đánh giá thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện đông anh thành phố hà nội giai đoạn 2009 - 2013 - Pdf 25

i

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
Trí Tuệ Và Phát Triển

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CHO SỰ NGHIỆP
GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2009 - 2013
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Hữu Xuân
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hằng
Khóa : I
Ngành : Kinh tế
Chuyên ngành : Kế hoạch phát triển HÀ NỘI – NĂM 2014
NGUYỄN THỊ HẰNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NĂM 2014
ii


Mọi số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực, xuất phát từ tình
hình thực tế tại đơn vị thực tập là Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Đông
Anh Thành phố Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Hữu Xuân –
Giảng viên Khoa KHPT, Học viện Chính sách và Phát triển.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của khóa luận này. Hà Nội, Ngày 19 tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hằng
iv MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI NSNN CHO SỰ NGHIỆP GIÁO
DỤC 4
1.1.Khái quát về NSNN và chi NSNN 4
1.2.Vai trò của chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục. 6
1.2.1.Vai trò của sự nghiệp giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. 6
1.2.2.Vai trò của chi NSNN đói với sự nghiệp giáo dục. 7
1.3.Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục và các nhân tố ảnh hưởng
đến chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục. 9
1.3.1.Nội dung của chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục. 9
1.3.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục. 14
1.4.Nội dung công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục. 15
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN CHO SỰ

cho giáo dục trên địa bàn huyện Đông Anh trong thời gian tới. 61
3.2.1. Nâng cao năng lực quản lý của Phòng TC - KH huyện Đông Anh
cho sự nghiệp giáo dục. 61
3.2.2. Phân chia các khoản chi NSNN một cách hợp lý cho các đơn vị sự
nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Đông Anh. 67
3.2.3. Tích cực khai thác các nguồn thu để lại của các đơn vị sự nghiệp
giáo dục trên địa bàn huyện. 70
3.2.4. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác kế toán tài
chính ở các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện. 72
3.2.5. Mở rộng phát triển khoa học công nghệ và ứng dụng tin học trong
công tác quản lý tài chính NSNN đối với sự nghiệp giáo dục. 74
3.2.6. Tạo điều kiện để cán bộ giáo viên tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục
tiếp thu, cập nhật các thông tin, hoạt đông Giáo dục mới và hiện đại. 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 78 vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
GD
Giáo dục
HĐND
Hội đồng nhân dân
KBNN


vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Bảng 2.1: Cơ cấu các nguồn thực chi NS cho giáo dục trên địa bàn
huyện Đông Anh giai đoạn 2009-2013 31
Bảng 2.2: Định mức phân bổ NSNN cho sự nghiệp giáo dục của Thành
phố Hà Nội 33
Bảng 2.3: Tỷ lệ chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục so với các sự nghiệp
nghiệp khác trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN trên địa bàn huyện
Đông Anh giai đoạn 2012 – 2013 38
Bảng 2.4: Tình hình chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục theo cơ cấu
nhóm chi giai đoạn 2009 – 2013 40
Bảng 2.5: Tình hình chi cho con người giai đoạn 2009 – 2013 43
Bảng 2.6: Tình hình sử dụng kinh phí chi cho mua sắm, sửa chữa, xây
dựng nhỏ giai đoạn 2009 – 2013 46
Bảng 2.7: Tình hình sử dụng kinh phí chi cho hoạt động quản lý hành
chính giai đoạn 2009 – 2013 48
Sơ đồ 1.1: Cơ câú tổ chức bộ máy hành chính của Phòng TC - KH
huyện Đông Anh 25
Sơ đồ 2.1: Quy trình cấp phát NSNN cho giáo dục trên địa bàn huyện
Đông Anh 37
1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Ở bất kì thời kì nào, xã hội nào thì con người cũng luôn là nhân tố quyết
định đến với sự phát triển của mỗi quốc gia và giáo dục luôn là yếu tố quan

chính - Kế hoạch huyện Đông Anh đã định hướng cho tôi đi sâu nghiên cứu
đề tài: " Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi Ngân sách nhà nƣớc
cho sự nghiệp giáo dục của huyện Đông Anh Thành phố Hà Nội giai đoạn
2009 - 2013".
Trên cơ sở lý luận chung về chi NSNN và quản lý chi NSNN, khóa luận
đã góp phần khái quát vai trò, nội dung chi NSNN cho lĩnh vực là giáo dục và
nội dung quản lý chi NSNN cho giáo dục, đồng thời thông qua việc nghiên
cứu toàn diện công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục trên địa bàn huyện
Đông Anh, đề xuất các biện pháp quản lý chi NSNN cho giáo dục thời gian
tới hợp lý hơn.
2. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu.
Tập trung nghiên cứu công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo
dục của huyện Đông Anh trên tất cả các mặt.
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản
lý chi NSNN cho giáo dục và đào tạo ở địa phương, nhằm đề xuất các giải
pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục và đào tạo
trên địa bàn huyện Đông Anh để đạt được hiệu quả cao nhất, đáp ứng được
yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý chi NSNN và nâng cao chất lượng giáo
dục huyện Đông Anh trong thời gian tới.
3.Phạm vi nghiên cứu
Do đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý chi ngân sách cho giáo dục
nên khóa luận không xem xét đến khía cạnh thu, quản lý các khoản thu khác
của sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện. Phạm vi nghiên cứu giới hạn đối
3

với các đơn vị thuộc địa phương quản lý và tập trung trong giai đoạn từ năm
2009 – 2013.
4.Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để phục vụ cho nghiên cứu đề tài, trong phạm vi khóa luận này đã sử
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các phương

nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm, để bảo đảm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
*Chi ngân sách nhà nước.
Là một trong hai nội dung cơ bản của hoạt động của NSNN, chi NSNN
là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN do quá trình thu tạo lập nên nhằm
duy trì sự tồn tại, hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước và thực hiện
các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Chi NSNN phản ảnh mục tiêu hoạt động của ngân sách, đó là đảm bảo
về mặt vật chất (tài chính) cho hoạt động của Nhà nước, với tư cách là chủ
thể của SNNN trên hai phương diện: (1) Duy trì sự tồn tại và hoạt động bình
5

thường của bộ máy Nhà nước, (2) Thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà Nhà
nước phải gánh vác. Chi NSNN bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau. Giai
đoạn thứ nhất là phân phối (phân bổ) quỹ NSNN cho các đối tượng, mục
tiêu khác nhau. Quá trình phân phối được thực hiện trên dự toán và trên thực
tế (chấp hành Ngân sách Nhà nước), dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như
chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội thể hiện
cụ thể dưới dạng định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách. Giai đoạn tiếp
theo là việc sử dụng phần quỹ NS đã được phân phối của các đối tượng được
hưởng thụ, hay còn gọi là quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền
của NSNN. NSNN được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp,
gián tiếp và các khâu tài chính khác phi Nhà nước. Chi NS kết thúc khi tiền
đã thực sự được sử dụng cho các mục tiêu đã định. Trong quản lý NSNN ở
nước ta hiện nay người ta chủ yếu phân loại nội dung chi của nó theo một số
nhóm lớn, như: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ, chi viện trợ
và chi khác:
- Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn
NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm
vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công

toàn cầu hoá đang mở ra trước mắt, một nền kinh tế tri thức đang hình thành
và phát triển thì đòi hỏi phải có những con người có trình độ hiểu biết thực sự.
Điều này đặt ra thách thức cho Việt Nam bởi trình độ dân trí chưa cao, trình
độ khoa học- kỹ thuật kém phát triển.
Đất nước ta đang ở trong thời kỳ CNH - HĐH phấn đấu đưa đất nước
ta thoát khỏi tình trạng đói nghèo và lạc hậu, tiến lên một nước có nền công
nghiệp hiện đại, nền văn hoá tiên tiến, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội. Muốn vậy phải có đội ngũ tri thức, các nhà kinh doanh, quản lý,
chuyên gia giỏi ở nhiều lĩnh vực mà nền tảng của nó là giáo dục. Giáo dục
được coi là chìa khoá tiến vào tương lai. Mặt khác, để có được đội ngũ cán bộ
7

lao động có đủ năng lực tiếp cận với những công nghệ hiện đại, những
phương pháp quản lý tiên tiến thì giáo dục- đào tạo phải luôn đi trước một
bước đối với các ngành kinh tế khác, giáo dục - đào tạo phải là cơ sở để tạo
tiền đề cho sự phát triển nền kinh tế. Để làm được điều đó phải quán triệt
những quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của sự nghiệp giáo dục- đào tạo,
phải nhanh chóng khắc phục những yếu kém của sự nghiệp giáo dục- đào tạo
hiện nay để từ đó đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kinh tế- xã hội.
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục- đào tạo đối với sự nghiệp phát triển
kinh tế- xã hội trong những năm qua đảng và nhà nước kêu gọi khuyến khích
toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục- đào tạo. Nhà nước, các tổ chức
kinh tế, chính trị, xã hội và toàn dân đã tập trung sức thực hiện các mục tiêu
cơ bản về giáo dục, giải quyết những vướng mắt trong từng thời kỳ, phát triển
nguồn nhân lực toàn diện đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH
của đất nước.
Giáo dục không thể thực hiện được trong một thời gian ngắn mà là một
quá trình gắn kết của nhiều cấp, bậc học và diễn ra trong thời gian dài. Chúng
ta cần phát triển giáo dục trên cả ba phương diện:mở rộng quy mô, nâng cao
chất lượng và phát huy hiệu quả. Điều đó đòi hỏi phải đưa sự nghiệp sự

đảm bảo chi theo đúng dự toán, kế hoạch.
- Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản đầu tư chiếm tỷ trọng lớn
nhất tạo ra cơ sở vật chất, mua sắm, sửa chữa trang thiết bị, đồ dùng giảng
dạy. Đây là khoản chi hết sức cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
giáo dục. Nếu coi đội ngũ giáo viên là lực lượng lao động, học sinh là đối
tượng lao động thì trang thiết bị, cơ sở vật chất chính là những công cụ lao
động. Chúng gắn liền với nhau tạo thành một quy trình hoàn chỉnh không thể
tách dời nhau.
- NSNN chính là nguồn tai chính cơ bản đảm bảo đời sống đội ngũ cán
bộ giảng dạy, đội ngũ cán bộ quản lý hành chính của toàn bộ hệ thống giáo
dục. NSNN ngoài việc đảm bảo tiền lương hàng tháng cho cán bộ, giáo viên
thì còn dành một phần ưu đãi riêng cho sự nghiệp giáo dục như: phụ cấp
9

giảng dạy, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp dạy thêm giờ Đây cũng là những yếu tố
khích lệ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
- Đầu tư của NSNN tạo điều kiện ban đầu để khuyến khích nhân dân
đóng góp xây dựng, tăng cường cơ sở vật chất để phục vụ cho công tác giảng
dạy được tốt hơn, thu hút các nguồn nhân lực, tài lực trong xã hội cùng tham
gia chăm lo sự nghiệp giáo dục.
- Thông qua chi NSNN để điều phối cơ cấu giáo dục toàn ngành: Tuỳ
thuộc vào chủ trương, đường lối của mình mà thông qua chi NSNN có thể
định hướng, sắp xếp lại cơ cấu các cấp học, ngành học, mạng lưới trường lớp,
điều chỉnh sự phát triển đồng đều giữa các vùng thành thị, nông thôn, miền
núi
Trong những năm gần đây tỷ trọng chi cho sự nghiệp giáo dục tăng
nhanh, năm sau luôn cao hơn năm trước nhưng nếu so với nhu cầu phát triển
thì nguồn NSNN dành cho giáo dục vẫn còn hạn hẹp. Trong điều kiện NSNN
vẫn còn khó khăn, nhu cầu chi tăng không ngừng đòi hỏi vấn đề đầu tư như
thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất. Vì vậy cần phải cải tiến phương thức

CNi
CNi
CN
SxMC
1
)(

Trong đó:
-
CNi
M
: mức chi bình quân một công nhân viên dự kiến kì kế hoạch.
-
CNi
S
:số công nhân viên bình quân dự kiến có mặt trong năm kế hoạch
ngành i.
-C
CNi
: số kinh phí chi cho công nhân viên dự kiến kì kế hoạch.
CNi: thường được xác định dựa vào mức chi thực tế kì báo cáo đồng
thời tính đến những điều chỉnh có thể xảy ra về mức lơng, phụ cấp và một số
khoản khác mà nhà nớc dự kiến thay đổi.

S
CN

=
Số CCVC có
mặt đầu năm

thống giáo dục. Nó đáp ứng được nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần cho
cán bộ giáo viên nhằm tái sản xuất sức lao động của họ, từ đó kích thích động
viên tinh thần giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục.

Nhóm 2: Chi về mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhỏ.
Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố
định dùng cho các hoạt động hành chính sự nghiệp nên thường phát sinh kinh
phí cần có để mua sắm thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản
cố định đã bị xuống cấp ở những đơn vị được ngân sách nhà nước bao cấp. Vì
vậy phải xác định nhu cầu kinh phí để đáp ứng cho mua sắm để sửa chữa lớn
Số CCVC dự
kiến giảm năm
KH
=
Số CCVC dự
kiến tăng năm
KH
=
12

hoặc xây dựng nhỏ trong dự toán kinh phí hàng năm của mỗi đơn vị để lập dự
toán cho ngân sách nhà nước.
Khi lập dự toán chi cho ngân sách nhà nước cho nhóm mục này cơ quan
tài chính chủ yếu dựa trên những căn cứ sau:
 Trạng thái của tài sản đã sử dụng tại mỗi ngành, mỗi đơn vị thông qua
các tài liệu quyết toán kinh phí kết hợp với điều tra thực tế để dự tính mức chi
cho mỗi ngành, đơn vị.
 Khả năng của nguồn vốn ngân sách đáp ứng các yêu cầu về trang thiết
bị trong kì kế hoạch.
Kết hợp hai căn cứ trên, cơ quan tài chính có thể dự tính mức chi cho


+ Sách giáo khoa.
+ Tài liệu tham khảo cho giáo viên.
+ Đồ dùng học tập.
+ Vật liệu hoá chất thí nghiệm.
+ Phấn viết bảng
Số chi này được xác định theo công thức:




n
i
NViNV
CC
1

: Chi nghiệp vụ - chuyên môn dự kiến kỳ kế hoạch của NSNN
thuộc ngành i
C
NVi
=
Số chi dự
kiến về vật
liệu, dụng cụ
cho NVCM
+
Số dự kiến chi
về NCKH hay
thuê NCKH


14 Trong đó:
C
QL
: Số chi QLHC dự kiến kỳ KH của NSNN;
QL
M
: Mức chi quản lí hành chính bình quân một CCVC dự kiến năm
KH thuộc ngành i;
CNi
S
: Số công nhân viên bình quân dự kiến có mặt trong năm KH thuộc
ngành i.
Căn cứ để xác định mức chi quản lí hành chính dự kiến cho năm kế
hoạch là dựa vào mức chi quản lí hành chính thực tế bình quân một công nhân
viên kì báo cáo, khả năng nguồn vốn của ngân sách kì kế hoạch và yêu cầu
chi tiết kiệm trong quản lí hành chính.
1.3.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
Trong mỗi giai đọan khác nhau, mức độ, nội dung cơ cấu chi NSNN
cho sự nghiệp giáo dục cũng có sự khác nhau, sự khác nhau đó bắt nguồn từ
các nhân tố ảnh hưởng sau:
- Chế độ chính trị của quốc gia theo từng thời kì: Tuỳ theo chế độ chính
trị của mỗi quốc gia mà nhà nước quyết định những nhiệm vụ kinh tế - chính
trị xã hội, do đó nó quyết định đến nội dung, cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp
giáo dục.
- Mức độ phát triển của lực lượng sản xuất: Đây là nhân tố vừa tạo ra
tiền đề, khả năng cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi NSNN cho sự

Là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý NSNN nói chung và chi ngân
sách giáo dục nói riêng. Khâu này mang tính định hướng tạo cơ sở nền tảng
cho các khâu tiếp theo. Quản lý theo dự toán có nghĩa là cấp, phát và sử dụng
vốn ngân sách phải có dự toán. Trước khi cấp phát và sử dụng vốn NSNN cho
sự nghiệp giáo dục phải xây dựng dự toán theo đúng quy trình, định mức và
được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt, đồng thời việc cấp phát cũng phải dựa
trên cơ sở kế hoạch và dự toán đã được duyệt. Đơn vị được nhận nguồn vốn
16

NSNN phải sử dụng nguồn vốn theo các khoản và mục đích đã định trước
trong dự toán đã trình lên. Ngoài ra, tuỳ theo tình hình thực tế mà xem xét các
khoản chi vượt dự toán nhưng phải phù hợp với chính sách, chế độ quản lý tài
chính hiện hành.
- Căn cứ lập dự toán chi thường xuyên:
+ Chủ trương, định hướng của Đảng , Nhà nước và chỉ thị của Thành
phố về duy trì và phát triển sự nghiệp giáo dục trong từng thời kỳ. Dựa vào
căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo
dục có sự cân đối với dự toán chi ngân sách cho các lĩnh vực khác.
+ Chỉ tiêu, kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục về các mặt có liên
quan trực tiếp đến việc cấp, phát của ngân sách trong kỳ.
+ Dựa vào khả năng nguồn vốn ngân sách có thể chi cho sự nghiệp giáo
dục.
+ Các chính sách, chế độ, định mức chỉ tiêu sử dụng kinh phí ngân sách
nhà nước.
+ Kết quả, phân tích đánh giá về tình hình sử dụng kinh phí của sự
nghiệp giáo dục đã thực hiện trong những năm qua.
- Quy trình lập dự toán chi:
+ Bước 1: Căn cứ vào mức chi dự kiến cơ quan tài chính phân bổ cho
ngành giáo dục và các văn bản hướng dẫn lập dự toán, ngành giáo dục giao
chỉ tiêu và hướng dẫn cho sự nghiệp giáo dục lập dự toán chi.

hành. Đây là căn cứ có tính pháp lý bắt buộc quá trình cấp phát sử dụng các
khoản chi phải tuân thủ, là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của việc
cấp phát và sử dụng các khoản chi.
Các biện pháp nhằm tăng cường công tác cấp phát và sử dụng các
khoản chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục:
18

+ Hướng dẫn các cơ sở, đơn vị thuộc sự nghiệp giáo dục thực hiện tốt
chế độ hạch toán kế toán áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp hành chính. Hạch
toán đầy đủ, rõ ràng các khoản chi cho từng loại hoạt động.
+ Quy định rõ ràng trình tự cấp phát, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi
cơ quan trong quá trình cấp phát, sử dụng các khoản chi NSNN.
+ Thường xuyên kiểm tra tình hình nhận và sử dụng vốn kinh phí
NSNN ở các cơ sở, đơn vị thuộc sự nghiệp giáo dục, đảm bảo đúng dự toán,
phù hợp với định mức chế độ chi NSNN hiện hành.
+ Cụ thể hoá dự toán chi tổng hợp cả năm thành dự toán chi hàng quý,
hàng tháng để lam căn cứ quản lý cấp phát.
Kiểm tra quyết toán:
Quyết toán là quá trình kiểm tra rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đã được
phản ánh sau một kỳ hạch toán và chấp hành dự toán nhằm phân tích, đánh
giá kết quả chấp hành dự toán kỳ đã qua để rút kinh nghiệm cho kỳ chấp hành
dự toán tiếp theo. Nội dung quyết toán bao gồm:
+ Quyết toán vốn ngân sách.
+ Tình hình sử dụng vốn ngân sách.
Công tác quyết toán được tiến hành theo nguyên tắc đơn vị dự toán cấp
dưới phải nộp báo cáo quyết toán cho đơn vị cấp trên xét duyệt. Việc quyết
toán được tiến hành theo các bước sau: các đơn vị, các trường học thuộc sự
nghiệp giáo dục phải báo cáo quyết toán của đơn vị mình gửi lên cơ quan
quản lý cấp trên để cơ quan quản lý cấp trên tiến hành kiểm tra và quyết toán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status