CHƯƠNG III
SỰ CHUYỂN BIẾN CỦA XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ
KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
I. CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ VÀ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA
THỰC DÂN PHÁP
1. Chính sách thống trị của thực dân Pháp
Cùng với quá trình xâm lược và bình định Việt Nam, Lào, Campuchia,
thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy cai trị của chúng ở mỗi nước và chung
đối với ba nước.
Sau Điều ước 1862 và Điều ước 1874, Pháp tổ chức xứ Nam Kỳ thuộc
địa, đặt dưới quyền Bộ Hải quân và Thuộc địa. Sau Điều ước 1884, Pháp tổ
chức xứ Trung Kỳ “bảo hộ” và xứ Bắc Kỳ “nửa bảo hộ”, đặt dưới sự quản lý
của Bộ Ngoại giao. Với Đạo dụ ngày 13-2-1893, Chính phủ Pháp chủ trương
gộp ba xứ của Việt Nam và một xứ của Campuchia thành một khối gọi là Đông
Dương thuộc Pháp hay Đông Pháp. Ngày 3-10-1893, Pháp buộc vua Xiêm (Thái
Lan) thừa nhận quyền thống trị của Pháp ở Lào, biến thành xứ Ai Lao “bảo hộ”.
Đến tháng 4-1899, gộp thêm Lào vào Đông Dương thuộc Pháp. Như vậy, trong
thể thức chính trị quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia bị xoá bỏ để biến thành
năm xứ là Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Cao Miên, Ai Lao.
Từ năm 1894, khi Bộ Thuộc địa chính thức thành lập, việc cai trị của thực
dân Pháp ở Đông Dương hoàn toàn do bộ này phụ trách. Người Pháp đứng đầu
ba cấp: cấp liên bang, cấp kỳ và cấp tỉnh. Người đứng đầu Liên bang Đông
Dương gọi là Toàn quyền, đứng đầu Nam Kỳ là Thống đốc, Bắc Kỳ là Thống
sứ, Trung Kỳ là Khâm sứ, đứng đầu các tỉnh Nam Kỳ là Chủ tỉnh, Trung Kỳ và
Bắc Kỳ là Công sứ.
Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu (ở miền núi). Đứng đầu các cấp chính
quyền này là các tri phủ, tri huyện và tri châu. Dưới phủ, huyện, châu là các tổng
do chánh tổng, phó tổng cai quản. Dưới tổng là xã, thôn - đơn vị nhỏ nhất trong
hệ thống chính quyền của thực dân Pháp ở Việt Nam. Xã, thôn do lý trưởng và
cả ba kỳ nước ta chỉ có 10 vạn học sinh trên tổng số 20 triệu dân. Pháp duy trì
những phong tục lạc hậu, tuyên truyền lối sống ăn chơi, hưởng lạc trong các
tầng lớp thanh niên, làm cho họ lãng quên ý thức chính trị. “Pháp không những
đầu độc nhân dân An Nam bằng rượu và thuốc phiện, mà còn thi hành một
chính sách ngu dân triệt để”.
Bộ máy cai trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai chủ yếu dựa vào
sức mạnh quân sự, dùng vũ lực đàn áp cuộc đấu tranh đòi tự do, giành độc lập
dân tộc của nhân dân ta. Chính sách “chia để trị” được thực dân Pháp thực hiện
triệt để ở Việt Nam. Ngoài việc chia cắt nước ta làm ba xứ với chế độ luật pháp
riêng biệt, chúng còn dùng thủ đoạn chia rẽ dân tộc, chia rẽ lương giáo... nhằm
phá hoại khối đoàn kết chiến đấu của dân tộc và giữa ba dân tộc Đông Dương
trong đấu tranh chống kẻ thù chung.
Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ ở châu Âu và nhanh
chóng lan rộng toàn thế giới, lôi cuốn nhiều nước đế quốc và thuộc địa của
chúng tham gia. Chiến tranh đã buộc Pháp phải thay đổi một số chính sách đối
với Việt Nam.
Về chính trị, Pháp mở rộng một phần quyền hạn cho chính phủ Nam triều,
ban bố Luật mới nhằm chấn chỉnh lại chế độ quan trường, cải tiến một số hương
tục ở thôn xã. Trong 4 năm 1914-1918, Pháp đã huy động 92.903 người Đông
Dương (chủ yếu là Việt Nam) vào quân đội. Chúng bắt nhân dân ta phải mua
quốc trái, đóng góp số tiền 450 triệu Phrăng Pháp. Chúng khai thác 336 nghìn
tấn nông lâm sản Việt Nam để đưa về Pháp.
Mục đích cải cách chính trị của thực dân Pháp là nhằm tăng cường bóc lột
thuộc địa, huy động tối đa sức người, sức của, huy động mọi tiềm năng của
thuộc địa để phục vụ cho cuộc chiến tranh. Biện pháp của chúng là xoa dịu, mua
chuộc một số tầng lớp thượng lưu, quan chức bản xứ hòng xây dựng cơ sở xã
hội vững chắc ở các làng xã Việt Nam.
Về đối ngoại, thực dân Pháp nới rộng quyền lực cho Toàn quyền Đông
Dương, tăng cường hoạt động ngoại giao với Trung Quốc và các nước trong khu
a. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897-1914)
Năm 1897, P.Đume, nguyên Bộ trưởng Bộ tài chính Pháp được cử làm
Toàn quyền Đông Dương, với nhiệm vụ hoàn thiện bộ máy cai trị, thực hiện
chính sách kinh tế và văn hoá thực dân, tiến hành khai thác, bóc lột thuộc địa lần
thứ nhất.
Khâu chủ yếu trong chính sách khai thác thuộc địa của Đume là đầu tư
vào một số ngành kinh tế để khẳng định vị trí của chủ nghĩa tư bản Pháp ở Việt
Nam. Mới đầu, với số vốn đầu tư còn hạn chế, tư bản Pháp dành cho khai thác
mỏ ở Hòn Gai, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Quảng Nam... Chúng cũng bắt đầu
xây dựng một số cở sở công nghiệp nhằm phục vụ cho đời sống của giới thực
dân như điện, nước, bưu điện... Để khai thác thuộc địa được nhiều lợi nhuận,
chúng thi hành chính sách cho vay nặng lãi đối với nhân dân Đông Dương. Phần
lớn số tiền vây đều được chuyển hoá thành các thiết bị máy móc, hàng hoá của
Pháp. Pháp quản lý chỉ một đầu mối phát hành giấy bạc và giữ tiền là Ngân hàng
Đông Dương. Ngân hàng này có cơ sở ở nhiều tỉnh, thành phố, chèn ép các ngân
hàng nước ngoài khác và bắt nông dân vay nợ với lãi suất rất cao. Cho vay nặng
lãi là một trong những chính sách bóc lột tàn bạo của tư bản Pháp ở mọi nơi, kể
cả ở Đông Dương và Việt Nam.
Một trọng tâm nữa trong chương trình khai thác thuộc địa của Pháp là mở
mang giao thông, xây dựng đường sá, cầu cống, bến cảng, vừa nhằm mục đích
kinh tế, vừa nhằm mục đích quân sự. Pháp sử dụng số vốn công trái Đông
Dương vay được vào phát triển giao thông vận tải. Pháp đã cho xây dựng hơn
20.000 km đường bộ, 14.000 km đường dây điện thoại nối giữa các tỉnh. Pháp
cho khai thông vận tải trên các sông lớn như Hậu Giang, sông Hồng, sông Thái
Bình, cho đào thêm kênh Vĩnh Tế, Vĩnh An và phát triển tuyến đường sắt Sài
Gòn – Mỹ Tho, Hà Nội – Lạng Sơn, Hải Phòng – Vân Nam. Pháp mỏ rộng và
nâng cấp con đường bộ số 1, xây dựng nhiều cầu lớn như cầu Long Biên (Hà
Nội), cầu Trường Tiền (Huế), cầu Bình Lợi (Sài Gòn)..., nhiều cảng quan trọng
các thực dân khác. Chính sách đó quán triệt nguyên tắc là không phát triển công
nghiệp nặng, biến nước ta thành thị trường cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ
hàng hoá cho chính quốc.
b. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt Nam
(1919-1929)
Tháng 11-1918, chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc. Ngày 18-11919, đại diện của các nước đế quốc thắng trận đã họp ở Vecxây (Pháp) để ký
kết văn bản phân chia lợi lộc sau chiến tranh. Pháp thuộc phe thắng trận, nhưng
đất nước bị tàn phá nặng nề, kinh tế giảm sút nghiêm trọng. Pháp trở thành con
nợ của nhiều nước tư bản khác. Để nhanh chóng hàn gắn hậu quả chiến tranh,
khôi phục địa vị của mình, thực dân Pháp ra sức bóc lột lao động trong nước và
đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa, trong đó Việt nam được coi là trọng điểm.
Ngay sau chiến tranh, nhất là từ năm 1924, thực dân Pháp đã đầu tư vào
Việt nam với tốc độ và quy mô gấp nhiều lần so với trước năm 1924. Chỉ trong
vòng 6 năm (1924-1929), tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam tăng gấp 6 lần số
vốn đầu tư trong 20 năm trước chiến tranh. Lúc đó có 50 công ty nông nghiệp,
46 công ty công nghiệp, 19 công ty mỏ, 31 công ty thương nghiệp đầu tư tổng số
vốn trên 4 tỷ Phrăng vào Việt Nam. Tất cả những công ty này đều chịu sự kiểm
soát và chi phối của ngân hàng Đông Dương.
Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, tư bản Pháp bỏ vốn nhiều
vào ngành mỏ, giao thông vận tải, thương nghiệp và nông nghiệp. Trong cuộc
khai thác lần này, tư bản Pháp không chỉ tăng vốn đầu tư mà còn mở rộng quy
mô, tập trung đầu tư vào nông nghiệp, ngành mỏ, công nghiệp chế biến, giao
thông vận tải... Số lượng và cơ cấu đầu tư trên cho thấy sự tăng cường chính
sách độc quyền và tính chất vụ lợi của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Về nông nghiệp, thực dân Pháp tăng cường đoạt ruộng đất. Mở thêm đồn
điền để tăng thu nông phẩm xuất khẩu. Khi bắt đầu xâm lược đến năm 1912,
thực dân Pháp cướp đoạt 469.729 ha ruộng đất ở Việt Nam. Mười năm sau chiến
tranh thế giới thứ nhất, số ruộng đất bị cướp thêm là 775.700 ha. Tổng số ruộng
hai đến ba lần so với bán ở các nước khác. Pháp lập hàng rào thuế quan ngặt
nghèo với hàng hoá nhập từ các nước khác.
Về tài chính, một trong những công cụ bóc lột quan trọng nhất của thực
dân Pháp vẫn là sử dụng ngân hàng Đông Dương. Ngân hàng này là cơ quan chỉ
huy tín dụng đối với tất cả các ngành kinh tế. Nó nắm độc quyền phát hành giấy
bạc và cho vay nặng lãi. Từ năm 1925 đến 1930, ngân hàng này còn tổ chức
thêm 19 ngân hàng nông khố để cho nông dân vay. Ngân hàng Đông Dương còn
có nguồn thu từ các loại thuế, chủ yếu là thuế trực thu và thuế gián thu. Từ năm
1919 đến 1921, thực dân Pháp bắt mọi người dân bản xứ từ 18 đến 60 tuổi đều
phải đóng thuế thân 2,5 đồng, riêng Nam Kỳ, năm 1929 thuế tăng lên 7,5 đồng.
Thuế gián thu (thuế rượu, muối, thuốc phiện), năm 1920, Pháp thu tới 27 triệu,
năm 1929 tăng lên 38 triệu đồng. Mỗi dịp thu thuế, ở thành thị cũng như ở nông
thôn đều xảy ra sự bắt bớ, khám xét rất bất công, gây nên nhiều cảnh thảm
thương...
Về giao thông vận tải, do yêu cầu của công cuộc khai thác, bóc lột và mục
đích quan sự, Pháp cho xây dựng thêm 250 km đường sắt, đoạn Vinh- Đông Hà,
Đồng Đăng- Na Sầm; rải đá 15.000 km đường bộ... Ngoài cảng Sài Gòn và Hải
Phòng, Pháp còn xây dựng thêm cảng mới Hòn Gai, Cẩm Phả, Đà Nẵng. Pháp
huy động hàng vạn dân đinh, phát hành hàng chục triệu đồng công trái để phát
triển mạng lưới giao thông.
Thực dân Pháp thực hiện chính sách phát triển kinh tế thuộc địa Việt Nam
mất cân đối, phụ thuộc vào chính quốc, thi hành chính sách chính trị phản động,
chính sách ngu dân về văn hoá xã hôi. Toàn bộ những tội ác đó đã vạch trần luận
điệu lừa bịp “khai hoá văn minh” của chúng. Tội ác đó đã được lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc trình bày đầy đủ trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất
bản năm 1925 tại Pháp.
II. NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ KINH TẾ – XÃ HỘI VIỆT NAM
1. Những biến đổi về kinh tế
2. Những biến đổi về xã hội
Chính sách kinh tế, cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp không chỉ
có tác động và ảnh hưởng đến tình hình kinh tế Việt Nam mà còn gây những
biến đổi mạnh mẽ về xã hội ở Việt Nam, làm phân hoá giai cấp xã hội cũ, nảy
sinh những lực lượng xã hội mới.
Sự biến chuyển trong chế độ sở hữu ruộng đất thể hiện rõ nhất ở nông
thôn Việt Nam. Nông dân Việt Nam khoảng 90% dân số lúc đó. Chính sách
chiếm ruộng để phát canh thu tô đã làm cho nông dân phá sản, đi làm thuê trong
các mỏ, đồn điền hoặc đi phu ngày càng đông. Họ bị đế quốc, phong kiến, địa
chủ và tư sản áp bức, bóc lột... nên có nhiều mâu thuẫn sâu sắc với đế quốc và
phong kiến.
Thực dân Pháp vẫn duy trì địa chủ ở nông thôn làm cơ sở cho bóc lột. Do
đó, giai cấp địa chủ phong kiến nay đông đảo hơn và bị phân hoá thành tiểu,
trung và đại địa chủ. Trong đó, bộ phận nhỏ là đại địa chủ, giàu có lên nhờ dựa
vào Pháp, chống lại cách mạng. Bộ phận lớn là trung tiểu địa chủ, bị đế quốc
chèn ép, đụng chạm tới quyền lợi, nên ít nhiều có tinh thần chống đế quốc, tham
gia phong trào yêu nước khi có điều kiện.
Ngoài hai giai cấp trên, từ trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, ra
đời một giai cấp mới – giai cấp công nhân. Đó là những người lao động làm việc
trong các hầm mỏ, đồn điền, công trường, xí nghiệp công nghiệp, các ngành
giao thông. Năm 1906, ở Nam Kỳ có 2.500 công nhân, trung Kỳ có 4.500 công
nhân, ở Bắc Kỳ có 2000 công nhân. Năm 1914 công nhân cả nước có khoảng 10
vạn nhưng tăng lên khá nhanh. Công nhân Việt Nam, vừa bị tư bản Pháp bóc lột
về kinh tế, vừa phải chịu thân phận của người dân mất nước, cho nên sớm có
tinh thần đấu tranh chống đế quốc và phong kiến. Họ sớm có tinh thần đoàn kết,
gắn bó với nông dân. Cùng với qua trình phát triển của lịch sử, họ có đủ điều
kiện để trở thành một giai cấp độc lập. Tuy nhiên, giai cấp công nhân Việt Nam
đầu thế kỷ vẫn còn non trẻ, đang ở trình độ “tự phát”, đấu tranh chử yếu nhằm
trung gian cho tư bản Pháp, khi đã kiếm được số vốn khá, đứng ra kinh doanh
riêng, lập công ty một số ngành công thương, trở thành nhà tư sản. Tuy nhiên,
giai cấp tư sản Việt Nam vừa mới ra đời đã bị ngay tư sản Pháp chèn ép, kìm
hãm, làm lệ thuộc, nên số lượng ít, thế lực kinh tế yếu, nặng về thương nhiệp,
không đương đầu nổi với sự cạnh tranh của tư bản Pháp. Vốn tư bản Việt Nam
chỉ bằng 5% vốn tư bản nước ngoài.
Giai cấp tư sản Việt Nam phát triển đến mức độ nhất định đã phân hoá
thành hai bộ phận. Một bộ phận là tư sản mại bản có quyền lợi gắn với đế quốc,
nên câu kết chặt chẽ về chính trị với chúng, chống lại dân tộc. Một bộ phận khác
là tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh độc lập, phát triển kinh tế dân
tộc, nên ít nhiều có tinh thần dân tộc, dân chủ chống đế quốc và phong kiến
phản động, nhưng lập trường không kiên định, dễ dàng thoả hiệp, cải lương khi
đế quốc mạnh.
Giai cấp tiểu tư sản cũng bị đế quốc bạc đãi, khinh rẻ, đời sống bấp bênh,
gặp khó khăn, dễ đứng trước nguy cơ bị phá sản hoặc thất nghiệp. Phần đông
trong giai cấp này là những trí thức, sinh viên, học sinh. Trong xã hội họ là bộ
phận có điều kiện tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng, văn hoá tiến bộ bên ngoài,
nên nhạy bén với tình hình chính trị, có tinh thần cách mạng, hăng hái đấu tranh,
và là một lực lượng quan trọng trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta.
Giai cấp nông dân tiếp tục là nạn nhân trực tiếp của chính sách chiếm đoạt
ruộng đất, chính sách sưu thuế, địa tô, phu phen, tạp dịch dưới chế độ thực dân
phong kiến. Họ tiếp tục bị bần cùng hoá và phá sản trên quy mô lớn. Tuy nhiên,
quá trình bần cùng hoá của giai cấp nông dân Việt Nam diễn ra không giống như
nhiều bước tư bản trên thế giới, nghĩa là quá trình đó không đi liền với quá trình
công nhân hoá toàn bộ. Bởi vì, số đô thị và trung tâm công nghiệp mọc ra không
nhiều, trong lúc số nhân công “dư thừa” ở nông thôn luôn đầy ắp. Chỉ có bộ
phận nhỏ rời làng quê tìm được việc làm, được thu nhận vào làm trong các nhà
máy, hầm mỏ, đồn điền, còn bộ phận lớn phải ở lại làng quê sống cuộc đời tá
tại hai mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ
nghĩa thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giữa
nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa
toàn thể dân tộc ta với bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Độc lập dân tộc và
người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam thuộc địa nửa
phong kiến, nhưng độc lập dân tộc là yêu cầu chủ yếu trước mắt, phản ánh
nguyện vọng bức thiết của các tầng lớp, giai cấp trong dân tộc. Những thay đổi
đó đã tạo ra những điều kiện bên trong cho một cuộc vận động giải phóng dân
tộc theo hướng mới từ đầu thế kỷ XX.