trong nguồn nước biển. Tính
bình quân tỷ lệ cảm nhiễm MBV của đàn tôm giống 46,48%, nhưng tôm giống ở Nha
Trang tỷ lệ cảm nhiễm khá cao 70- 100%. Ở Bà Rịa Vũng Tàu tỷ lệ cảm nhiễm thấp hơn
5,55- 31,59%. Các nguyên nhân chủ yếu dẫn tới chất lượng tôm giống kém là: tôm bố
mẹ có chất lượng kém, cắt mắt cho đẻ nhiều lần, trong sản xuất giống sử dụng nhiều
loại hóa chất và thuốc kháng sinh để xử lý tôm bố mẹ, tôm bột và tôm giống. Do đó dẫn
tới tôm giống sản xuất ra có chất lượng thấp, một trong các nguyên nhân tôm nuôi bị
bệnh, giảm hiệu quả kinh tế trong nuôi tôm thịt.[29], [30], [31], [32]
2.3. Tình hình nuôi tôm ở Thừa Thiên Huế
Hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với diện tích 22.000 ha nên Thừa Thiên
Huế rất có điều kiện để phát triển nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi tôm nói riêng.
[23], [24], [25], [26], [27], [29] Ngay từ những năm 89, 90 của thập niên trước, người
dân Thừa Thiên Huế đã chắn phá, đắp đập, vây lưới nuôi tôm. Tại thời điểm này cho
đến hết năm 1997 môi trường đầm phá hầu như chưa chịu tác động xấu nào, chất lượng
Song song với việc mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản, nhiều loài giống thuỷ
sản đã được du nhập, thuần dưỡng và phát triển trên khắp vùng đầm phá ven biển và các
vùng ao hồ toàn tỉnh, góp phần từng bước tạo nên bộ giống thủy sản hoàn chỉnh cho
người nuôi, các tiến bộ trong nuôi trồng thuỷ sản được triển khai và chuyển giao cho
hầu hết các địa phương qua chương trình khuyến ngư, nhờ vậy giúp cho người dân chủ
động và mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất. Về con giống thuỷ sản, từ chủ yếu mua
con giống từ các tỉnh, đến nay các cơ sở sản xuất giống trong tỉnh đã đủ khả năng sản
xuất giống tôm cá chủ động và đáp ứng phần lớn nhu cầu nuôi cho người dân.[24], [25],
[26]
Về công tác giống, năm 2009 toàn tỉnh có 9 trại tôm giống được đưa vào sản
xuất với lượng giống là 65,2 triệu con trong đó 22 triệu tôm rảo đạt 23,78% nhu cầu
giống tôm sú và đạt 9,07% nhu cầu giống tôm nuôi của toàn tỉnh. Công tác dịch vụ
giống cung cấp 22 triệu tôm sú và 7 triệu tôm chân trắng. Bên cạnh đó trung tâm giống
nước ngọt cấp 1 cũng đã sản xuất được 20 triệu con cá bột các loại (trắm, chép, mè, rô
phi). Và đã cung cấp: 5,2 triệu cá hương; 1,3 triệu cá giống cấp 1 và 0,5 triệu cá giống
cấp 2 cho nhu cầu 36 triệu con cá giống các loại trên địa bàn tỉnh.[23]
- 14 -
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp giống thả các huyện và thành phố Huế
STT Huyện
Trong đó giống các loại
Tôm sú
(triệu)
Chân
trắng
(triệu)
Cá nước
lợ
(triệu)
Cua giống Cá nước
ngọt các
TT Tên huyện
Tổng diện
tích (ha)
DT đã thả
nuôi ( ha)
Số lồng Thực
hiện
(lồng)
Số lượng
giống thả
(triệu)
1 Phong Điền 373 372 445 7,5
2 Quảng Điền 71,24 128,4 875 1,72
3 Hương Trà 113,5 113,5 350 3,545
4 Phú Vang 210 179,7 154 6,4
5 Phú Lộc 300 300 300 6,168
6 TP Huế 9,2 9,2 - 0,2
7 Hương Thuỷ 488,1 488,1 146 6,704
8 Nam Đông 64 60,5 30 1,81
9 A Lưới 209,6 218,5 - 2
Tổng Cộng 1.838,64 1.869,9 2300 36,047
(Nguồn: Sở Nông Nghiệp và PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế, 2009)
Nhìn chung năm 2009 là năm nuôi tôm được mùa so với 3 năm trở lại đây, dịch
bệnh thấp, năng suất đạt khá, giá cả cũng khá hơn, mặc dù vậy lợi nhuận và hiệu quả
của người nuôi vẫn không cao.
2.4. Tình hình nghiên cứu bệnh trên thế giới và Việt Nam
2.4.1. Tình hình nghiên cứu bệnh
2.4.1.1. Trên thế giới
Trong những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản đã có những bước tiến vượt bậc
về cả diện tích lẫn năng suất nuôi trồng đã đạt được, tuy nhiên hiện nay chúng ta đang
Năm 1996, tại các tỉnh miền Nam (từ Phú Yên đến Cà Mau) dịch bệnh đã xảy ra
trên 84.917 ha, trong đó nuôi quảng canh: 52.017 ha, quảng canh cải tiến: 29.011 ha,
bán thâm canh: 3.829 ha, tổng thiệt hại lên đến hàng chục tỷ đồng. Các tỉnh bị dịch bệnh
nặng như Cà Mau hơn 70.000 ha, Kiên Giang hơn 4.000 ha, Bến Tre hơn 3.000 ha.[9],
[18]
- 18 -
Bảng 2.4. Thiệt hại do bệnh tôm gây ra ở các tỉnh miền Nam năm 1996
Địa phương
Diện tích bị bệnh (ha) Sản
lượng
Giá trị
kinh tế (tỷ
Quảng
canh
QCCT
Bán
thâm
canh
Thâm
canh
Phú Yên 104 2,06
Khánh Hoà 20 10 16 0,1
Vũng Tàu 150 246 1,5
Tp Hồ Chí Minh 1.000 640 340 500 25
Tiền Giang 66,2 25,6 23,5 0,358
Bến Tre 1.017 2.035 110 179,2 20
Trà Vinh 3.000 800 23,006
Sóc Trăng 750 1.875 2,063
Minh Hải 50.000 20.000 1.200 205
Kiên Giang 4.000 700 15
Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II, tại các tỉnh
Nam Bộ tỷ lệ nhiễm bệnh virus đốm trắng trên mẫu tôm ở ao nuôi quảng canh cải tiến
chiếm tới 56%, 50% tôm nhiễm bệnh MBV. Bệnh virus đốm trắng gây chết tôm hàng
loạt, tác hại lớn đến năng suất, sản lượng tôm của khu vực.[26], [27]
Năm 2007, dịch bệnh đã bùng phát trên hơn 30 ha ao nuôi tôm trên cát ở huyện
Phù Mỹ (Bình Định). Tôm chết chủ yếu ở giai đoạn 30 - 40 ngày nuôi gây tổn thất hàng
chục tỉ đồng. Năm 2005, vùng nuôi tôm trên cát trọng điểm tỉnh Bình Định tập trung tại
hai xã Mỹ An, Mỹ Thắng (Phù Mỹ) cũng xảy ra dịch bệnh.[29], [30]
Những tháng đầu năm 2008, một số tỉnh nuôi tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
như: Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau bị thiệt hại nặng do tôm chết hàng loạt.
Nghiêm trọng nhất tại Cà Mau có khoảng 34.000 ha tôm bị nhiễm bệnh, thiệt hại từ 10%
đến 70%. Việc tăng trưởng quá nhanh chóng về diện tích nuôi tôm đã nảy sinh nhiều bất
cập về ô nhiễm, kiểm soát dịch bệnh, chất lượng sản phẩm dẫn đến thiệt hại không nhỏ
về kinh tế cũng như môi trường.[29], [30]
2.4.1.3. Tại Thừa Thiên Huế
Năm 2007, diện tích nuôi tôm của Thừa Thiên Huế khoảng 3.712,1 ha. Ở vụ nuôi
này thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài xen giữa có 3 đợt gió mùa kèm theo
mưa dẫn đến nhiệt độ, các yếu tố môi trường biến động quá cao rất bất lợi cho sự phát
triển tôm nuôi. Qua kiểm tra cho thấy tôm bị nhiễm virus đốm trắng ở các vùng Quảng
An, Quảng Phước huyện Quảng Điền. Sau đó dịch bệnh lây lan trên diện rộng ở các xã
thuộc huyện Phú Lộc, Phú Vang. Theo thống kê diện tích tôm bệnh: Khoảng 1.052,98
ha chiếm tỷ lệ 36,91% tổng diện tích nuôi, tăng 31,28% so với năm 2006. Huyện Phú
- 20 -
Lộc có diện tích nuôi tôm lớn nhất với 900 ha, cũng là huyện thiệt hại nặng nhất với 600 ha
bị bệnh, chiếm tỷ lệ 66,67% tổng diện tích nuôi. Trong đó bệnh đốm trắng trên 138,83 ha
chiếm tỷ lệ 11,07% tổng diện tích nuôi, các bệnh vi khuẩn khác trên 166,7 ha chiếm tỷ lệ
14,37%. Huyện Phong Điền thiệt hại thứ hai, với 22,9 ha nhiễm bệnh, chiếm 39,76%.
Trong đó bệnh đốm trắng xảy ra với tỷ lệ rất cao, trên 21 ha, chiếm 38,02%. Hai huyện Phú
Vang và Quảng Điền cũng bị thiệt hại nặng, với tỉ lệ xấp xỉ 26%. Bệnh đốm trắng ở Phú
Vang chiếm 11,9 %, bệnh vi khuẩn khác chiếm 14,37%. Tỷ lệ này ở Quảng Điền là 25,46%
Phân ra các loại bệnh
Bệnh đốm
trắng
Bệnh khác
Diện
tích
Tỷ lệ
(%)
Diện
tích
Tỷ lệ
(%)
1 Phú Vang 62,01 1932,73 3,21 23,38 1,21 38,63 2,00
2 Phú Lộc 34,34 886,53 3,87 18,95 2,14 15,4 1,74
3 Hương Trà 6,8 240,90 2,82 1,7 0,71 5,1 2,12
4 Quảng Điền 42,41 644,95 6,58 18,42 2,86 28,29 4,39
5 Phong Điền 8,65 130,53 6,63 0,8 0,61 7,85 6,01
Tổng 154,21 3835,64 4,02 63,25 1,65 95,27 2,48
- 21 -
2.4.2. Tình hình nghiên cứu bệnh vi khuẩn
2.4.2.1. Trên thế giới
Cuối thế kỉ XIX, một số tác giả đã xuất bản cuốn sách: “Hướng dẫn dịch bệnh
cá” nhưng cơ bản vẫn là mô tả những triệu chứng lâm sàng. Sang đầu thế kỷ XX, các
nhà khoa học trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu và viết sách hướng dẫn các bệnh cá.
Năm 1904, Bruno Hofer người Đức viết cuốn sách “Tác nhân gây bệnh ở cá”
(Father of Fish Pathology). Năm 1929, Viện sĩ V.A.Dogiel thuộc viện Hàn lâm khoa học
Liên Xô cũ là người có công lớn đóng góp vào công trình nghiên cứu ký sinh trùng cho
cá, năm 1939 ông viết tiếp cuốn sách “Bệnh vi khuẩn của cá” (Bacterial Diseases Of
Fish). Từ đó công tác nghiên cứu bệnh thủy sản ngày càng phát triển.
Đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khi nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển
nhân gây bệnh và chưa đề ra được các biện pháp phòng trị, nghiên cứu chỉ mới đưa ra
những thông tin cho việc phát hiện bệnh. Năm 1994, Đỗ Thị Hoà và cộng tác viên, công
bố đề tài “Nghiên cứu một số bệnh do tác nhân vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật
và giun tròn”, nhóm tác giả đã thông báo 8 loại bệnh khác nhau do các tác nhân là vi
sinh vật gây bệnh cho tôm sú: virus, vi khuẩn, ... Ngoài ra, tác giả còn thông báo một số
bệnh do các tác nhân vô cơ gây ra như: bệnh dị hình, bệnh cong thân, bệnh tôm chết do
nhiệt độ cao. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh nhóm vi khuẩn Vibrio là nhóm vi khuẩn gây ra
một số bệnh có tác hại lớn cho tôm như: phát sáng, đỏ dọc thân, mềm vỏ, đen mang...
[7], [14]
Năm 1997, khi dịch bệnh tôm gây chết hàng loạt ở đồng bằng sông Cửu Long,
Nguyễn Việt Thắng và cộng tác viên đã nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu nguyên nhân tôm
chết ở đồng bằng sông Cửu Long”. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Việt Thắng
(1997) cho thấy vi khuẩn hiển diện khá cao trên tổng số mẫu thu xét nghiệm, nhiều loại
Vibrio xuất hiện với tần số lớn, 2/3 xã điều tra cho thấy hiện tượng nhiễm khuẩn
(Pycnozec nhân), chiếm tỷ lệ 80-100%. Bên cạnh tác nhân virus, vi khuẩn cũng là một
tác nhân khá nguy hại khác cho tôm nuôi nếu đàn tôm bị nhiễm khuẩn với cường độ cao
và số lượng lớn.[15], [16]
Năm 1996, Đỗ Thị Hoà cùng cộng tác viên đi sâu vào nghiên cứu các tác nhân
gây bệnh trên tôm sú ở khu vực Nam Trung Bộ đã phát hiện: virus, vi khuẩn, protozoa
cảm nhiễm trên tôm, kết quả này đã mở ra nhiều triển vọng cho nghề nuôi tôm tại Việt
Nam.[13]
Gần đây công trình nghiên cứu lớn là đề tài cấp nhà nước mang mã số: KN-04-
12 do Hà Ký đã nghiên cứu được 13 loại bệnh vi khuẩn tôm. Ông đã công bố đầy đủ các
khâu từ phân lập vi khuẩn, tác nhân gây bệnh, dấu hiệu bệnh lý, phân bố và lan truyền,
biện pháp phòng trị với một số bệnh được đi sâu nghiên cứu như: bệnh phát sáng ở ấu
trùng tôm sú, bệnh đỏ dọc thân ở ấu trùng tôm sú, bệnh hoại tử đốm nâu ở tôm càng
xanh, bệnh hoại tử do vi khuẩn gây ra trên cá trê, bệnh xuất huyết ở cá trắm cỏ nuôi
lồng.[6]
22
2.5. Tình hình nghiên cứu và sử dụng các loại thảo dược trong phòng trị bệnh
Botanical Council, Austin-Texas, dựa vào hai công trình của Đức và Anh, đã soạn thảo
một tài liệu nói về 26 thảo dược thông dụng. Những năm gần đây, Viện Sức Khỏe Hoa
Kỳ đã thành lập một trung tâm nghiên cứu về thảo dược.[29], [30], [31], [32]
23
.
Năm 1858, nhà bác học Pháp Louis Pasteur đã chứng minh được công dụng diệt
vi khuẩn của tỏi. Năm 1944, nhà hóa học Chester J. Cavallito đã phân tích được hợp
chất Allicin trong tỏi có công dụng như thuốc kháng sinh. Kháng sinh này mạnh bằng
1/5 thuốc Penicillin và 1/10 thuốc Tetraclline, có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn, xua
đuổi hoặc tiêu diệt nhiều sâu bọ, ký sinh trùng, nấm độc. Một nghiên cứu khác tại Brazil
năm 1982 đã chứng minh nước tinh chất của tỏi có thể chữa được nhiều bệnh nhiễm độc
bao tử, do thức ăn có lẫn vi khuẩn, nhất là loại Salmonella. Các nghiên cứu tại Đại học
California ở Davis cũng đưa đến kết luật tương tự. Ngoài ra, tỏi cũng được dùng rất
công hiệu để trị bệnh sán lãi, giun kim, các bệnh nấm ngoài da.[17], [29]
Vào năm 1867, Binz đã chứng minh được quinin rất độc với Paramecium. Quinin
ở nồng độ 1/20.000 làm suy yếu hoạt lực của Paramecium sau 2 phút, làm bất hoạt sau 2
giờ. Từ đó Binz đưa ra vấn đề về khả năng dùng qinin để điều trị các bệnh do
Paramecium gây ra.[17]
Năm 1887, R.Koch đã nghiên cứu chứng minh tính kháng khuẩn của nhiều loại
tinh dầu. Cũng trong thời gian này, Chamberland đã chứng minh rằng nhiều loại tinh
dầu có tính kháng khuẩn, các thí nghiệm này được nhiều người như Cadeae, Mennic,
Bering, Reilling,... tiếp tục nghiên cứu.[29], [30], [32]
Năm 1817 Pelletier, Magendie tách ra được một loại alkaloid có tên emetin.
Rogers, 1912 nhận thấy dung dịch muối chlohydrat emetin 1/10.000 diệt được amip, từ
đó emetin được dùng rộng rãi trong điều trị lỵ cấp tính ở ruột, áp-xe gan do amip. Nhiều
loài cây Holarrhena đã được người dân ấn Độ dùng để chữa sốt rét, lao, chữa lỵ Amip
và Trichomonas, trong số 20 alkaloid chiết suất từ hạt và vỏ cây nhận thấy chất conessin
có tác dụng mạnh với amip, đã được ứng dụng điều trị lỵ amip có kết quả. Holarrhena
antidysenterica đã được Viện Dược Liệu tách chiết được một chế phẩm gọi là “Holanin”
thành phần chủ yếu chứa conessin và các alkaloid khác, có tác dụng điều trị lỵ amip thể