TS. TRẨN THỊ LAN HƯƠNG
KINH TẾ HỌC
ĐẠI CƯƠNG
■
■
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
■ VIỆT
• NAM
Công ty cổ pĩiần sách Đại học - Dạy nghề - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nan
giữ quyền công bõ' tác phẩm.__________________________________________
375-2009/CXB/20 - 726/GD
Mã số : 7L224Y9 - M I
{V
v ^ n u ’o ĩ m Ị / 1
KHÁI QUÁT VỂ KINH TẾ HỌC
1. KINH TẾ HỌC
1.1. Định nghĩa kinh tế học
Khái niệm kinh tế học đã xuất hiện lừ rất só'm Ironíi lịch sứ, dược tìm
khách quan. Như vậy. kinh tế học ihirc chứim là khoa học lý luận phân tích
định linh.
- Kinh tế học chuấn lắc là khoa học phân tich và giải thích các vấn dề
kinh tè dựa trên chuồi những số liệu (hoặc dữ kiện), lừ đó đưa ra nhũ’ng chi
dẫn hoặc khuyến nghị về sự lụa chọn các plurorm án kinh lế. Kinh tế học
chuân tấc là khoa học phân lích maníi, lính dịnh lirợníi.
* Phân hiệt kinh tế học vi mỏ vù kinh té học vĩ mô:
- Kinh tế học vi mô là khoa học nghiên cứu \'ấn đề kinh tế cụ thể của
các tế bào kinh tế bao gồm hành vi và quyết dịnh của chủ thê kinh tế Irong
các đem vị kinh tế độc lập, riêníi biệt. Kinh tế vi mô đề cập dến các hoạt
động kinh lế đơn lẻ của: ngưòi liêu dùn
qua lại lẫn nhau giữa chúng. Có như vậy, các kết luận kinh tế mới có tính
thực tiễn và tính thuyết phục hơn mà không phải chỉ là những kết luận
thuần tuý lý thuyết.
Đặc trưng thứ năm của kinh lế học là tính tương đối của các kết luận,
Kinh tế học không phải là mộl môn khoa học chính xác, nó không thê xem
xét được hết tất cà các quan hệ kinh tế diễn ra cùng một lúc, cũng không thể
giói hạn tác động của nhiều sir kiện kinh tế đồng thời. Các kết luận kinh tế
luôn chỉ ra các xu hướng vận động tương đối chứ không phải những thay
đổi tuyệt đối chính xác về lượng trong quá trình vận động kinh tế nói chung.
- Đặc trưng thứ sáu là phương pháp nghiên cứu. Kinh tế học sứ dụng
nhiều phương pháp liên ngành của nhiều môn khoa học khác nhau mà thích
họp cho việc nghiên cứu. song nó cũng có những phương pháp nghiên cứu
riêng cụ thể.
1.4. Phương pháp nghiên cứu kinh tế học
” Phương pháp chính đưọc sử dụng trong phân tích kinh tế học là
phương pháp phân tích cân băng. Phương pháp này xem xét tât cả các môi
quan hệ kinh tế thông qua hoạt động của thị trường - nghĩa là tác động gũra
cun>^ và cầu giữa tổng cung và tône, cầu. Phạm vi xem xét các quan hệ kinh
tế có thể là một chủ thế riêng biệt (nguửi tiêu dùng hay một doanh
nghiệp...) cũng như tổng thồ của nên kinh tê, phân tích quyêt định của câu
thông qua tác động của cung. Phương pháp phân tích cung - cầu là một
công cụ hữu hiệu để giải thích mọi vấn đề phức tạp của kinh tê học.
- Phương pháp quan sát các hiện tượng và thu thập chuỗi số liệu, là
phương pháp thống kê học giúp cho việc nghiên cứu những dừ liệu kinh tê
cơ bản nhấl đế phân tích, so sánh và tông họp.
- Phân tích, tổng họp, so sánh là những phương pháp bổ trợ để nghiên
cứu kinh tế học. Mục đích của phương pháp này là nhằm tìm ra trong một
đề sản xuất cái gì, bao nhiêu, phân phối như thế nào đều dược ihực hiện
Ihông qua thị truửng. Ví dụ: thị Irưòng ra ■■mệnh lệnh" đê sản xuất quần áo.
lương Ihực, xe máy... vói số lượng nhiều hay ít, cũng chính thị trường ra
lệnh cho người san xuât loại bỏ bớt lao dộng và thay thế bằno máy móc để
san xuâl hàng hoá và dịch vụ, Còn Irona lĩnh vực phân phối, thị trưò'ng đặt
ra nguyên tăc phân phôi qua thu nhập băng tiền và giá cả. 1 hị trường giải
quyếl ba vấn đề kinh tế lớn thông qua cơ chế giá cá. Mô hình kinh tế này
phan ánh tác động qua lại giữa các tác nhân kinh tế chủ yếu cứa thị trường
gôm: hộ gia đình (H) và các hãng kinh doanh (]-'), cùng những lợi ích của
họ. Sự tương tác giữa họ tạo nên vòng luân chuyến kinli té vi mô đon giản.
Có hai mô hinh kinh tế vi mô:
Vùng luân chuyên kinh lé cua các hãng kinh doanh (F) vù hộ gia đình (ll)\
Cung trên
Thị trường các yếu tố sản xuất
Hãng kinh doanh
Cung dưới
Hộ gia đình
Thị trường hàng hóa và dịch vụ
Hình 1.1. Vòng luân chuyển kinh tế
Cung trên: Hộ gia đình quyết định tiêu dùng và đó là cơ sở' dể các hãng
quyêt định sản xuất. Hộ gia đỉnh là tác nhân quyết định vòng luân chuyển
kinh tê vi mô. Hộ gia đình sứ dụng thu nhập do bán tư liệu sán xuất (lao
động, đâl, vôn) dê mua hcàng hóa và dịch vụ từ các hãng sản xuất ra. I lãng kinh
hay một số xã hội trong một thò'i kỳ dài. Tuy nhiên, trong các diều kiện
hiện dại, hầu hết các nền kinh tể của các quốc gia khác nhau đều mang lính
chất hồn họp, đó là mô hình kinh lế thị trường tự do và kinh tế chi huy kết
họp với vai trò kinh tế cùa Nhà nước. Do đó, có thê gọi dó là những nền
kinh tế hỗn hợp. Nếu kinh tế Ihị trường đưọ’c điều tiết bằng "bàn tay vô
hình" cứa thị trường tự do thì nền kinh tế hồn hợp hiện đại được điều tiết
bằng cả hai bàn tay; "bàn tay vô hinh" của thị truửng tự do và "bàn tay hữu
hình" của Nhà nước.
Nền kinh tế hỗn họp có bốn nhóm lác nhân kinh tê sau đây;
* Hộ gia đình (Households) bao gồm lấl cả các cá nhân, lổ chức xã hội
và người tiêu dùng. Họ mua các hàng hoá và dịch vụ đê Ihóa mãn những
nhu cầu tiêu dùng của mình về ăn. mặc, ỏ-, di lại. học lập. chăm sóc sức
khoẻ và giải trí... Hộ gia đình có vai trò rất to lón trong nền kinh tế, họ đưa
ra các tín hiệu chủ yếu và thưòno xuyên cho các quyết định của hãng vê sản
xuất cái gì, với số lượng bao nhiêu. Người tiêu dùng tuy rất đông vê sô
lượng, mua và tiêu dùng cũng rât khác nhau, song vân có chung một điêm
là mong muốn đạt lợi ích tiêu dùng tối đa Irong điều kiện thu nhập có hạn.
Bởi vậy, chính hộ gia đình đã đặt người sán xuất trước một sự lựa chọn
kinh tế: sản xuất được nhiều hàna hoá nhất, với chi phí sàn xuất \ à giá
thành sản phẩm thấp nhất.
* H ãng kinh doanh (firms) bao gồm các nhà sản xuất và kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ. Vai trò của tác nhân hãng kinh doanh là sản xuấl và
cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho tiêu dùng của các cá nhân và xã hội. Họ
mua hoặc thuê các yếu tố đầu vào cúa sàn xuất chủ yếu từ các hộ gia đình
để sản xuấl và kinh doanh nhàm kiếm lợi nhuận. Các hãng kinh doanh đặt
mục tiêu hoạt động là đạt được lợi nhuận tối đa trong điều kiện các nguồn
lực hạn chế. Bởi vậy, có thê nói hoại động doanh nghiệp là một hoạt động
mang tính lựa chọn; sản xuấl cái gi, số lượng bao nhiêu, các kết họp đầu
khoá, chính sách tiền tệ, chính sách phân phối, chính sách kinh tế đôi
ngoại..., Chính phủ có thể tác động vào nền kinh tế nhằm giảm bớt ảnh
hưởng của suy thoái kinh lế, chống thất nghiệp và lạm phát, làm cho nên
kinh tế phát triển trong ổn định.
- Chức năng công bằng nhằm điều tiết thu nhập của dân cư, tránh phân
phổi bất bình đẳng giữa các thành viên xã hội do cơ chế thị trường tự do
gây ra cũng như những bất công xã hội trên nhiều lĩnh vực. Chính phủ sử
dụng công cụ chủ yếu là hệ thống thuế: thuế suất, thuế lũy tiến, đặc biệt là
thuế thu nhập cá nhân làm giảm chênh lệch về thu nhập giữa các tâng lóp
dân cư m ở rộng các chương trình phúc lợi xã hội, tạo điều kiện cho mọi
thành viên xã hội được hường phúc lợi chung, trợ cấp và giúp đỡ các tâng
lớp nghèo khổ nhất...
Ba tác nhân hộ gia đình (H), hãng kinh doanh (F), Chính phủ (G) cùng
quan hệ và sự táọ động qua lại giữa chúng tạo nên một nền kinh tế quốc dân
hay nền kinh tế đóng, Trong nền kinh tế này, hai lực lượng thị trường tự do
(tác động giữa người tiêu dùng với doanh nghiệp) và Nhà nước (thông qua
vai trò của Chính phủ) tác động qua lại lẫn nhau: thị trường xác định giá cả
và sản lượng, còn Chính phủ thi điều tiết thị trường bằng các công cụ của
mình, ư u thế của mồi lực lượng trong từng nước là khác nhau, tạo nên đặc
điểm phong phú, đa dạng của các nền kinh tế thị trường trên thế giới.
11
* Tác nhân người nước níĩoài iham gui \'ài) nỏn kinh tế cua một quốc gia
tạo nên cơ chế kinh tế Iĩ>ơ, Ngày na\ . mỗi nền kinh lé quốc íiia dều chịu
ánh hường ít nhiều từ tình hình phát Iriên kinh lế cua nưóc naoài, dều uẳn
bó không thê tách rời mối quan hê quốc tê. Do đó. hoạt động cùa các hãng
kinh doanh và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia đều hưỏ'ng tới quan hệ
kinh tê quốc tế. " li ế n bộ chung phụ ihuộc vào việc phát Iriển chú nghĩa
quôc tê và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế đưọc lăng cường và
quyết các vấn đề khan hiếm. Các nguồn krc sán xuất có hạn, song nhu
của thị trường về hàng hóa và dịch vụ thi phong phú, đa dạng. Mọi
kinh tế đều phải giải quyết ba vấn đề lớn: Sản xuất cái gì? Sản xuất
ai? Sản xuất như thế nào? Nhưng những nền kinh tế khác nhau sẽ lựa
chọn các phương án sán xuất san phâm khác nhau. Trong hoạt động sản
xuàl cũng cẩn phân biệt đầu \ ào và dầu ra giữa kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô.
2. ì. 1. Đầu vào và dầu ra trong kinh té vi mô
Là lất cá những gì mà nmròi la phải sử dụng trong quá trình sán xuât
trực liếp. Kinh tế học ihuửnu chia các VCLI tô sán xuât thành ba nhóm: dât
dai, lao dộng và lư bán.
* Đấl đai (R) bao Rồm toàn bộ diện lích đất dùng vào việc trồng trọt,
chăn nuôi, xây dựng nhà ỏ', kho tàng, đưòng sá giao thông hoặc sử dụng
vào các mục đích khác, Yếu tố san xuất còn bao gồm cả các lài nguyên
thièn nhiên gắn liền với dấl - lài ntiLiycn trong lòng đất như than, sắt, dầu...
và tài nguyên trèn mặl đất như rừng cây. thác nước, núi đá... 'ĩrong quá
trình sư dụng tài nguyên, con ngưòi có thê trực tiếp tạo ra hàng hoá từ các
vật liệu tụ- nhiên hoặc SO' chế chúng thành nguyên, nhiên, vật iiệu tông hợp
đê tạo thàiili các hàng hoá.
* Lao động (I.) là yếu lố san xuất gẳn liền với bản thân con người. Lao
động đu'Ọ'c hicu là năng lực trí não, thần kinh, cơ bắp bao gồm toàn bộ kỳ năng,
kỹ xao, trinh độ hiêu biết và tri thức mà người lao động có được và sứ dụng
chúng trong sán xuất. Đây là yếu tố sán xuất quan trọng nhất và không thê
thiếu dược của bất cứ quá trình lao dộng sán xuất nào,
* Tự bản (còn gọi là vốn - K) là tất cá những yếu tố vật chất như máy
móc. thicl bị, đưò-ng sá, nhà xưỏng, kho tàng, các phương tiện vận tải...
dược sán xuất ra dể sứ dụng vào việc sán xuấl chứ không phải đê tiêu dùng
lạrc tiếp. Tư bản không phái là tiền hay các tài sản tài chính..., vì những thứ
này không iham gia trực tiếp vào việc sán xuất ra các hàng hoá, dịch vụ.
một nước.
Nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào cũng đều vận động trong sự tác
động tống họp của các yếu tố trong lĩnh vực kinh tế và các yếu tố ngoài lĩnh
vực kinh tế, vừa phụ thuộc lại vừa không phụ thuộc vào tính loán cúa
những chủ thể kinh tế, là chủ thế Nhà nước hay chủ thể doanh nghiệp.
* Đầu ra cua kinh tế v ĩ mô
Gồm các nhóm khác nhau như: nhóm sản lưọ-ng chung ” sản Iưọ-ng
quốc gia (Y), nhóm việc làm (E|), nhóm giá cá chung (CPl), nhóm các quan
hệ kinh tế quốc tế (Ex, Im) cùa mộl nưởc. Những kết quà lổng hợp này sỗ
được đo lường bởi các chỉ tiêu (tturớc do) tổng hợp như tỷ lệ lăng trưởng
(Gr), tỷ lệ thất nghiệp (ư), lỷ lệ lạm phái (gp) ... phản ánh tình trạng phát
triển nói chung của cả nền kinh tế ở mỗi giai đoạn.
2.2. Chi phí và lợi ích kinh tế
Chính sự khan hiếm về nguồn lực sản xuất tạo nên tính cần thiết của các
quyết định kinh tế. Xét về bản chât. các quyết định kinh tế được quy về sự
lựa chọn phương án toi ưu khi so sánh giữa chi phí và lợi ích mà các chủ
thể kinh tế cần phải và có thể đánh giá, ỈBỞi vậy, chi phí và lợi ích là những
khái niệrn kinh tế chủ đạo, bao trùm trong phân tích kinh tế học.
14
Chi p h í biểu hiện ra như là cái uiá phái irà cho mộl sự lựa chọn phương
án thích hợp và có lợi nhất Irong những điều kiện ràng buộc nhất định nào
đó. Chi phí của một thứ là giá mà bạn phai trá do từ bò những cái khác đê
có đưọ’c nó (N. Gregory Mankivv). Do dó, các nhà kinh tế quan niệm vê chi
phí luôn luôn rộng hơn so vói những ngưòi làm kế toán.
Chi p h í cơ hội là chi phí được tính bàng giá trị mất đi do đã bỏ qua
những cơ hội khác khi người ta lựa chọn một quyết định nào đó. Chăng hạn,
khi quyết định lựa chọn A. ta không còn cơ hội để lựa chọn quyêt định B
và do đó có nhiều chi phí eo hội khác nhau. Lọ'i ích vi mô là lợi nhuạn tối
đa cùa hãng, lợi ích vĩ mỏ là lọi ích tông thô về kinh lế, an ninh, xã h ộ i.,.
Một quyết định đượ’c xem ỉà có tính kinh tế nếu nó thoa mãn mục liêu:
lọi ích đạt dưọ'c lớn ho'n chi phi phái Irá. với điều kiện phái dánh giá dầy dủ
các chi phí và lợi ích. Sẽ là phi kinh lế khi đưa ra một quyết định đạt lợi ích
băng mọi giá. Điêu này chi xav ra Irong những điều kiện bất buộc (như
chiên tranh), cho dù các mục liôu có thê cao đôn đâu cũng không ihế coi là
các quyết định kinh tế. Một ví dụ đicn hình cho việc xem xét lợi ích Ihco
quan diếm kinh tế là vấn đề dánh oiá các thành liru cúa tăng trưởníi kinh lế
irong môi tưoTig quan vó’i linh trạiiíi gia lăng ô nhiềm môi trưòng và mớ
rộng đói nghèo ở hàng loạt các nưóc hiện nay. MỘI số nhà kinh tế cho rằng,
một quốc gia có thê đạt lốc độ tării2, trưo'na 5 7% vẫn có thê không cai
thiện dược các lợi ích cua mình do phai tra giá quá cao cho những thành
lựu đó. Đây không chi là bài học về lý thuyết kinh tế cho những nưó’c phái
triên mà còn thật SỤ’ bô ích cho những nước đi sau. nhũ'ng nước chậm phát
triên như Việt Nam trong quá Irỉnh tìm tòi hưó'ng đi Irên con đưò-na phát
triên phù hợp với nhCrng điều kiện cụ thế cua minh.
2.3. Ngắn hạn và dài hạn (SR & LR)
'J'rong kinh tế học, các khấú niệm về ngắn hạn và dài hạn có ý nghĩa rất
quan trọng. Nghiên cíai ngắn hạn và dài hạn liên quan dến chi phí những
yếu tố bất biến (FC ■ chi phí cổ dịnl-i) và chi phí các yếu tố khá biến (VC chi phí biên đôi), nó có ý nghĩa dối vó'i cá kinh lế vi mô và kinh tế vĩ mô.
Ngan hạn (SR) là thời kỳ mà chi phí về mộl vài yếu tố cố dịnh như tiền
thuê nhà xưởng, tiền bảo vệ, khấu hao máy móc, ihiếl bị... các chi phí này
không thay đôi trong suôt quá Irinh sán xuâl. Còn chi phí mua nguyên,
nhiên vật liệu hay tiền công thay dối phụ Ihuộc vào quá irinh sản xuấl. Xét
trôn phạm vi tổng thể, một nền kiiih tế trong ngắn hạn luôn đượ'c giá định
3.1. Giới hạn khả năng sản xuất
Do sự khan hiếm các nguồn lực, nôn chi có thể cùng lúc sản xuấl một sô
krợng nhất định đổi vói mỗi loại hàng hoá trong điều kiện các nguồn lụrc
cho trưcVc. Điều này cũng có níihĩa là với niộl tông sô nguôn Iịvc không đôi
nếu muốn sản xuất một loại hàng hoá nào đó nhiều hoiì thì buộc phải giảm
bớt số lượng được sản xuất của những hàng hoá khác. Sự ràng buộc này
được gọi là giới hạn khả năng sán xuất (Production Possibility Prontier PPF) mà mỗi doanh nghiệp riênti Ic hay cả nền kinh tế đều phài châp nhận.
Như vậy, PPF là một khái niệm mô tá mối quan hệ tương ứng quy định lân
nhau giữa số lượng của mộl loại hàng hoá này với số lượng các hàng hoá
khác cùng đưọ’c sản xuấl từ mộl nguồn lực cho trước.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm l’PF và mối quan hệ giữa việc sản xuât các
hàng hoá khác nhau trong phạm vi giới hạn của những nguôn lực cho trưóc,
ta xét ví dụ về sản xuất hai loại hàng hoá khác nhau X và Y thê hiện trong
bảng 1.1 sau đây:
17
Khả năng sản xuất cvia nền kinh tế được gia dịnh ó' việc sản xuất ra hai
loại hàng hóa X và Y.
Bảng 1.1
Tập hợp X và Y
A
c
D
(khả năng A). Ngược lại, nếu toàn bộ nguồn krc được tập trung cho sản
xuât 5 đơn vị hàng hoá X thi không có một đon vị hàng hoá Y nào được sản
xuât (khá năng B). Giữa A và B là các khả năng sán xuất một số lượng
hàng hoá X tương ímg với một số lượng hàng hoá Y nào đó. Chẳng hạn ở
khả năng c, nên kinh tế có thê dành nguồn lực để sản xuất 2 đơn vị hàng X
và 16 đơn vị hàng Y; hoặc ơ khá năng D nếu san xuất 12 đơn vị hàng Y thi
có thê sán xuât được 3 đơn vị hàng X ...
Nếu biếu diễn tất cả các điểm thế hiện khả năng A, c, D, E, B trên đồ thị
la sẽ được một đường cong gọi là đường giới hạn khả năng sản xuấl (đường
PPF là một đường cong lồi, A và B là điểm chận của đường cong sản xuất).
18
' 1'rường họp đặc biệt trong đó mức độ hy sinh hàng hoá này để sản xuất
hàng hoá kia luôn luôn bàng nhau, la sẽ có một dường thẳng PPF (hình 1.3).
Phirơng pháp tiến hành lựa chọn kinh
tế là ứng dụng các mô hình toán kinh
tế (toán lối ưu), phương trình, hàm
sản xuất Cobb Douglass, toán cực trị
bất đẳng thức Cosv, đồ thị... Giới hạn
ràng buộc là đưòng cong khả năng
sản xuất: sản xuất cái gì, thời gian bao
lâu, nguồn lực cho phép như thế nào?
Ví dự: Xét sản xuất của nền kinh tế
với hai hàng hóa là lương ihực và quần
áo, nếu biểu diễn trên đồ thị cho thấy:
Hình 1.3. Đường giới hạn khả năng
sản xuất (PPF) thẳng
tai... thi giới hạn khả năng sán xuấl còn do các nguồn lực và kỳ thuật sử
dụng chúng quyết định. Như mô tả trên hình 1,4, các dường PPF có thế
được mở rộng hay thu hẹp do những thay đổi về nguồn lực hoặc kv thuật
sán xuất. Đối với toàn bộ nền kinh tế quốc gia, tăng trưởng nói chung sẽ
làm dịch chuyển đường PPF ra phía ngoài (hình 1.5).
3.2. Quy luật thu nhập giảm dẩn và quy luật chi phí tương đối ngày
càng tăng
a)
Quy luật thu nhập giảm dần phản ánh mối quan hệ giữa việc sứ dụng
một đầu vào trong sản xuất vói thu nhập do yếu tố đầu vào đó mang lại. Nếu
cô định các đầu vào khác thì việc tăng thêm một sổ lưọng đầu vào có thể đạt
tới một điểm mà kết quả đầu ra lăng thêm có xu hướng ngày càng giảm dần.
Ví dụ: Giả sử 10 lao động canh tác trên một diện tích đất 10 ha mang lại
ihu nhập 500 tạ thóc, tức là binh quản mỗi lao động làm ra 50 tạ. Nếu sổ đất
dai k h ôn g đổi, cù n g v ớ i máy móc và công cụ nhir trưóc thi đoTi vị lao động
thứ 11 chỉ có thể mang lại thu nhập là 45 tạ thóc; các đơn vị thứ 12, 13,
14... làm ra lì hơn nữa (bảng 1 .2 ).
Bảng 1.2.
Diện tích đất (ha)
10
10
10
10
10
Sản lương thóc
Sản lượng tăng thêm
20
c ầ n chú ý rằng, quy luật ihu nhập giam dần chi là một xu hưó-ng có tính
quy luật chứ không phải luyệt dối, 'I rong ihực tế, có những đo-n'vị khi dâu
vào tăng thêm, lúc đầu có thê mang lại phần thu nhập lăng Ihêm tăng lên
song dần dần thì quy luật thu nhập giám dần sẽ có tác động. Mặt khác, quy
luật thu nhập giàm dần cũng không mâu thuần với các trưòiig họp thu nhập
không đổi theo quv mô (thu nhập tăng cùng một tỷ lệ với tỳ !ệ tăng thêm
cúa các đẩu vào biến đổi) hoặc thu nhập lăng iheo quy mô (thu nhập tăng
với tỷ lệ cao hơn so với tv lệ tăng thêm các yêu tô đâu vào biên đôi). lât
nhiên, trong hai trường họp sau, tất cả các yếu tố đầu vào đêu biên đôi mà
không có một yếu tố nào cố định như ừong trường họp của quy luật thu
nhập yiàm dần.
b)
Quy luật chi phí tưo’ng dối ngày càng tăng, để có thêm một sổ lượng
đầu ra như nhau, người ta phải tốn chi phí tưoTig đối ngày càng lÓTi hơn so
với trước. Chi phí tương đối 0 ' đây dược tính bằng số lượng các dầu ra khác
phái giảm đi đê tăng thêm số lưọng đầu ra đó, v ề hình thức, quy luật này
giống như quy luật thu nhập giảm dần đưọc phái biêu ngược lại. Tuy vậy,
về thirc chất giữa hai quy luật này có sự khác nhau nhât định. Nêu quy luậl
thu nhập giảm dần chỉ nói về mối quan hệ giữa số luụng yểu tô đâu vào
tăng thêm với số lượng đầu ra tăng ihêm thi quy luật chi phí tưong đôi ngày
càng tănti lại thể hiện mối quan hệ giữa các số lượng đâu ra với nhau. MỘI
hình ánh rõ nét về quy luật này là duửng PPl' đã mô tả trong hình 1.2. Dê
có thêm 1 đơn vị hàng hoá X, lúc đầu, ngưòi ta cần phải hy siiili 1 đơn vị
Cầu theo ý nghĩa kinh tế học trưóc hết là nhu cầu được thoả mãn (bao
gôm các nhu cầu vật chất và tinh thần). Song, không phải mọi nhu cầu đều
là cầu kinh tế. Nhu cầu chỉ trỏ' thành cầu nếu nố có kliả năng được thoá
mãn. Khả năng thoả mãn nhu cầu của mồi riRười lại liên quan tới rất nhiều
nhân tô như thu nhập, giá cả hàng hoá, dịch vụ... Do đó, có thể định nghĩa
tóm tăl như sau: cầu là nhu cầu có khá năng thanh toán, c ầ u hẹp hơn nhu
câu, còn nhu câu phong phú, vô hạn và có thể không thirc hiện được, c ầ u
khác với nhu cầu bởi hai yếu tố cấu thành cẩu:
- Sở thích, mong muốn của ngưòi tiêu dùng (nhu cầu).
-- Thu nhập của người tiêu dùng (khá năng thanh toán).
Đê làm rõ khái niệm câu, người la thường phân tích một số khái niệm cụ
thể như lượng cầu, biểu cầu, đưòng cầu...
22
1.2. Lượng câu
Lượng cầu là số lượng hànii hoá. dịch vụ inà người mua có khả năng
mua và sẵn sàng mua ở một mức giá cụ thố trong một thời kỳ nhât dịnh,
tương ứng với thu nhập và các diều kiện khác cho trưó’c. Ký hiệu là Qi>
Cầu biểu hiện mối quan hệ giữa lượng cầu với giá cả, cầu là hàm số phụ
thuộc vào giá cả.
Q d = f(P) là hàm nghịch biốn
Trong đó:
Q d là số lượng cầu;
p là giá cả của hàng hóa và dịch vụ.
Hàm cầu biểu diễn mối quan hệ giữa số lượng cầu (Q d) với giá cá (P).
Phưong trình đường cầu được cho như sau:
và livợng cầu tương ứng theo tỷ lệ ngưực nhau. Chànti hạn, biểu cầu về gạo
ớ một thành phố có dạng như sau:
Giá (nghìn đồng/kg)
5000
4000
3000
2000
Lượng cầu (tấn/tuần)
10
20
25
30
Chú ý ràng, việc thay đổi lượng cầu và giá cá không diễn ra theo cùng
một tỳ lệ nhất định hoặc không đôi. Troníỉ trường họp đặc biệt, cũng có thể
là đê dơn giản cho việc nghiên cứu, nguừi ta thưò'ng đưa ra và khảo sát
những biểu cầu tuyến tính, tức là những biểu cầu mà ở đó lirợng cầu và giá
cá biến đổi theo một tỷ lệ nhất định hoặc không đổi. Chẳng hạn, biểu cầu
sau đây là một biểu cầu tuyến tính:
Giá cả
Hình 2.1.
Với một đường cầu thấng, có ihể bièu thị luật cầu qua một hàm tuyến
tính (hàm bậc nhât) Q d = a - bP, vói b < 0, trong đó b =
p
gọi là hệ sô
Qd
góc biểu thị độ dốc của đường cầu.
.
Lưu ý răng,
r
p ì
——
Q
d
như
y
nhau tại mọi điểm và dấu (-) để
chi sự vận động ngưọc chiều của
giá cả (P) và lượng cầu (Q d).