Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối
hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp luật
5
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
Tên viết tắt sử dụng trong báo cáo
11
Phần I
đặt vấn đề
12
Phần II
Đánh giá thực trạng những quy định pháp luật hiện hành về quản
lý hoạt động hợp tác
với nước ngoài về pháp luật
15
I. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt
động hợp tác với nước ngoài về pháp luật
4. Nhận xét chung
III. Những điểm bất cập của hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp
luật
1. Phạm vi áp dụng còn hẹp
2. Trình tự, thủ tục hình thành dự án, chương trình hợp tác quốc
6
20
20
21
21
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
tế về pháp luật còn có điểm chưa hài hòa thống nhất
22
3. Chưa quy định cơ chế cụ thể để Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm
vụ hỗ trợ tìm kiếm đối tác
22
4. Chưa quy định cụ thể về cơ chế điều phối chung giữa các nhà
tài trợ
29
2.3. Hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp luật
2.4. Hỗ trợ công tác thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp
luật, trợ giúp pháp lý
2.5. Nhận xét chung
II. Đánh giá những mặt làm được của công tác quản lý nhà
nước trong hợp tác quốc tế về pháp luật
1. Những nỗ lực của Bộ Tư pháp
1.1. Thẩm định về nội dung các, dự án chương trình hợp tác với
nước ngoài về pháp luật
30
33
35
36
36
36
7
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
1.2. Theo dõi, kiểm tra, đánh giá các dự án, chương trình hợp
tác
37
1.4. Phạm vi hợp tác chỉ tập trung ở trung ương
39
1.5. Tình trạng trùng lặp trong hoạt động hợp tác
39
2. Nguyên nhân
40
Phần IV
Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát
41
I. Kết quả điều tra
41
1. Phạm vi điều tra
41
2. Kết quả điều tra và phân tích sơ bộ
42
45
2.7. Về các biện pháp xử lý vi phạm theo quy định của Nghị
định 103
46
2.8. Về các biện pháp xử lý đối với hành vi không chấp hành chế
độ báo cáo
46
II. Tổng hợp kết quả khảo sát thực tế tại 09 tỉnh
46
1. Giới thiệu sơ bộ
46
2. Kết quả khảo sát và phân tích
47
2.1. Tình hình hợp tác quốc tế về pháp luật tại các tỉnh được
chọn khảo sát
47
1.Về vấn đề mở rộng phạm vi áp dụng của Nghị định 103
53
2. Về cơ quan có nhiệm vụ chủ trì, điều phối hoạt động hợp tác
quốc tế về pháp luật
54
3. Về thẩm quyền phê duyệt, dự án chương trình hợp tác với
9
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
nước ngoài về pháp luật
54
4. Về thủ tục thẩm định của Bộ Tư pháp
55
5. Về các biện pháp chế tài
55
II. Khuyến nghị tổ chức thực hiện thể chế
57
57
Phần Phụ lục
Phụ lục I
Các
thể chế
dự
án,
chương
trình
hỗ
trợ
xây
dựng
61
Phụ lục II
Các dự án, chương trình hỗ trợ thiết chế
115
Phụ lục VIII
Tổng hợp Phiếu điều tra dành cho các cơ quan, tổ chức việt nam ở
118
cấp trung ương
Phụ lục IX
Bảng tổng hợp trả lời của các nhà tài trợ
125
Phụ lục X
Tổng hợp ý kiến của các đại biểu tại hội thảo góp ý sửa đổi Nghị định số
103/1998/NĐ-CP tại Đồ Sơn, Hải Phòng
132
Tên viết tắt sử dụng trong Báo cáo
11
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
Tên
Zealand
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
SCS
Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển
Cơ quan hợp tác và phát triển
Thuỵ Sỹ
Cơ quan phát triển quốc tế Thuỵ
Điển
SDC
Sida
UNDP
12
Quỹ tiền tệ quốc tế
Chương trình phát triển của Liên
hợp quốc
Tên đầy đủ
bằng tiếng Anh
Asian Development
Bank
Australian Agency for
Tên
viết tắt
WB
Tên đầy đủ
bằng tiếng Việt
Ngân hàng thế giới
Tên đầy đủ
bằng tiếng Anh
World Bank
13
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
Phần I
đặt vấn đề
Sau gần 20 năm thực hiện chính sách đổi mới toàn diện trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi
nhận về mọi mặt: kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng và hoàn
thiện bộ máy nhà nước.
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) lần đầu tiên đã
chính thức thể chế hoá chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp
quyền - một khái niệm vốn thiên nhiều về phạm trù luật học - đã chính
thức trở thành một nguyên tắc mang tính hiến định. Đây không chỉ thuần
tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật với các cơ quan, tổ chức của Việt Nam.
Song song với việc thực hiện nhiều biện pháp nhằm đổi mới, phát triển và tổ
chức thực hiện có hiệu quả hệ thống pháp luật và tư pháp bằng các nguồn
lực trong nước, Chính phủ Việt Nam đã luôn cố gắng trong việc vận động,
khai thác các nguồn tài trợ của nước ngoài trên cơ sở đảm bảo độc lập, chủ
quyền, an ninh quốc gia và với phương châm: ‘‘Việt Nam muốn làm bạn với
tất cả các nước’’.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yêu cầu đặt ra cho
công cuộc phát triển hệ thống pháp luật và tư pháp nói chung cũng như việc
hợp tác quốc tế về pháp luật nói riêng ngày một cao, thách thức ngày càng
lớn. Lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế trong khuôn khổ AFTA, các hiệp
định thương mại, hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, đặc biệt là Hiệp
định thương mại Việt - Mỹ, cũng như quá trình chuẩn bị các điều kiện pháp
lý để trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã và
đang tạo cho Việt Nam những cơ hội mới trong việc xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra những nhiệm vụ, những
thách thức to lớn về mặt pháp lý.
Việc tăng cường hiệu quả hợp tác quốc tế nhằm giúp Việt Nam nhanh
chóng hài hoà được khung pháp luật của mình với các chuẩn mực pháp lý quốc
tế và khu vực là công việc vừa để đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt, vừa có ý
nghĩa chiến lược bền vững và lâu dài.
2
Trong quá trình xây dựng Báo cáo về đánh giá nhu cầu phát
triển toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 có
sự tham gia tích cực của các chuyên gia quốc tế. Hội nghị
các nhà tài trợ về pháp luật đã được tổ chức 02 lần để góp ý
cho Báo cáo này.
15
góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
pháp luật, phục vụ đắc lực công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Trước mắt, Báo cáo này có thể làm cơ sở cho việc thảo luận giữa các cơ
quan, tổ chức của Việt Nam với các nhà tài trợ trong khuôn khổ một hội thảo
dự kiến được tổ chức vào cuối tháng 7/2004.
16
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
Báo cáo này tập trung chủ yếu vào:
- Đánh giá thực trạng những quy định hiện hành về quản lý hoạt động
hợp tác với nước ngoài về pháp luật, rà soát, phát hiện những quy định
chồng chéo, bất cập;
- Đánh giá một cách khách quan, toàn diện những đóng góp của hoạt
động hợp tác quốc tế và sử dụng hỗ trợ quốc tế trong lĩnh vực pháp luật
cũng như những tồn tại, bất cập của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh
vực này;
- Phân tích nguyên nhân của những tồn tại, bất cập;
- Đưa ra các khuyến nghị sửa đổi, bổ sung hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực pháp luật cũng như các khuyến nghị về cơ chế thực thi các quy định đó
trong thực tế.
Phần II
Đánh giá thực trạng những quy định
pháp luật hiện hành về quản lý hoạt động
Chính phủ về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế (sau đây gọi tắt
là Quyết định 122).
- Nghị định số 20/2002/NĐ-CP ngày 20/02/2002 của Chính phủ về ký
kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là
Nghị định 20).
Trong đó có 03 văn bản chủ yếu là Nghị định 103, Nghị định 17 và
Quyết định 64.
- Mối quan hệ giữa Nghị định 103, Nghị định 17 và Quyết định 64:
+ Cả ba văn bản đều có nội dung cơ bản điều chỉnh vấn đề thu hút
nguồn tài trợ của nước ngoài. Do đó, về mặt lý thuyết, có thể dẫn đến tình
trạng chồng chéo nhau, đặc biệt là giữa Nghị định 103 và Nghị định 17 (là
văn bản ngang cấp, nếu mâu thuẫn nhau sẽ rất khó áp dụng).
+ Về phạm vi áp dụng: Nghị định 17 điều chỉnh vấn đề thu hút, quản lý
và sử dụng vốn ODA; Quyết định 64 điều chỉnh vấn đề thu hút, quản lý và
sử dụng nguồn tài trợ phi chính phủ nước ngoài; còn Nghị định 103 điều
chỉnh hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật (cả ODA và phi
chính phủ). Như vậy, có thể thấy ba văn bản này có những điểm giao nhau.
Để hình thành một chương trình, dự án trong lĩnh vực pháp luật trước hết
18
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
phải tuân thủ quy định của Nghị định 103, sau đó nếu chương trình, dự án
đó có sử dụng vốn ODA thì phải đồng thời tuân thủ Nghị định 17; nếu sử
dụng nguồn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ thì phải đồng thời tuân thủ
Quyết định 64. Như vậy, rất khó có thể nói văn bản nào trùm lên văn bản
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
vậy, trong những năm qua, hoạt động này đã dần dần được đưa vào nền nếp,
có định hướng tập trung vào những lĩnh vực ưu tiên nhằm góp phần tích cực
phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Những ưu điểm của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh
hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật, đặc biệt là Nghị định 103 và Thông tư
10 thể hiện ở những điểm chính như sau:
1. Xác định rõ phạm vi áp dụng và nguyên tắc hợp tác với nước
ngoài về pháp luật
- Nghị định 103 và Thông tư 10 đã xác định rõ phạm vi hợp tác với
nước ngoài về pháp luật dừng ở các cơ quan, tổ chức ở cấp trung ương, bao
gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan trung
ương của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Như vậy, Nghị định
không điều chỉnh hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp luật của các ban
của Đảng, Văn phòng Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và chưa cho phép các chính quyền địa phương được quyền
chủ động đàm phán, hình thành các dự án, chương trình, hoạt động hợp tác
với nước ngoài về pháp luật.
- Nghị định 103 và Thông tư 10 đã đề ra các nguyên tắc hợp tác với
nước ngoài về pháp luật như: đảm bảo độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia,
tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, phong tục tập quán của dân tộc, đảm bảo tính
hiệu quả, thiết thực và tránh trùng lặp... Các nguyên tắc này cũng đã được
tái thể hiện trong Nghị định 17, Quyết định 64 được ban hành sau này.
2. Quy định khá rõ ràng, chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
từ khâu vận động, hình thành, xin phép và thực hiện chương trình, kế
hoạch, dự án hợp tác với nước ngoài về pháp luật
2.1 Khâu vận động
pháp luật là Bộ Tư pháp (thẩm định dự án, hỗ trợ tìm kiếm đối tác, tổng hợp
báo cáo, thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm) cũng như các cơ quan phối hợp
trong công tác này như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao, Bộ Công
an, Bộ Tài chính và các bộ, ngành hữu quan khác.
4. Nhận xét chung
Theo đánh giá sơ bộ của chúng tôi, nhìn chung các quy định của
Nghị định 103, Thông tư 10 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có
liên quan điều chỉnh hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật là tương đối
đồng bộ. Mối quan hệ giữa các văn bản trên (chủ yếu là giữa Nghị định
103 với Nghị định 17 và Quyết định 64) là mối quan hệ tương hỗ, văn
21
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
bản này bổ sung cho văn bản kia, không có văn bản nào bao trùm lên văn
bản nào. Các quy định trong các văn bản đó có tính khả thi tương đối
cao, chính vì vậy nó đã phát huy tác dụng nhất định trong thực tế. Cụ thể
là:
- Về cơ bản, hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật này đã dần dần đi
vào nền nếp. Nhìn chung, các hoạt động được triển khai đều tuân thủ
nguyên tắc hợp tác với nước ngoài về pháp luật, bảo đảm yêu cầu về trình
tự, thủ tục, bám sát các mục tiêu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và
đạt được nhiều hiệu quả thiết thực.
- Vai trò quản lý nhà nước nói chung, vai trò của Bộ Tư pháp nói riêng
trong lĩnh vực này ngày càng được khẳng định.
III. Những điểm bất cập của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp luật
pháp luật còn có điểm chưa hài hòa thống nhất
- Theo Nghị định 103 thì cơ quan, tổ chức Việt Nam sau khi có dự án
hợp tác phải gửi Công văn yêu cầu Bộ Tư pháp thẩm định. Thủ tục trình
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án, chương trình hợp tác với nước ngoài
về pháp luật (dù có sử dụng ODA hay không) đều nhất thiết phải có ý kiến
thẩm định của Bộ Tư pháp.
- Tuy nhiên, theo Nghị định 17 (ban hành sau Nghị định 103) thì Bộ Kế
hoạch và Đầu tư lại là cơ quan chủ trì thẩm định dự án ODA về pháp luật và
cũng chính là cơ quan đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định về mặt pháp luật. Nghị
định 17 chưa có quy định nào nêu rõ trước khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ
chức thẩm định chung đối với các dự án ODA nhất thiết phải thông qua thủ
tục thẩm định của Bộ Tư pháp đối với các dự án pháp luật có sử dụng ODA.
Như vậy, có thể thấy rằng trình tự thủ tục giữa hai văn bản này chưa
4
Mặc dù Nghị định 103 chưa quy định cụ thể nhưng một số cơ
quan như Văn phòng Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao vẫn thực hiện nghiêm chỉnh chế độ
báo cáo định kỳ 6 tháng và hàng năm (gửi Bộ Tư pháp).
5
Điều 46 của Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát
triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định số 17/2001/NĐ-CP
ngày 04/5/2001:
Quy định áp dụng đối với các cơ quan thuộc Quốc hội, Toà án
nhân dân tối cao, các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội có
tiếp nhận ODA.
Quy chế này cũng được áp dụng chung cho các cơ quan
thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, các tổ chức chính
trị, chính trị-xã hội có tiếp nhận ODA.
- Chương trình, dự án được hình thành mà không thông qua khâu thẩm
định của Bộ Tư pháp;
- Cơ quan, tổ chức không tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục hình thành,
xin phép, triển khai dự án, chương trình hợp tác;
- Cơ quan, tổ chức không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ báo cáo...
24
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
Những bất cập trên cho thấy sự cần thiết phải sửa đổi Nghị định 103,
Thông tư 10 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan như Nghị
định 17, Quyết định 64, Quyết định 122 nhằm tăng cường hiệu quả trong
việc thu hút các chương trình, kế hoạch, dự án hợp tác; đưa công tác hợp tác
với nước ngoài về pháp luật đi vào nền nếp và tăng cường hiệu quả của
quản lý nhà nước đối với công tác này. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định
trên chắc chắn sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng các
nguồn tài trợ của nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật, nhằm góp phần tích
cực thực hiện một cách hiệu quả mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Phần III
Đánh giá tình hình hợp tác với nước ngoài
về pháp luật từ khi ban hành Nghị định 103
(năm 1998) đến nay
I. Đánh giá những thành tựu của các dự án, chương trình, hoạt động hợp
tác
chính Viễn thông, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban Dân số, Gia đình
và Trẻ em, Bộ Thủy sản... Các đối tác nước ngoài cũng rất đa dạng, bao
gồm các chính phủ nước ngoài (Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đan Mạch,
Thụy Điển, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Hàn Quốc...), các tổ chức liên chính
phủ (Liên hợp quốc, EU), các tổ chức phi chính phủ (KAS, FES...) đến các
tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế và khu vực (WB, IMF, ADB)...
Các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật trên thực tế rất đa dạng và
phong phú. Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tạm thời khái quát
thành 04 nhóm7 hoạt động lớn sau:
- Hỗ trợ xây dựng thể chế pháp luật (khung pháp luật);
- Hỗ trợ tăng cường năng lực các thiết chế thi hành pháp luật;
- Hỗ trợ công tác đào tạo pháp luật;
6
Báo cáo về đánh giá nhu cầu phát triển toàn diện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010.
7
Chúng tôi sử dụng cách phân loại hệ thống pháp luật
trong Báo cáo về đánh giá nhu cầu phát triển toàn diện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010.
26
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
- Hỗ trợ công tác thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ
giúp pháp lý.
27
Đánh giá thực trạng công tác quản lý và điều phối hoạt động hợp tác
với nước ngoàI về pháp luật
ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới, Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19/3/2002
của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số
08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị...
Tuy nhiên, xây dựng khung pháp luật đáp ứng được những yêu cầu của
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ xuất phát điểm
mô hình pháp luật trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung là một điều không
đơn giản, đòi hỏi phải có những thay đổi ngay từ trong tư duy, trong nhận
thức của đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách, pháp luật. Muốn xây dựng
được những văn bản pháp luật có chất lượng tốt, đáp ứng được những đòi
hỏi của tình hình thực tế, đặc biệt là những văn bản pháp luật điều chỉnh
lĩnh vực kinh tế thị trường và pháp luật hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi các
cán bộ pháp luật, mà trước hết là đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng,
thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm cả điều ước quốc
tế) phải không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, kinh nghiệm. Các hoạt
động hợp tác quốc tế đóng vai trò là cầu nối một cách rất thiết thực và hiệu
quả, không chỉ dừng lại ở sự chuyển giao kiến thức, kinh nghiệm mà còn
giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về hệ thống pháp luật Việt Nam, từ đó có
thêm thiện cảm với đất nước và con người Việt Nam, không có những cái
nhìn sai lệch về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Ngay từ năm 1994 (trước khi ban hành Nghị định 103), UNDP đã có
những hoạt động hợp tác với Chính phủ Việt Nam để hỗ trợ các nỗ lực của
Chính phủ Việt Nam trong việc củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Thông qua dự án hợp tác với Bộ Tư pháp Việt Nam, UNDP đã hỗ trợ
chính phủ. (Về chi tiết các dự án, chương trình hỗ trợ thể chế đề nghị xem
ở Phụ lục I của Báo cáo này).
Tóm lại, trong khoảng 5 năm trở lại đây, có khoảng ít nhất 50 văn bản
quy phạm pháp luật (từ bộ luật, luật, pháp lệnh đến nghị định, thông tư...)
đã được các nhà tài trợ hỗ trợ về tư vấn chuyên môn cũng như kỹ thuật xây
dựng văn bản. Chúng tôi cho rằng cái được lớn nhất ở đây là các chuyên gia
pháp luật Việt Nam đã được chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm - điều
hết sức quan trọng đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi nói chung
muốn đi tắt đón đầu để nhanh chóng đạt mục tiêu trở thành nước công
nghiệp phát triển.
2.2. Hỗ trợ tăng cường năng lực các thiết chế thi hành pháp
luật
Chúng ta đều biết rằng một hệ thống pháp luật tốt mà không phát huy
tác dụng trong thực tế thì cũng trở thành vô nghĩa. ý thức được tầm quan
29