Lý luận văn học
1. Văn học nhận thức, phản ánh đời sống con người
Cũng như hội họa, ca nhạc, điêu khắc… văn học là một môn nghệ thuật. Đối
tượng của văn học là con người – con người trong học tập, lao động, chiến đấu, con
người trong tình yêu và những mối quan hệ xã hội khác, con người trong không gian
thời gian với thiên nhiên, vũ trụ. Nói văn học là nhân học, đúng thế. Văn học không
chỉ phản ánh đời sống con người mà còn phải nhận thức con người và đời sống con
người, nói lên những ước mơ, khát vọng, những tâm tư, tình cảm của con người
trong chiều sâu tâm hồn với sự đa dạng, phong phú.
Chỉ đến lúc nào đó văn học mới là văn học đích thực khi văn học thể hiện được sự
khám phá và sáng tạo, có những kiến giải hay và đẹp về con người và đời sống con
người.
“Ramayana” có 24.000 câu thơ đôi, “Tam quốc diễn nghĩa” với hàng triệu chữ,
bài thơ “Cây chuối” của Nguyễn Trãi, bài thơ tình của Xuân Diệu… đó là văn học.
2. Văn học là sự thể hiện tinh tế tư tưởng và tình cảm, ước mơ và khát vọng,
quan điểm và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn đối với con người và cuộc sống. Mỗi
trang văn, mỗi bài thơ (đích thực) dù nói về gì, đề tài gì rộng lớn hay bé nhỏ đều
thể hiện lòng yêu, sự ghét của tác giả, thể hiện một quan điểm nhân sinh hoặc
lên án cái ác, hoặc ca ngợi tình yêu, đưa tới sự hướng thiện, cái cao cả, cái đẹp
của thiên nhiên và con người. Văn học mang tính khuynh hướng rõ rệt.
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần dân chịu được
(Nguyễn Trãi)
“Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
1
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm,
Hội họa dùng màu sắc, đường nét… âm nhạc diễn tả bằng âm thanh, tiết tấu…
điêu khắc dùng chất liệu (kim loại, đá, gỗ...) tạo nên hình khối, đường nét v.v… Còn
văn học phải diễn tả bằng ngôn từ. Mỗi tác phẩm văn học phải được gắn liền với
một thứ ngôn ngữ và văn tự (gốc) nhất định. Ngôn ngữ, văn tự là công cụ của nhà
văn. Nhà văn Nguyễn Tuân được ca ngợi là bậc thầy về ngôn ngữ. Văn của ông là tờ
hoa, là trang văn. Hồ Chí Minh viết văn làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ, bằng tiếng Pháp,
bằng chữ Hán. Thật là kì tài.
2. Những đặc điểm của ngôn từ văn học
Nhà văn nhà thơ phải sử dụng ngôn từ và trau chuốt nó, tạo thành một thứ ngôn
ngữ văn chương giàu có, sang trọng, đẹp đẽ. Ngôn ngữ văn học có những đặc điểm
sau:
- Tính hệ thống
- Tính chính xác
- Tính truyền cảm
- Tính hình tượng
- Tính hàm súc, đa nghĩa
- Tính cá thể hoá
Trong đó, tính chính xác, tính truyền cảm, tính hình tượng là cực kỳ quan trọng.
3
Nói rằng “Văn hoa dã chất chi đối”, “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” là
như vậy. Kim Trọng khen Kiều khi nàng làm một bài thơ viết lên bức tranh Kim
Trọng mới vẽ:
“Khen tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này!”
Nhà văn sử dụng ngôn từ để xây dựng hình tượng văn học. Vì thế đọc sách hoặc
phân tích thơ văn không được thoát li văn bản và ngôn từ
3. Tính chất “phi vật thể” của chất liệu ngôn từ và khả năng diễn tả đặc biệt
phong phú của nghệ thuật ngôn từ
Cái xào xạc, hồn anh chính là xào xạc lá
Nó không là anh, nhưng nó là mùa…”
(“Sổ tay thơ – Đối thoại mới)
Nhà văn phải khám phá và sáng tạo, không theo đuổi người. Không tô
hồng cũng không bôi đen hoặc sao chép hiện thực. Nhà văn cũng không
được lặp lại mình. “Văn chương quý bất tùy nhân hậu” (Hoàng Đình
Kiên đời Tống”.
2 Những nhân tố cần có đối với một nhà văn
Một vạn học sinh đỗ tú tài, sau 5, 6 năm học tập ở đại học có thể đào
tạo thành những kĩ sư, bác sĩ… nhưng rất ít hoặc không thể đào tạo
thành nhà văn. Có một hiện tượng kỳ lạ là trong xã hội ta ngày nay sao
mà nhiều “nhà thơ” thế. Thật ra đó là những “thi sĩ – vè”, “thi sĩ – con
5
cóc”,… Lênin từng nói: “Trong lĩnh vực nghệ thuật, không có chỗ đứng
cho kẻ trung bình”. Vậy nhà văn cần những nhân tố gì?
– Phải có năng khiếu, có tài.
– Phải có cái tâm đẹp. (chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” – Kiều)
– Phải có vốn văn hóa rộng rãi (có học). Học vấn thấp hạn chế chẳng
khác nào đất ít mầu mỡ, cây kém xanh tươi, hoa trái chẳng ra gì.
– Phải có vốn sống như con ong giữa rừng hoa. Phải sống hết mình.
– Phải có một lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp: sống và viết vì chủ nghĩa
nhân văn.
– Phải có tay nghề cao. Xuân Diệu gọi đó là “bếp núc làm thơ”.
– Ngoài ra còn có một điều kiện khách quan ấy là môi trường sáng
tác. Nhà văn phải được sống trong tự do, dân chủ, phải có vật chất tạm
đủ (cơm áo không đùa với khách thơ) …
– Với nhà văn, kiêng kị nhất là thói kiêu ngạo, xu nịnh bợ đỡ… Vì thế
văn chương có ngôi thứ: kẻ làm thơ, nhà thơ, thi nhân, thi sĩ, thi hào, đại
đời. Văn chương, văn hiến, văn hóa là niềm tự hào của mỗi quốc gia.
Nhà văn phải là người sống sâu với cuộc đời do đó hết sức nhạy cảm với
vấn đề xã hội và những vấn đề ấy thôi thúc khiến nhà văn biến chúng
thành cảm hứng. Tuy nhiên để có những tác phẩm lớn người viết cẩm
phải có những tư tưởng, quan niệm và phải có năng khiếu nghệ thuật đó
là sự tưởng tượng và những kĩ năng sáng tạo”.Bình luận ý kiến trên.
Đề văn
7
Nhà văn phải là người sống sâu với cuộc đời do đó hết sức nhạy cảm
với vấn đề xã hội và những vấn đề ấy thôi thúc khiến nhà văn biến
chúng thành cảm hứng. Tuy nhiên để có những tác phẩm lớn người
viết cẩm phải có những tư tưởng, quan niệm và phải có năng khiếu
nghệ thuật đó là sự tưởng tượng và những kĩ năng sáng tạo”.Bình
luận ý kiến trên.
Bài làm
Ý kiến có thể nói đó là một bao quát chung về tất cả mọi hoạt động
của nhà văn và họ phải thật sự là một con người với tất cả tình cảm, lí
trí, sự tưởng tượng... cho nghề nghiệp của mình!
Chúng ta cần biết rằng “chủ thể sáng tạo” của một tác phẩm phải có
thế giới quan và nhân sinh quan, cả hai bổ sung cho nhau, hòa quyện vào
nhau để tạo nên cách nhìn. Đó là “đôi mắt tình thương”, là lòng nhân
đạo của tác giả về cuộc sống và con người, nó là tư tưởng của tác phẩm:
Một Nguyên Hồng nhân đạo đã để lại cho nhân vật Huệ Chi chết – một
cái chết thanh thản và đầy đức tin nơi đấng Chúa...Và mỗi nhà văn họ
đều nhìn nhân vật của mình một cách khác nhau. Nam Cao nhìn người
nông dân có tính hệ thống riêng, ông trân trọng nhân vật của mình và vì
tài,khoét sâu vào đề tài thì ngược lại ở thiên tài họ Vũ là khả năng bao
quát đề tài – là chiều rộng chứ không phải chiều sâu, là cái “rộng” của
những mặt trái của xã hội thành thị lúc ấy. Cho nên ta thường thấy văn
chương bi kịch thường sâu, thường đi vào tim của con người để rồi tìm
thấy ở đấy một giọt nước mắt, một sự “bi” trong số phận của nhân vật,
để rồi cảm thông, thương xót nhân vật; còn văn chương trào lộng thì
thường lôi bản chất sự vật lên bề nổi để phê phán, để tìm ở đấy những
tiếng cười chua chát và mỉa mai một xã hội thối nát, một nhân cách đê
mạt...
Nhà văn phải là người sống sâu với cuộc đời “tức là nhà văn phải thấu
hiểu cả mọi ngõ ngách của cuộc đời, phải tận hiểu mọi cái biến thái từ
vật chất đến con người, từ đồ vật đến động vật, từ tâm lí đến tình
cảm...Nói chung nhà văn phải thật sự “sống” cuộc sống mà tác phẩm cần
viết, nhà văn phải hòa nhập vào “cuộc đời” của tác phẩm – mà cuộc
sống đã ban phát. Nam Cao thường nắm bắt bản chất sự việc cho nên cốt
truyện hiện thực không rắc rối nhưng tình huống trong đời sống nội tâm
rất căng thẳng, bởi vì Nam Cao thường là “sống sâu” đi sâu vào cuộc
sống của nông dân, thường khoét sâu vào những nỗi đau của những con
người bần cùng của xã hội, cho nên văn chương của ông bắt người đọc
phải suy ngẫm rất nhiều, rất nhiều...và cũng bởi vì sống sâu cho nên họ
Vũ đã phát hiện ra sự tha hóa của bọn thượng lưu. Bọn chúng bịa ra một
thằng Xuân tóc đỏ rồi đi tin nó và đã để cho nó ngồi lên, chà lên mặt của
nhiều người. Khi đã sống sâu với cuộc sống thì đời nhà văn “hết sức
9
nhạy cảm với vấn đề xã hội”, bởi vì xã hội là một quan hệ phong phú và
đa dạng của người với người cho nên vấn đề xã hội nó có ý nghĩa phổ
quát và văn chương bây giờ vượt lên giới hạn của nó. Nam Cao sống với
cuộc sống của người nông đân cho nên ông rất “ nhạy” với sự cùng cực
được chính mình: Thế giới bên trong có thể phong phú hơn, mạnh mẽ
10
hơn, nắm bắt được bản ngã biết đâu con người lại hạnh phúc hơn!Nhưng
tác phẩm ấy cũng chính để nói lên cái suy nghĩ của nhà văn với cuộc
kiếm tìm vất vả và tư tưởng, chủ đề tác phẩm của mình. Cuộc kiếm tìm
ấy bằng chính mồ hôi, nước mắt, bằng máu và cả lòng dũng cảm.
Và để có những tác phẩm lớn, người viết cần phải có năng khiếu nghệ
thuật, đó là sự tưởng tượng và những kĩ năng sáng tạo. Cho nên để hiểu
rằng không phải ai cũng ngẫu nhiên sẽ trở thành một nhà văn, mà nó đòi
hỏi ở người muốn làm nhà văn có một năng khiếu riêng - năng khiếu
nghệ thuật! Chuyện văn chương quả là không dễ, cũng như là một bọc
trăm trứng của Âu Cơ - thì chỉ có một Nguyễn Du, Nguyễn Du là quả
trứng “lép” ấy (Chế Lan Viên đã viết về Nguyễn Du : “Trong trăm trứng
Âu Cơ anh là trứng lép. Anh nở ra thành một thi nhân”). Năng khiếu
nghệ thuật đó chính là sự tưởng tượng và những kĩ năng sáng tạo của
nhà văn. Vi hành là chuyện thật hay bịa? Chỉ có một bộ óc tưởng tượng
thông minh sắc sảo mới có thể viết lên, vẽ lên một đôi trai gái trên
chuyến tàu Pháp như vậy, họ nói chuyện với nhau về một người khác địa
vị, khác màu da...Có thể nói Vi hành là một ví dụ hết sức độc đáo về sức
tưởng tượng phong phú tuyệt đỉnh của Nguyễn ái Quốc và bên cạnh sự
tưởng tượng ấy là sự sáng tạo cụ thể trong văn chương có thể nói đó là
“kĩ năng sáng tạo” trong chuyện “bếp núc” của nhà văn, đó là sự khó
nhọc của người viết, để có một sự độc đáo riêng, một phong cách riêng
cho chính mình. Huy Cận đã phải rất cực nhọc, nhẫn nại trong việc chọn
các hình ảnh cho câu thơ của mình:
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Tác giả đã từng thử bút bằng các hình ảnh: “Cánh bèo trôi, cánh bèo
đơn”,”chút bèo đơn “gót bèo xanh”,”gỗ lạc rừng xa”, “củi một cành
sáng tác tiếp được bài thơ, Lê Quý Đôn cho rằng: “Thơ phát khởi từ
trong lòng người ta” và Ngô Thì Nhậm cũng đã nhấn mạnh : “Hãy xúc
động hồn thơ cho ngọn bút có thần”. Vậy chúng ta thử tìm hiểu xem
sao?
Thường thì khi nói đến thơ là người ta múôn nhấn mạnh đến vai trò
tình cảm của thơ. Nó là một trong những yếu tố cơ bản trong quá trình
sáng tacs thơ. Bởi lẽ thơ là sự giao cảm tâm hồn giữa con người với
nhau, cho nên không phải ngẫu nhiên mà Lê Quý Đôn cho rằng : “thơ
phát khởi từ trong lòng người ta”.
Con người làm thơ để làm gì? Thường htì khi người ta làm thơ khi
có nhu cầu bộc lộ tình cảm, muốn bày tỏ tình cảm tâm tư, tình cảm của
mình để người khác có thể thông cảm và hiểu đựơc phần nào của mình.
Thơ là thể loại trữ tình , cho nên khi sáng tác , nhà nghệ sĩ phỉa có những
rung động thật sự trước cuộc sống, trước cái đẹp. Nhà hoạ sĩ múôn tạo
một bức trang hoàn hảo, không phải trong một phút, một giây, một
12
khoảnh khắc mà có thể làm được, có khie cả mấy tháng ngồi vẽ hoài mà
cũng vẫn không làm được. Có khi chỉ cần một chút gì đó làm rung động
thì cảm hứng vọt trào và tất nhiên sẽ tạo ra một bức tranh thật đẹp
Nếu không có rung động, không có cảm xúc thì sẽ không thể nào
tạo nên một bài thơ, mà có được thì thơ chỉ có xác, không có hồn. Chính
vì thế mà Ngô Thì Nhậm đã nói “ Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút
có thần”. Bãn hãy để tự “nàng thơ” tìm đến mình, chứ đừng có đi van
cầu, gõ cửa “nàng” sẽ không tiếp đâu.
Khi đọc một bat thơ ,trước mắt bạn không chỉ hiện ra khung cảnh
thiên nhiên, cuộc sống với những buồn vui lẫn lộn mà qua đó bạn sẽ
tấhy được đôi điều về tâm sự của tác giả. Đó chính là những tâm sự , suy
nghĩ, những nỗi niềm của chính tác giả. Bài thơ bao gồm nhiều yếu tố
Miệng nói chẳng nên lời
Họ gần nhau như lại không thể nào tâm sự, nói chuyện cùng nhau,
và thật cảm động thay trước tấm chân tình của Bác khi Bác chợt nhận ra,
họ tâm sự bằng mắt:
Nói lên bằng khoé mắt
Chưa nói, lệ tuôn đầy
Tình cảnh thật đáng thương
Nói đến thơ là nói lên sự đồng cảm của nhà thơ đối với cái đẹp, với
con người trong cuộc sống quanh mình. Mà hễ nói đến sự đồng cảm là
nói đến gốc thiện cảu tình cảm, hiểu theo cách khác; đó chính là tấm
lòng nhân dân là cái “tâm” của nhà thơ. Vì sao mà thơ của Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến, Hồ Chí Minh... cứ sống
mãi trong lòng mọi người, sống mãi với thời gian? Phải chăng các bậc
tiền nhân ấy là những người có tài sáng tác thơ hay? Có lẽ điều đó chỉ
đúng một phần. Lê Quý Đôn cho rằng : “Thơ phát khởi từ trong lòng ta”.
Nếu lòng ta trơ lạnh thì làm sao có thơ hay? Điều đó giải thích vì sao
Nguyễn Du nói :
Thiện căn ở lại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Nhà thơ, trước hết phải có cái tâm, phải có một tấm lòng đôn hậu,
biết quý trọng, thông cảm, san sẻ những nỗi đau của người khác. Không
có chữ Tâm thì cái tài kia cũng trở nên vô dụng. Mở rộng vấn đè, ta thấy
mỗi nhà văn, nhà thơ một khi đã cầm bút thì phải có trách nhiệm, trách
nhiệm với xã hội, với người tiếp xúc với tác phẩm của mình.
Nhìn chung trong sáng tác thơ, các tác giả đều chú trọng đề cập đến
cái gốc tình cảm, phỉa có “cái gốc tình cảm của thơ” thì thơ mới đi vào
lòng người được. Tố Hữu đã có lần nhấn mạnh “ Thơ là nhịp điệu hồn đi
tìm những hồn đồng điệu, thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói
đồng chí...”Rõ ràng quan niệm về thơ của Lê Quý Đôn và Ngô Thì
Nhậm cho đến nay vẫn mang một ý nghĩa nhất định với công việc sáng
của mình. Đối tượng của văn học là cuộc sống cho nên mỗi nhà văn dều
có khả năng chiếm lĩnh một phạm vi đề tài chứ không phải là một nhà
văn phải “lấy” tất cả mọi đề tài từ cuộc sống ngồn ngộn, bởi cuộc sống
thì muôn màu, muôn vẻ, cả ngàn đề tài về con người đất nước, cuộc
sống, tri thức, nông dân... Nếu một nhà văn tự “ôm” hết tất cả mọi đề tài
ấy vào trong tác phẩm của mình thì văn chương lúc ấy sẽ sơ sài, sẽ xô
bồ, sẽ mất đi cái chất văn chương mà lúc ấy chỉ còn là một bài phóng sự,
15
một bài báo không hơn không kém! Có thể thấy rằng, Nam Cao quan
tâm đến nông dân và trí thức và khi nói về nông dân ông hiểu rất sâu sắc
vào vấn đề ấy nên ông đã thật sự tạo nên một tác phẩm văn chương độc
đáo: Một Chí Phèo ra đời từ đề tài về người nông dân! Và Vũ Trọng
Phụng lấy đề tài từ xã hội tư sản thành thị với mặt trái của nó cho nên
một tuyệt tác “văn chương ra đời” – Số đỏ đã đưa ông lên một đỉnh cao
của một nhà văn “trào phúng hiện thực”! Nếu Nam Cao đi sâu vào đề
tài,khoét sâu vào đề tài thì ngược lại ở thiên tài họ Vũ là khả năng bao
quát đề tài – là chiều rộng chứ không phải chiều sâu, là cái “rộng” của
những mặt trái của xã hội thành thị lúc ấy. Cho nên ta thường thấy văn
chương bi kịch thường sâu, thường đi vào tim của con người để rồi tìm
thấy ở đấy một giọt nước mắt, một sự “bi” trong số phận của nhân vật,
để rồi cảm thông, thương xót nhân vật; còn văn chương trào lộng thì
thường lôi bản chất sự vật lên bề nổi để phê phán, để tìm ở đấy những
tiếng cười chua chát và mỉa mai một xã hội thối nát, một nhân cách đê
mạt...
Nhà văn phải là người sống sâu với cuộc đời “tức là nhà văn phải thấu
hiểu cả mọi ngõ ngách của cuộc đời, phải tận hiểu mọi cái biến thái từ
vật chất đến con người, từ đồ vật đến động vật, từ tâm lí đến tình
cảm...Nói chung nhà văn phải thật sự “sống” cuộc sống mà tác phẩm cần
nhau để tạo nên cảm hứng đặc biệt cho nhà văn và gián tiếp cho cả tác
phẩm văn chương ấy. Nhà văn thấy số phận của nhân vật giống như
chính số phận của mình, thấy sự đau khổ của nhân vật và mình giống
nhau, hoặc nhà văn thấy sự bứt rứt của nhân vật chính là nỗi đau dai
dẳng ở mình thì lúc ấy chính là sự đồng điệu, lúc ấy tình cảm và lí trí
của tác giả hòa nhập vào nhau và nó tạo thành một cảm hứng thực sự
độc đáo, nó gây phấn khích cho nhà văn sáng tạo. Tuy nhiên để có
những tác phẩm lớn, người viết cần phải có những tư tưởng, quan niệm.
Những tư tưởng, quan niệm ấy nó như là một sự “tiên quyết” cho sự
trường tồn của chính tác phẩm ấy. Cho nên, chúng ta thường thấy đôi lúc
tư tưởng quan niệm được phát biểu một cách trực tiếp, “Chao ôi, nghệ
thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa
dối; nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp
lầm than...” (Nam Cao) và đôi lúc tư tưởng quan niệm ấy được phát biểu
một cách gián tiếp có thể thấy tác phẩm: “Ông già và biển cả” là một
trường dụ. Sự chiến thắng nhưng ý nghĩa thực là một thất bại: - Con
người có thể chinh phục được thế giới bên ngoài nhưng không vượt qua
được chính mình: Thế giới bên trong có thể phong phú hơn, mạnh mẽ
hơn, nắm bắt được bản ngã biết đâu con người lại hạnh phúc hơn!Nhưng
tác phẩm ấy cũng chính để nói lên cái suy nghĩ của nhà văn với cuộc
kiếm tìm vất vả và tư tưởng, chủ đề tác phẩm của mình. Cuộc kiếm tìm
ấy bằng chính mồ hôi, nước mắt, bằng máu và cả lòng dũng cảm.
Và để có những tác phẩm lớn, người viết cần phải có năng khiếu nghệ
17
thuật, đó là sự tưởng tượng và những kĩ năng sáng tạo. Cho nên để hiểu
rằng không phải ai cũng ngẫu nhiên sẽ trở thành một nhà văn, mà nó đòi
hỏi ở người muốn làm nhà văn có một năng khiếu riêng - năng khiếu
nghệ thuật! Chuyện văn chương quả là không dễ, cũng như là một bọc
văn vĩ đại!.
18
Đặc điểm, bản chất của phân tích văn học
a- Tác phẩm thơ, văn đích thực là đẹp và hay
Phân tích văn học là phân tích cái hay, cái đẹp – cái hay, cái đẹp
của tư tưởng, cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật mà người viết
cảm nhận được: trên cơ sở đó mà đánh giá tác phẩm văn học.
b- Một tác phẩm văn học (một bài thơ, bài văn…) mà không hay thì có
gì mà phân tích?
Một bài văn phân tích văn học nếu chỉ mới dừng lại được ở mức
độ phân tích giá trị tư tưởng của tác phẩm văn học thì chưa đạt yêu cầu:
cách phân tích đó mang tính xã hội học đơn giản.
c- Nội dung tư tưởng tình cảm của tác phẩm văn học?
Lúc nào cũng vậy, nó được thể hiện bằng một hình
thức nghệ thuật nhất định, bằng một ngôn ngữ văn
chương nhất định, cho nên phải bám sát văn bản ngôn từ,
kết hợp một các nhuần nhuyễn phân tích nội dung tư
tưởng với phân tích nghệ thuật, để chỉ ra cái hay, cái đẹp
mà đánh giá tác phẩm.
d- Phải căn cứ vào ngôn ngữ và thể loại văn học để phân tích tác
phẩm.
Những bài thơ dịch (thơ chữ Hán, thưo Pháp, thưo Nga…) nếu chỉ
biết bám vào bản dịch đẻ “tán” thì đó là một việc làm thô lậu, đơn giản,
thiếu căn cứ. Phải đối chiếu với bản phiên âm, bản dịch nghĩa để phân
tích thì mới hợp lý. Phân tích một truyên cổ, phân tích một bài hịch, một
bài cáo, bài phú, bài văn tế, một bài hát nói, một bài thơ Đường luật…
cần chú ý đến theer loại, đến đặc trưng ngôn ngữ, đến thi pháp, đến màu
20
và kết tinh ở những thiên tài văn chương như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương, v.v...
Các thời kỳ phát triển
Có thể chia làm 3 thời kỳ lớn:
1. Thời kỳ từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIX: Thơ văn Hán - Nôm.
2. Thời kỳ từ thế kỷ thứ XX đến năm 1945: Thơ văn Hán Nôm - thơ
văn quốc ngữ.
3. Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay: thơ văn quốc
ngữ mang nội dung cách mạng, kháng chiến, yêu nước và tiến bộ.
Mấy nét đặc sắc truyền thống của văn học Việt Nam
1. Truyền thống yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc
2. Tình nhân ái.
3. Thơ ca có một truyền thống lâu đời phát triển mạnh. Có nhiều kiệt
tác.Văn xuôi phát triển chậm: từ 1930 trở đi mới phát triển nhanh vọt,
tiến lên hiện đại hoá.
- Tác phẩm văn học là sáng tác cụ thể, văn bản ngôn ngữ hoàn chỉnh,
vừa có ý nghĩa vừa có tính thẩm mỹ.
- Một bài ca dao hai câu, một bài thơ tứ tuyệt, một truyện ngụ ngôn
nửa trang, một truyện ngắn mi-ni, bộ Tam quốc chí,… đều là tác phẩm
văn học.
Thế giới hình tượng của tác phẩm văn học
21
1. Khái niệm:
Thế giới hình tượng là hệ thống các hình tượng được dệt nên bởi các
- Ví dụ, nội dung triết lý của truyện ngắn “Đời thừa” là gì?
+ Là khoái cảm của văn chương “dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu
cũng không thích bằng”
+ Là nghề văn tuy nghèo mà sang trọng: “Tuy khổ thì khổ thật, nhưng
thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi (Hộ), chưa
chắc tôi đã đổi”.
+ Là quan niệm về kẻ manh: “Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác
trên đôi vai mình”.
5. Sắc điệu thẩm mỹ của tác phẩm là vẻ đẹp chủ yếu tương ứng với
cảm hứng và chủ đề tác phẩm.
- Ta thường nói: “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” là một cách
đánh giá sắc điệu thẩm mỹ của tác phẩm văn học.
- Nói về sắc điệu thẩm mỹ trong “Nhật ký trong tù”, Hoàng Trung
Thông viết:
“Văn thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.
23
Thể loại văn học và sự phân loại tác phẩm văn học
1. Khái niệm về thể loại văn học:
- Thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu
tạo văn bản.
- Ví dụ, cùng viết về đề tài người mẹ trong chiến tranh, Tố Hữu viết
về người mẹ ở hậu phương qua tâm hồn người lính bằng thơ lục bát trữ
tình (Bầm ơi). Con Nguyễn Thi lại viết về một người mẹ, người vợ cụ
thể - chị Út Tịch - đang cùng chồng và đồng bào quê hương cầm súng
đánh giặc - bằng thể ký: “Người mẹ cầm súng”.
2. Sự phân loại tác phẩm văn học: