Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
Chơng 1:
Nhng vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi NSNN cho
giáo dục ĐạI học
1.1.GDĐH và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
1.1.1.Vài nét về giáo dục và giáo dục Đại học
Giáo dục (bao hàm cả GDĐH) có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến sự phát
triển của con ngời và phát triển nền kinh tế. Việc nhận thức về mặt lý luận và thực
tiễn mỗi quan hệ này là cần thiết làm cơ sở cho những lựa chọn đờng lối, chính
sách nhằm phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Giáo dục đợc coi là một hiện tợng phổ biến cho mọi giai đoạn phát triển và
tồn tại vĩnh hằng cùng với xã hội loài ngời. Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau
khi trình bày khái niệm về giáo dục, vì vậy có thể đa ra một số khái niệm chung
nhất về giáo dục nh sau:
-Nhà giáo dục Savin - đã định nghĩa rằng Theo nghĩa rộng, khái niệm giáo
dục là tất cả các quá trình chuẩn bị cho thế hệ đang lớn lên bớc vào cuộc sống, bao
gồm cả quá trình dạy học và đào tạo. Theo khái niệm này thì giáo dục đợc hiểu
bao gồm cả giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên nó lại chỉ đề cập đến một mặt là: Quá
trình chuẩn bị cho thế hệ đang lớn lên. Trên thực tế thì giáo dục bao gồm các hoạt
động nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng của con ngời trong suốt cuộc đời chứ
không phải chỉ trong thời trẻ nh khái niệm nêu trên của Savin. Có thể nói khái
niệm này không đủ để hiểu hết về giáo dục, hay nói một cách cụ thể hơn là để
phân tích tính kinh tế của giáo dục.
-Trong khi đó Gilis một nhà giáo dục khác lại đa ra một khái niệm theo
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
nghĩa rộng, giáo dục là tất cả các hoạt động học tập của con ngời, hay nói một
cách hẹp hơn đó là quá trình có ở trong những nơi đợc chuyên môn hoá gọi là tr-
ờng học. GD là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng con ngời
theo những khía cạnh khác nhau. Giáo dục với khái niệm rộng gần giống với nghĩa
Quan niệm về GDĐH đợc tổ chức văn hoá, giáo dục, xã hội Liên hợp quốc
(UNESCO) đề xuất từ năm 1986 và đợc nhiều nớc thừa nhận với tên gọi là GD
bậc 3. Nhng từ sau hội nghị quốc tế về GD ĐH ở Pari (pháp) năm 1998 có quan
niệm mới: GD ĐH ở thế kỷ 21 là học tập suốt đời và bao gồm tất cả các loại hình
học tập, đào tạo hay đào tạo cho ngời có trình độ bậc trung học đợc cung cấp bởi
các viện đại học hay tổ chức giáo dục đã đợc cấp có thẩm quyền công nhận là cơ
sở GD ĐH.
Quan niệm mới về GD ĐH có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho sự phát
triển mạnh các phơng thức đào tạo phi truyền thống (đào tạo từ xa, đào tạo đại học
mở) đồng thời đa dạng hoá và linh hoạt trong hoạt động GD ĐH.
ở nớc ta, Luật giáo dục đã quy định: GD ĐH đào tạo trình độ cao đẳng và
trình độ đại học.
Thứ nhất, Đào tạo trình độ Cao đẳng đợc thực hiện trong ba năm đối với ng-
ời có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc tốt nghiệp trung học chuyên
nghiệp.
Thứ hai, Đào tạo trình độ đại học đợc thực hiện từ 4 6 năm học tuỳ theo
từng ngành nghề đào tạo đối với ngời có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc
bằng tốt nghiệp THCN, từ 1 2 năm đối với ngời có bằng tốt nghiệp cao đẳng
cùng chuyên ngành.
Theo đó, cơ sở GD ĐH bao gồm:
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
-Trờng CĐ đào tạo trình độ cao đẳng.
-Trờng ĐH đào tạo trình độ CĐ, ĐH và đào tạo trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ khi
đợc Thủ Tớng Chính Phủ giao.
1.1.2.Vai trò của giáo dục Đại học đối với sự phát triển kinh tế xã hội của
đất nớc
Từ trớc đến nay Đảng và Nhà nớc ta đặc biệ quan tâm đến công tác giáo
dục-đào tạo và coi đó là một trong những quyết sách hàng đầu để xây dựng và phát
triển đất nớc. Điều đó xuất phát từ vai trò to lớn và tầm quan trọng của giáo dục
từ khi xã hội có giai cấp, có nhà nớc thì giáo dục đào tạo luôn là công cụ quan
trọng của Nhà Nớc. Giai cấp cầm quyền luôn nắm lấy giáo dục, chi phối giáo dục
theo hớng củng cố quyền lực và bảo vệ lợi ích của mình.
Đào tạo đại học phục vụ chính trị, nhng đào tạo đại học tồn tại tơng đối độc
lập với chính trị. Giáo dục đào tạo là hiện tợng phổ biến và tơng đối vĩnh hằng.
Giai cấp thống trị muốn biến giáo dục thành công cụ để củng cố địa vị của mình
nhng xét về bản chất, giáo dục thực sự gắn với những xu hớng chính trị tiến bộ, có
xu hớng chống lại những xu hớng phản tiến bộ. Nền giáo dục của chúng ta hiện
nay là nền giáo dục đợc ra đời và phát triển nhờ một thể chế chính trị cách mạng
tiến bộ. Mục tiêu CNXH và độc lập dân tộc đợc quán triệt một cách sâu sẳc trong
toàn bộ hệ thống giáo dục Việt Nam.
Vai trò của GDĐH đối với văn hoá :
Xét về góc độ lịch sử, văn hoá chỉ đợc hình thành thông qua một quá trình
sáng tạo lâu dài, xây dựng và truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Trong quá trình này không thể thiếu vai trò của giáo dục đào tạo nói
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
chung và GDĐH nói riêng. Có thể nói rằng trong văn hoá có giáo dục, trong giáo
dục có văn hoá. Văn hoá theo nghĩa rộng của khái niệm bao hàm toàn bộ các giá
trị vật chất tinh thần mà loài ngời sáng tạo ra đợc giữ gìn, bảo vệ và lu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Nh vậy văn hoá trong quá trình vận động, phát triển
của mình bao giờ cũng đợc xem xét ở cả khía cạnh sáng tạo và truyền lại. Chức
năng của GDĐH chính là việc truyền lại những giá trị văn hoá. Giá trị tinh thần do
con ngời sáng tạo ra đợc tập hợp lại hệ thống hoá, khái quát trở thành những tri
thức trong giáo trình bài giảng của nhà trờng. Nh vậy chính văn hoá đã mang đến
cho GDĐH những nội dung thiết yếu, cần thiết. Còn đào tạo đại học cũng không
phải là một quá trình thụ động mà là một quá trình sáng tạo. Sự sáng tạo trong quá
trình giáo dục làm phong phú thêm những giá trị văn hoá vốn có, làm náy sinh
những giá trị văn hoá mới. Điều quan trọng hơn nữa là GDĐH tạo ra những con
ngời có khả năng sáng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần trong tơng lai. Nh vậy nhờ
với khoa học cộng nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu,phải coi đầu t
cho giáo dục là một trong những hớng chính của đầu t phát triển,tạo điều kiện cho
giáo dục đi trớc và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội .
1.2.Sự cần thiết của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào tạo
Đại học
1.2.1.Khái niệm, nội dung chi NSNN cho giáo dục Đại học
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nớc trong dự toán đã đợc cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà Nớc ( Điều 1 luật NSNN )
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
Thu NSNN là việc Nhà nớc dùng quyền lực của mình để tập trung một phần
nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu của
Nhà nuớc.
Thu NSNN gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; từ các hoạt động kinh tế
của Nhà nớc; thu từ bán, khoán cho thuê tài nguyên; thu từ viện trợ của các tổ chức
và cá nhân và các khoản thu khác theo luật định
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quĩ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện
các chức năng của Nhà nớc theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN ta bao
gồm :
- Chi thờng xuyên
- Chi đầu t phát triển
- Chi trả nợ gốc tiền vay
- Chi bổ sung quĩ dự trữ tài chính
Chi thờng xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng, vốn từ quĩ
NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hện các nhiệm vụ thờng xuyên
của Nhà nớc về quản lý kinh tế, xã hội.
Chi NSNN cho sự nghiệp đào tạo là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu chi
thờng xuyên của NSNN, đó là quá trình phân phối lại nguồn vốn từ quĩ tiền tệ tập
trung của Nhà nớc nhằm đáp ứng nhu cầu chi để duy trì và phát triển sự nghiệp đào
Nhóm 2: Chi cho quản lý hành chính :
Thuộc nhóm chi này bào gồm các khoản chi về công tác phí,nghiệp vụ
phí,hội nghị phí,công vụ phí đảm bảo phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính
của nhà trờng và các cơ sở đào tạo.
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
Nhóm 3: Chi cho giảng dạy,học tập và nghiên cứu khoa học:
Nhóm chi này đáp ứng nhu cầu kinh phí cho việc mua sắm tài liệu, sách
giáo khoa,giáo trình,đồ dùng học tập, hoá chất thí nghiệm,phấn viết bảng chi
nghiên cứu khoa học,chi kiến tập, chi thực tập ngoài trờng
Nhóm 4; Chi cho mua sắm,sửa chữa trang thiết bị học tập:
Nhóm chi này đáp ứng nhu cầu kinh phí cho việc mua sắm, sủa chữa máy
móc, thiết bị học tập, thực hành cho sinh viên. Các khoản chi này phát sinh không
thờng xuyên,mức độ chi phụ thuộc vào nhu cầu, thực trạng nhà cửa, trang thiết
bị.
Chi NSNN cho đào tạo ĐH đợc phân bổ tính theo đầu sinh viên tuyển theo
chi tiêu kế hoạch Nhà nớc có ngân sách.
Tổng số chi NSNN cho đào tạo ĐH thay đổi qua các năm. Điều này phụ
thuộc vào các nhân tố sau :
Một là : Định hớng và chiến lợc phát triển giáo dục đào tạo nói chung và
đào tạo đại học nói riêng của Đảng và nhà nớc ta trong từng thời kỳ.
Với ý nghĩa là bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế hiện đại và ngày
càng đợc coi là yếu tố đứng hàng đầu tạo ra động lực bên trong cho phát triển
kinh tế, giáo dục đào tạo nói chung và sự nghiệp đào tạo đại học nói riêng luôn đ-
ợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc cả về định hớng phát triển cũng nh nguồn
kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ khác nhau do thực trạng nền
kinh tế xã hội và nhu cầu về số lợng, chất lợng, cơ cấu nguồn lao động thì chiến l-
ợc giáo dục đào tạo của Nhà Nớc thay đổi cho phù hợp. Điều đó kéo theo sự thay
đổi của nguồn kinh phí cho giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói
riêng.
ng trong đó nguồn vốn NSNN là nguồn vốn ổn định và giữ vai trò chủ đạo chiếm
khoảng 85%-90% trong các nguồn vốn đầu t cho đào tạo đại học. Vì vậy muốn
duy trì và phát triển hệ thống đào tạo đại học công lập thì vai trò của chi NSNN là
vô cùng quan trọng và đóng vai trò quyết định.Sở dĩ NSNN cần đầu t cho đào tạo
đại học là do những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất: Giáo dục không phải là hàng hoá công cộng thuần tuý. Nó mang
đặc trng của hàng hoá công cộng không thuần tuý và tạo ra những ảnh hởng ngoại
lai tích cực mà cơ chế thị trờng không phản ảnh đợc. Vì vậy, nhà nớc cần dẫn đầu
trong việc đầu t vào giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng.
Thứ hai : Đầu t của nhà nớc sẽ thúc đẩy đầu t của t nhân. Nh chúng ta đã
biết, lợi ích của giáo dục không chỉ dành cho những ngời đợc giáo dục trực tiếp mà
còn cho cả xã hội nói chung. Tuy nhiên, các cá nhân có thể không tính đến những
tác động này trong việc quyết định liệu có nên đầu t vào việc học tập cho bản thần
họ hay con cái họ hay không. Hoặc trong một số trờng hợp họ đơn giản không biết
đến những tác động bên ngoài của việc giáo dục. Trong những trờng hợp khác, họ
có thể biết song thiếu sự khuyến khích để đi đến quyết định. Nếu không có sự hỗ
trợ của Chính phủ, các chi phí cho giáo dục sẽ thấp hơn mức mong muốn. Do vậy,
những khuyến khích của Chính phủ đối với giáo dục và đầu t của Chính phủ vào
giáo dục sẽ thúc đẩy sự đầu t của t nhân, hớng t nhân vào các loại hình đào tạo cần
thiết.
Thứ ba: Đầu t của Nhà nớc vào giáo dục nhằm giảm bất bình đẳng.Trong xã
hội không phải tất cả các nhóm dân c đều có khả năng trả các khoản chi phí trực
tiếp liên quan đến việc đầu t vào giáo dục. Nếu giáo dục đợc cung cấp nh một dịch
vụ trong nền kinh tế thị trờng thì chỉ những ngời có khả năng trả các loại chi phí
mới đợc vào học.Vì vậy, cần phải có sự đầu t của Nhà nớc vào giáo dục.Và đầu t
của nhà nớc suy cho cùng là để tăng thêm hiệu quả của đầu t xã hội vào giáo dục
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
và tạo ra sự công bằng về cơ hội giáo dục. Khi công bằng trong phân bố giáo dục
đợc giải quyết thì sẽ dẫn đến công bằng trong phân bổ thu nhập.
cấp,BHXH,BHYT, chi học bổng và sinh hoạt phí cho sinh viên và cán bộ đi học,
chi đầu t xây dựng cơ bản cho cơ sở vật chất nh xây dựng trờng lớp, mua sắm thiết
bị
Thứ hai: Đầu t của NSNN cho các trờng nh là một cú hích ban đầu để
khuyến khích nhân dân đóng góp, xây dựng và sửa chữa trờng lớp, đồng
thời thu hút các nguồn đầu t từ lao động sản xuất, hợp đồng nghiên cứu
ứng dụng khoa học công nghệ của các trờng, thu hút sự đóng góp của các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, đây còn là
nguồn tài chính để phát huy nguồn viện trợ và vay của nớc ngoài để đầu
t cho các trờng.
Thứ ba: NSNN bảo đảm từng bớc ổn định đời sống đội ngũ cán bộ giảng
dạy cho các trờng. Tuy đời sống của giáo viên còn ở mức thấp nhng
Ngân sách Nhà nớc vẫn đảm bảo mức lơng chính cho họ, hiện nay thang
bậc lơng của đội ngũ cán bộ giảng dạy là một trong những thang bặc l-
ơng cao nhất trong hệ thống thang bậc lơng hành chính sự nghiệp của
Nhà nớc. Ngoài ra, Ngân sách Nhà nớc còn dành một phần để phụ cấp u
đãi riêng nh phụ cấp giảng dạy, phụ cấp thâm niên, phụ cấp trách nhiệm.
Họ đợc hởng phụ cấp u đãi với mức thấp nhất là 20% và cao nhất là 70%
tiền lơng.
Thứ t: Ngân sách Nhà nớc có vai trò điều tiết cơ cấu của các trờng cũng
nh hệ thống giáo dục đào tạo toàn ngành, điều đó có nghĩa là thông qua
các định mức chi Ngân sách Nhà nớc hàng năm đã góp phần định hớng
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
sắp xếp cơ cấu mạng lới các trờng nhằm phát huy tiềm lực của đội ngũ
cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất của mỗi trờng và của toàn hệ thống, tạo
ra chất lợng cao và hiệu quả lớn trong hệ thống cá trờng đại học. Ngoài
ra, còn góp phần phân biệt ngành nghề đào tạo theo các khối trờng: y
dợc, kinh tế - tài chính, pháp lý, văn hóa - nghệ thuật - thể dục thể thao.
Điều chỉnh giáo dục giữa các vùng ( thành phố, đồng bằng, vùng núi,
theo dự toán đợc thể hiện qua các giác độ sau:
Mọi nhu cầu chi tiêu dự kiến trong năm kế hoạch cho sự nghiệp đào tạo đại
học nhất thiết phải đợc xác định trong dự toán, thông qua các bứoc xét duyệt của
các cơ quan có thẩm quyền. Chỉ sau khi đợc cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và
thông qua, dự toán chi mới trở thành căn cứ chính thức để phục vụ cho công tác
quản lý và điều hành công tác chi NSNN cho đào tạo đại học.
Trong quá trình thực hiện dự toán, ở mỗi đơn vị sự nghiệp đào tạo phải căn
cứ vào dự toán kinh phí đã đợc duyệt mà phân bổ và sử dụng cho các khoản, mục
và hạch toán theo đúng mục lục ngân sách đã quy định.
Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả :
Có thể nói rằng tiết kiệm hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan
trọng hàng đầu trong quản lý sử dụng NSNN nói chung và chi NSNN cho đào tạo
đại học nói riêng.Điều này xuất phát từ nguyên nhân sau :
Trong thực tế nguồn lực tài chính luôn có giới hạn nhng nhu cầu chi thì ngày
một tăng.Đặc biệt trong sự nghiệp đào tạo đại học, khi mà nhu cầu về nguồn nhân
lực có trình độ cao ngày càng tăng thì quy mô và chất lợng đào taọ cũng phải tăng
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
theo,vì vậy nhu cầu chi cũng không ngừng tăng lên. Do vậy trong quá trình phẩn
bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm đó cho sự nghiệp đào tạo đại học cần phải tính
toán,xác định sao cho chi phí bỏ ra là ít nhất nhng vẫn đạt hiệu quả cao nhất, đó
cũng chính là mục tiêu chung của quản lý tài chính trong mọi lĩnh vực.
Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả chỉ đợc tôn trọng khi trong quá trình quản
lý chi NSNN cho đào tạo đại học làm tốt và làm đồng bộ một số nội dung sau :
Phải xây dựng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tựng
hay tính chất công việc của sự nghiệp đào tạo đại học, đồng thời phảI có tính thực
tiễn cao.Chỉ có nh vậy các định mức, tiêu chuẩn chi của NSNN mới trở thành căn
cứ pháp lý xác đáng phục vụ cho quá trình quản lý chi NSNN cho đào tạo đại học.
Biết lựa chọn thứ tự u tiên cho các nhóm mục chi sao cho so với tổng số chi
có hạn nhng khối lợng công việc vẫn hoàn thành và đạt kết quả cao. Để đạt đợc
đơn vị sử dụng kinh phí NSNN biết, đồng gửi cơ quan tài chính đồng cấp giải
quyết trong các trờng hợp sau :
-Chi không đúng mục đích, đối tợng theo dự toán đợc duyêt.
-Chi không đúng chế độ, định mức chỉ tiêu tài chính Nh nớc .
-Không đủ các đIều kiện chi theo qui định hiện hành về chi trực tiếp qua
KBNN.
Thứ t : Lựa chọn phơng thức cấp phát, thanh toán đối với từng khoản chi th-
ờng xuyên của đào tạo đại học cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội hiện tại.
1.3.2.Nội dung quản lý chi NSNN cho giáo dục Đại học
Quản lý chi NSNN cho đào tạo đại học là sự tác động có tổ chức và diều
chỉnh quá trình chi NSNN cho đào tạo đại học. Sự tác động đó đợc thực hiện bởi
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
một hệ thống các cơ quan Nhà nớc bằng phơng pháp hành chính, tổ chức, kinh tế
và bằng hệ thống pháp luật nhằm đạt đợc những mục tiêu của Nhà nớc đặt ra trong
từng thời kỳ.
Quản lý chi NSNN cho đào tạo đại học bao gồm 3 nội dung chính sau:
Lập dự toán chi NSNN cho đào tạo đại học:
Lập dự toán là khâu đầu tiên trong quản lý chi NSNN. Trên giác độ quản lý,
lập dự toán giúp cho quá trình điều hành NSNN nói chung và chi NSNN nói riêng
theo một kế hoạch chủ động.
Lập dự toán chi NSNN cho đào tạo đại học phải dựa trên một số căn cứ
chính nh sau:
+ Chủ trơng của Nhà nớc về phát triển sự nghiệp đào tạo đại học
+ Khả năng nguồn vốn NSNN trong từng thời kỳ
+ Các chính sách, tiêu chuẩn, chế độ, định mức chi cho đào tạo đại học
+ Kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí NSNN
đầu t cho sự nghiệp đào tạo đại học kỳ báo cáo.
Chấp hành dự toán chi NSNN cho đào tạo đại học :
Đây là khâu thứ hai của một quy trình quản lý chi NSNN và nó ảnh hởng lớn
Về mạng lới các trờng đại học cao đẳng :
Một trong những chủ trơng về phát triển giáo dục đào tạo trong thời gian
qua là sắp xếp lại mạng lới các trờng học. Đối với GDĐH, việc sắp xếp, phát triển
mạng lới các trờng đại học, cao đẳng hớng vào việc hình thành các trờng đại học
chuyên ngành, đại học mở, xây dựng các trờng đại học địa phơng, cao đẳng cộng
đồng, đại học dân lập và bán công.
Bảng 1: Mạng lới các trờng đại học, cao đẳng ở nớc ta.
2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004
Trờng 178 191 202 214
Cao Đẳng 104 114 121 127
Công lập 99 108 115 119
Ngoài công lập 5 6 6 8
Đại Học 74 77 81 87
Công lập 57 60 64 68
Ngoài công lập 17 17 17 19
Nguồn: Trung tâm thông tin Bộ GD&ĐT.
Có thể nói số lợng các trờng đại học, cao đẳng không ngừng tăng lên trong
thời gian qua. Theo số liệu thống kê giáo dục - đào tạo, năm 2001 tổng số trờng đại
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
học, cao đẳng trong cả nớc là 178 trờng, và con số này đã không ngừng đợc tăng
lên qua từng năm, năm2002 là 191 trờng, năm 2003 là 202 trờng và trong năm học
2003-2004 đã thành lập thêm 16 tròng ĐH-CĐ (không kể khối An ninh-Quốc
phòng) nâng tổng số trờng ĐH-CĐ lên 214 trờng.Nếu tính cả các trờng,khoa thành
viên của Đại học quốc gia và Đại học vùngthì sẽ là 237 trờng khoa.
Chỉ xét riêng về trờng công lập hiện nay cả nớc ta có 187 trờng,
nếu phân cấp quản lý theo chiều dọc, hệ thống các trờng ĐH-CĐ ở nớc ta chia
thành 2 khối: khối các trờng do Bộ GD&ĐT quản lý (99 trờng ) khối các trờng còn
lại do các Bộ chủ quản quản lý ( 88 trờng ). Nếu xét phân cấp quản lý theo chiều
ngang thì gồm khối các trờng do địa phơng quản lý và khối các trờng do TW quản
ĐH 746.759 801.333 857.400
Nguồn: Trung tâm thông tin Bộ GD&ĐT.
Nh vậy quy mô đào tạo ở các trờng ĐH-CĐ không ngừng đợc tăng lên trong
thời gian qua,điều này còn đợc thể hiện qua số lợng sinh viên tuyển mới năm sau
luôn cao hơn năm trớc.Sự gia tăng SV đặc biệt mạnh từ sau năm 1995 và với tốc độ
cao. Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1991-1995 là 20,6%/ năm; 16,4% (1996-2000);
10,2% (2004-2005). Do đó, tỉ lệ SV / 1 vạn dân dù còn kém các nớc trong khu vực
nhng cũng không ngừng tăng lên từ 19 (1990 ) lên 118 (2000), 128 (2002) và 138
(2004).Ta có thể thấy rõ sự tăng lên về quy mô đào tạo đại học thông qua bảng sau
:
Bảng 3: Chỉ tiêu tuyển mới ĐH-CĐ năm học 2005:
2003 2004 KH 2005 KH 2005 so
với 2004 (%)
SV Phan Thế Thành-K39/01.04
Luận văn tốt nghiệp Khoa tài chính công
CĐ & ĐH
Chính quy
Không chính quy
Cử tuyển
300.557
187.930
111.189
1.438
319.900
200.900
117.000
2.000
352.500
220.000
130.000
123.592
80.550
995
215.700
128.400
86.000
1.300
234.000
139.000
93.400
1.600
8,5
8,3
8,6
23,1
Nguồn : Trung tâm thông tin Bộ GD&ĐT
Nh vậy qua bảng số liệu trên cho thấy rằng số lợng SV tuyển mới qua 3 năm
không ngừng tăng lên: năm 2003 tuyển mới 300.557 SV tới năm 2004 tuyển mới
319.900 tăng 6,4%,theo kế hoạch năm 2005 số SV tuyển mới là352.500 tăng
10,2% so với 2004.Nét xét theo từng loại hình đạo tạo thì số SV ở cả 3 loạI hình
( chính quy, không chính quy,cử tuyển ) đều tăng.
Bên cạnh đó, chất lợng Đào tạo cũng đợc nâng lên. Đại bộ phận sinh viên có
khả năng và tiếp thu một cách nhanh chóng kiến thức mọi mặt, tự học thêm kiến
thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp. Hầu hết sinh viên tự học thêm ngoại ngữ, tin
học. Một bộ phận sinh viên đạt kết quả cao cả về học lực và phẩm chất, có ý thức,
ý chí vơn lên, rất năng động sáng tạo, phát huy đợc truyền thống hiếu học của dân
tộc ta.
Về phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên :
Trong những năm vừa qua đội ngũ giảng viên ở các trờng ĐH-CĐ không
SV Phan Thế Thành-K39/01.04