BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN MINH HUY
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Tài chính - Ngân hàng
Mã số
: 60.34.20
TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH
Phản biện 1: PGS.TS. Trần Đình Khôi Nguyên
Phản biện 2: TS. Trịnh Thị Thúy Hồng
gây ra tâm lý bất an cho xã hội. Vậy đâu là nguyên nhân cho việc
thiếu minh bạch thông tin ngành ngân hàng và các biện pháp để giải
quyết thực trạng này?
Đã có nhiều bài báo, ý kiến chuyên gia, người dân về thực trạng
thiếu minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính nhưng chưa có tài
liệu nào làm rõ những nguyên nhân khiến việc công bố thông tin
ngành ngân hàng vẫn còn bất cập. Với mong muốn đóng góp một
phần nhỏ vào giải quyết thực trạng vấn đề này, tôi đã chọn đề tài:
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
2
trong báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm
đề tài tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mức độ công bố thông tin và các
nhân tố ảnh hưởng.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng công bố thông tin của các Ngân hàng
thương mại tại Việt Nam, qua đó giúp nâng cao chất lượng công bố
thông tin của các ngân hàng thương mại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu mức độ công bố thông tin của các
Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Thông tin công bố trong báo cáo tài chính năm 2012 của 16 ngân
hàng thương mại tại Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
ty, và quy mô công ty kiểm toán với mức độ CBTT. Tổng cộng 61
khoản mục thông tin, gồm cả bắt buộc và tự nguyện, đã được bao
gồm trong chỉ số CBTT, và phương pháp cho điểm các chỉ mục thì
mang tính phân đôi. Kết quả cho thấy quy mô và tính sinh lợi của các
ngân hàng có ảnh hưởng đến mức độ CBTT. Tuy nhiên, quy mô công
ty kiểm toán không có ý nghĩa thống kê ở các mức độ thông thường
trong mô hình. Chipalkatti (2002) kiểm tra mối quan hệ giữa bản chất
và chất lượng của CBTT báo cáo thường niên của 17 ngân hàng Ấn
Độ với các biến đại diện cho cấu trúc vi mô của thị trường. Tác giả
xây dựng một chỉ số minh bạch thông tin ngân hàng bao gồm 90
khoản mục thông tin trong đó có xem xét đến đề xuất của ủy ban
4
Basel và IAS 30. Nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ giữa
mức độ CBTT với phần trăm cổ phần do chính phủ nắm giữ, và phần
trăm cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ. Kết quả cũng chỉ ra
rằng ngân hàng càng lớn thì cung cấp càng nhiều thông tin minh bạch
và không có sự khác biệt giữa điểm số CBTT của ngân hàng với mức
độ sinh lời, nhưng ngân hàng có mức sử dụng đòn bẩy thấp có xu
hướng CBTT nhiều hơn. Bauman và Nier (2003) xác định vấn đề của
việc phát triển một bộ các yêu cầu CBTT theo trụ cột 3 Basel II mà
cải thiện khả năng của các thành phần tham gia thị trường trong việc
đánh giá giá trị của ngân hàng trong đó có sử dụng bộ dữ liệu độc
nhất của gần 600 ngân hàng tại 31 quốc gia trong thời kì 1993-2000.
Bộ dữ liệu bao gồm thông tin chi tiết về các khoản mục được công bố
bởi các ngân hàng trong tài khoản hàng năm của các ngân hàng. Các
khoản mục này cấu thành nên chỉ số CBTT tổng hợp phản ánh mức
độ CBTT của ngân hàng, và tác giả sau đó phân tích từng tiểu mục
trong số 17 tiểu mục CBTT mà làm nên chỉ số CBTT tổng hợp để
công bố thông tin tự nguyện với mẫu gồm 10 ngân hàng trong thời kỳ
2000-2011. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô hội đồng quản trị,
số lượng cổ phần sở hữu bởi cổ đông lớn và cổ đông nhà nước thì
đều có ảnh hưởng tiêu cực đến việc công bố thông tin. Tuy nhiên,
quy mô ngân hàng, số lượng cổ phần nắm giữ bởi nhà đầu tư nước
ngoài và hiệu quả hoạt động ngân hàng lại có tác động tích cực đến
việc công bố thông tin của công ty.
Nghiên cứu của Kamal, Al-Hussaini, AL-Kwari và Nuseibeh,
(2006) tìm ra rằng có mối quan hệ đáng kể giữa quy mô công ty với
mức độ CBTT. Aljifri (2008) kiểm tra mức độ CBTT trong BCTN
của 31 công ty niêm yết trong UAE và cho thấy lĩnh vực kinh doanh
khác nhau có ảnh hưởng mức độ CBTT. Tuy nhiên, quy mô, tỷ lệ nợ
trên vốn cổ phần, và khả năng sinh lời không có ảnh hưởng đến mức
6
độ CBTT. Alsaeed (2006) nghiên cứu mối quan hệ giữa các đặc tính
đặc biệt của công ty với mức độ CBTT ở Saudi Arabia. Một tổng 20
khoản mục công bố tự nguyện được xây dựng để đánh giá mức độ
CBTT trong BCTN của 40 công ty. Các kết quả chỉ ra rằng trung
bình của chỉ số CBTT đã thấp hơn mức trung bình. Kết quả cũng chỉ
ra rằng quy mô công ty có quan hệ tích cực với mức độ CBTT tuy
nhiên nợ, quyền sở hữu bị phân tán, thời gian hoạt động, biên lợi
nhuận, ngành công nghiệp và quy mô công ty kiểm toán không có
ảnh hưởng đến mức độ CBTT. Hossain và Reaz’s (2007) điều tra
thực nghiệm mức độ CBTT tự nguyện mức độ CBTT của 38 công ty
ngân hàng niêm yết ở Ấn Độ. Kết quả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ
giữa các đặc biệt của công ty với mức độ CBTT tự nguyện. Nghiên
cứu cho thấy các ngân hàng Ấn Độ đang công bố một lượng đáng kể
thông tin tự nguyện. Các kết quả chỉ ra rằng quy mô và tài sản cố
công bố khá hoàn chỉnh, đồng thời lập luận một cách chặt chẽ về các
nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT, qua đó đưa ra nhiều giải pháp
hữu ích để cải thiện mức độ CBTT trong BCTC. Tuy nhiên nghiên
cứu chưa phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về đặc điểm
quản trị và sở hữu đến mức độ CBTT của doanh nghiệp.
Tác giả Phạm thị Bích Vân trong bài viết về “Mối quan hệ giữa
cơ chế quản trị công ty và CBTT trong BCTN: Nghiên cứu tại TTCK
VN” (2012) đã thực hiện nghiên cứu dựa trên BCTN năm 2011 của
101 công ty niêm yết. Kết quả cho thấy các biến đại diện cho cơ chế
quản trị công ty như: số lượng thành viên HĐQT, tỷ lệ thành viên
HĐQT độc lập không điều hành, sở hữu vốn là tổ chức có mối tương
quan thuận và có ý nghĩa thống kê với biến mức độ CBTT. Tuy
nhiên, sự tách rời giữa CEO và chủ tịch HĐQT có mối tương quan
nghịch với mức độ CBTT.
Kế thừa và phát triển các nghiên cứu ở nước ngoài, luận văn tiếp
8
tục xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của
các ngân hàng thương mại tại Việt Nam thông qua sử dụng các mô
hình, kết quả các nhân tố của các tác giả đã nghiên cứu trước đây
như: quy mô tài sản ngân hàng, tỷ suất sinh lợi, tỷ trọng TSCĐ…
những nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo
cáo tài chính của ngân hàng.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.1. KHÁI NIỆM CHUNG VÊ CÔNG BỐ THÔNG TIN
Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hiện trong Sổ tay
bản đối với kế toán, trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu,
có thể so sánh.
1.3.2. Yêu cầu thông tin kế toán thuộc BCTC
Theo VAS 01: Chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ
bản của báo cáo tài chính
Bên cạnh chuẩn mực chung quy định các yếu tố của BCTC thì
chuẩn mực 21: Trình bày BCTC quy định và hướng dẫn các yếu tố và
nguyên tắc chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính gồm:
Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập báo cáo tài chính; kết cấu và nội
dung chủ yếu của các báo cáo tài chính.
1.3.3. Yêu cầu công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Các yêu cầu của CBTT được quy định lần đầu tiên tại thông tư
57/2004/TT-BTC. Thông tư 38/2007/TT-BTC đã quy định cụ thể hơn
các yêu cầu của việc CBTT. Đến thông tư 52/2012/TT-BTC càng
nhấn mạnh việc CBTT phải đầy đủ chính xác và kịp thời theo quy
định của pháp luật. hoạt động CBTT phải do giám đốc hoặc người ủy
10
quyền CBTT thực hiện, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu
trách nhiệm về nội dung thông tin do người được ủy quyền.
1.4. SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Đối với công tác quản lý thị trường
Đối với nhà đầu tư
Đối với Trung tâm giao dịch chứng khoán
1.5. CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.5.1. Chỉ số chất lượng
+ Chỉ số số lượng quan hệ (RQT) được tính toán bởi sự khác
nhau giữa công bố thực hiện và công bố kỳ vọng, nó được ước tính
d
i 1
ij
nj
Với:
Ij: chỉ số công bố thông tin của công ty j, 0 Ij 1;
d =1 nếu mục thông tin được công bố, = 0 nếu mục thông tin I
không được công bố.
n = số lượng mục thông tin mà công ty có thể công bố.
1.6. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN
1.6.1. Lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố
thông tin
a. Lý thuyết đại diện
Theo lý thuyết đại diện thì một số các nhân tố ảnh hưởng đến
mức độ công bố thông tin như là: Quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài
chính, khả năng sinh lời.
b. Lý thuyết dấu hiệu
Lý thuyết dấu hiệu cho rằng các quyết định tài chính của công ty
là các dấu hiệu được gửi đi bởi các nhà quản lý cho các nhà đầu tư để
xem xét những thông tin phản hồi và dấu hiệu này là nền tảng cho
chính sách truyền thông tài chính. Lý thuyết tín hiệu giả định rằng
các công ty có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài
12
chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường (Ross,
có thể muốn công bố thông tin của doanh nghiệp cho nhà đầu tư bên
ngoài hơn là doanh nghiệp có ít lợi nhuận.
c. Tài sản cố định
Các doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định cao, hiệu quả sử dụng
tài sản cao thì mức độ công bố thông tin nhiều hơn để giúp cho người
bên ngoài đưa ra quyết định đầu tư. Điều này dẫn đến mối liên hệ
thuận chiều giữa giá trị tài sản cố định và mức độ công bố thông tin.
Mặt khác, cũng có thể lập luận rằng doanh nghiệp có nhiều tài sản
cầm cố không có nhu cầu công bố thông tin tài chính. Jensen và
Meckling (1976) cho rằng tài sản bị cầm cố có thể làm giảm đi mâu
thuẫn về quyền sở hữu bởi vì người cho vay sẽ nắm quyền sở hữu tài
sản cố định trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Việc giảm
mâu thuẫn về quyền sở hữu có thể giảm nhu cầu công bố thông tin
cho nên có thể có mối liên hệ ngược chiều giữa tài sản cầm cố và
mức độ công bố thông tin.
d.Thời gian hoạt động
Có nhiều ý kiến cho rằng các doanh nghiệp có thời gian hoạt
động lâu năm thì việc CBTT của doanh nghiệp đó nhiều hơn, các
doanh nghiệp có thời gian hoạt động càng lâu thì việc lập, trình bày
BCTC theo thời gian sẽ được cải thiện hơn vì vậy có thể công bố
nhiều thông tin hơn doanh nghiệp mới hoạt động. Owusu-Ansah
(1998) đã chứng minh rằng thời gian hoạt động của doanh nghiệp tác
động tích cực đến mức độ CBTT, Owusu – Ansah và Yeho (2005) và
Al shamari và cộng sự (2007) cũng đã có kết quả tương tự.
e.Tính phức tạp của doanh nghiệp
Haniffa và Cook (2002) tranh luận rằng cấu trúc phức tạp có ảnh
hưởng đáng kể đến mức độ CBTT. Sự phức tạp đòi hỏi công ty có
một hệ thống thông tin quản lý hiệu quả phục vụ mục đích giám sát
15
2.1.2. Tình hình hoạt động
a. Tăng trưởng tài sản
b. Tăng trưởng vốn
c. Tăng trưởng huy động và tín dụng
2.1.3. Môi trường hoạt động
a. Tình hình vĩ mô
b. Tăng trưởng GDP và CPI
c. Ngoại hối
d. Vàng
e. Khung pháp lý
2.1.4. Sơ lược về hoạt động công bố thông tin của các Ngân
hàng thương mại Việt Nam
2.2.THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.2.1. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
a. Câu hỏi nghiên cứu
Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các
NHTM Việt Nam?
b. Giả thiết nghiên cứu
H1: Các NHTM có quy mô càng lớn thì mức độ CBTT trong
BCTC nhiều hơn các NHTM có quy mô nhỏ.
H2: Các ngân hàng thành lập lâu đời CBTT nhiều hơn các ngân
hàng mới thành lập.
H3: Các ngân hàng có lợi nhuận cao CBTT nhiều hơn các ngân
hàng có lợi nhuận thấp..
H4: ngân hàng có công ty con CBTT nhiều hơn ngân hàng không
có công ty con.
H5: Tồn tại mối quan hệ nghịch chiều giữa tỷ lệ TSCĐ và mức
độ CBTT.
nj
Với Ij: chỉ số công bố thông tin của công ty j, 0 Ij 1;
dij = 1 nếu mục thông tin được công bố, = 0 nếu mục thông tin
không được công bố.
n = số lượng mục thông tin mà công ty có thể công bố, n 156 .
17
d. Xác định và đo lường các biến độc lập
Dự đoán
Biến
Định nghĩa
Đo lường
ảnh
hưởng
SIZE
Quy mô ngân Logarit của tổng tài sản
+
hàng
AGE
Thời gian hoạt Thời gian hoạt động của
TSCĐ với giá trị sổ sách
của TTS.
ID
Thành
phần Tỷ lệ thành viên độc lập
HĐQT
không điều hành/ tổng
+
thành viên trong HĐQT
MD
Kỷ
luật
trường
thị = Tỷ lệ an toàn vốn tối
-
thiểu (CAR)
= Nợ xấu/ TTS (NPA)
Sig.
SIZE
.798
16
.003
.960
16
.656
AGE
.573
16
.000
.661
16
.000
.850
16
.014
.939
16
.331
NPA
.706
16
.000
.894
16
.065
SUB
.891
19
CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THÔNG QUA CHỈ SỐ Ij
(CHỈ SỐ CÔNG BỐ THÔNG TIN)
Mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các ngân
hàng thương mại được khảo sát đạt trung bình 76.2% hay nói cách
khác có hơn 23% thông tin không được công bố, chính vì sự không
đầy đủ nên ảnh hưởng đến sự minh bạch và chất lượng thông tin
được công bố.
3.2. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC
ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
3.2.1. Thống kê mô tả các biến độc lập trong mô hình
Khả năng sinh lời của các NHTM trong mẫu nghiên cứu đạt
trung bình 0.94%, chỉ số này giữa các NHTM chênh lệch rất lớn,
ngân hàng có mức khả năng sinh lời cao nhất là 1.97% (Ngân hàng
Quân Đội), nhưng ngược lại ngân hàng có khả năng sinh lời thấp
nhất là 0.16% (Ngân hàng Bắc Á). Về số lượng công ty con nắm giữ,
4 ngân hàng không có công ty con là Hdbank, Oceanbank, Pgbank,
Sacombank còn ngân hàng nắm giữ nhiều công ty con nhất là
Vietinbank (7 công ty con). Quy mô tài sản các ngân hàng đạt trung
bình hơn 176586 tỷ đồng trong đó Pgbank có quy mô nhỏ nhất
(19251 ty đồng) còn Vietinbank có quy mô lớn nhất (503530 tỷ
đồng). Hệ số CAR, NPA cũng có sự dao động khá lớn. Hệ số CAR
đạt trung bình 12.85% trong khi đó mức trung bình của NPA là 3.3%.
Về tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT, 3 ngân hàng không có
thành viên độc lập là BIDV, Hdbank, MB, ngân hàng có tỷ lệ thành
21
38.6% mức độ CBTT của doanh nghiệp. Kết quả này nhìn chung là
thấp so với các nghiên cứu về CBTT trong lĩnh vực ngân hàng trước
đây. Nghiên cứu của Mohammed Hossain (2008, trang 659-680) hệ
số R 2 = 0.538; kết quả nghiên cứu của Raoudha Dhouibi (2013) có
R 2 = 0.661; R 2 = 0.512 và R 2 = 0.8615 lần lượt là kết nghiên cứu
của Jameel và cộng sự (2013), và Abdallah AL-Mahdy M.D
Hawashe (2014). Tuy nhiên nếu so với kết quả nghiên cứu CBTT của
các doanh nghiệp niêm yết ngoài ngành ngân hàng thì kết quả này
cao hơn đáng kể. Trong nghiên cứu của Phạm thị Bích Vân (Tạp chí
ngân hàng 2012, trang 39-47) hệ số R 2 = 0.144. Nghiên cứu của
Phạm thị Thu Đông (Tạp chí khoa học kinh tế 2013, trang 63-70) hệ
số R 2 = 0.257. Kết quả nghiên cứu của Owusu-Ansah (1998, trang
619) có R 2 = 0.345 hay kết quả nghiên cứu của Waton và cộng sự
(2002, trang 289-313) hệ số R 2 = 0.23.
Ngoài ra, đây không phải là nghiên cứu duy nhất mà kết quả chỉ
cho thấy 1 nhân tố ảnh hưởng. Một số nghiên cứu trên thế giới cũng
cho kết quả một nhân tố ảnh hưởng bao gồm: Singhvi và Desai
(1971) tìm ra nhân tố duy nhất ảnh hưởng đến mức độ CBTT là tình
trạng niêm yết của công ty; McNally và cộng sự (1982), kết quả chỉ
đưa ra biến quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự
nguyện; Cooke (1989b), chỉ tìm ra được biến tình trạng niêm yết có ý
nghĩa thống kê trong các biến đưa vào; hay trường hợp của Chau và
Gray (2002), biến cấu trúc sở hữu là biến duy nhất ảnh hưởng đến
mức đô CBTT;
Mô hình nhân tố ảnh hưởng được biểu diễn như sau:
DISCL = 0.163 + 0.051lnSIZE
Thời gian hoạt động
AGE
+
K
3
Khả năng sinh lợi
ROA
+
K
SUB
+
K
4
Tính phức tạp của
ngân hàng
NPA
-
K
Trong đó (+): cùng chiều; (-) ngược chiều; (K) không ảnh hưởng.
CHƯƠNG 4
HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. HOÀN THIỆN CÁC NỘI DUNG THÔNG TIN CÔNG BỐ
Các ngân hàng cần hoàn thiện nội dung CBTT tài chính theo
đúng chuẩn mực kế toán và các văn bản thi hành. Các số liệu phải
phản ánh đúng bản chất nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
4.2. HOÀN THIỆN CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN
Các cơ quan quản lý có thẩm quyền phải xem xét xây dựng các
chỉ tiêu đánh giá cũng như các thang đo về mức độ CBTT của các
23
NHTM để có thể so sánh đánh giá mức độ đầy đủ thông tin công bố
của các NHTM.
4.3.TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT CÁC NGÂN HÀNG CÓ QUY
MÔ NHỎ, HOẠT ĐỘNG YẾU KÉM
4.4. TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC LẬP VÀ CÔNG BỐ THÔNG
TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Công tác kế toán của doanh nghiệp phải am hiểu nâng cao nghiệp
vụ chuyên mộn cũng như đạo đức nghề nghiệp của người làm công
tác kế toán.
4.5. TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP