Ebook quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở việt nam trong thời kì hội nhập quốc tế phần 1 TS nông đức - Pdf 32

TS. NÔNG QUỐC BINH
TS. NGUYỄN HỒNG BẮC

QUAN HỆ HỒN NHÃN VÀ GIA DÍNH
CỒ YẾU TỐ Nlrác NGOÀI ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP ọuốc TẾ

NHÀ XUẤT BẢN Tư PHÁP
HÀ NÔI - 2006



LỜI GIỚI THIỆU

Với chính sách hội nhập kinh tê quôc tế của Đảng và
Nhà nưốc ta, các quan hệ giao lưu quôc tê được mở rộng và
phát triển, trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tô" nưốc ngoài.
Quyền và lợi ích hỢp pháp của các bên trong quan hệ
hôn nhân, quan hệ giữa cha, mẹ, con, quan hệ nuôi con
nuôi có vếu tô" nước ngoài được xác lập hoặc công nhận theo
quy định của pháp luật Việt Nam được tôn trọng và bảo vệ
bằng nhiều biện pháp khác nhau trên cơ sở Hiên pháp,
pháp luật Việt Nam và các điều ước quôc tê mà Việt Nam
đã ký kết hoặc gia nhập.
Cuôn sách “Q uan hệ hôn n h â n và gia đ ỉn h có yếu
tô nước ngoài ở Việt N am trong thời kỳ hội nhập quốc
íé” của TS. Nông Quốc Bình và TS. Nguyễn Hồng Bắc là
nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc, các chuyên
gia, các nhà nghiên cứu, sinh viên luật học quan tâm tới
lĩnh vực này.

cô bằng các quan hệ phái sinh khác như quan hệ của cha
mẹ đối vối con cái, ông bà đôi với cháu chắt. Nói cách khác,


Quan hệ hôn nhân và gia đinh có yếu tố nước ngoài ở VN...

hôn nhân là cơ sở tạo nên quan hệ vỢ chồng và quan hệ
huyết thống mà tổng hỢp các môi quan hệ này là nền tảng

của gia đình.
Vì hôn nhân là cơ sở tạo nên gia đình nên vê mặt khoa
học. hôn nhân là một khái niệm gắn liền với khái niệm gia
đình. Hai khái niệm này cùng song song tồn tại và phát
triển theo lịch sử phát triển của xã hội loài người. Trong
thời kỳ nguyên thủy, khi con ngưòi còn sông theo bầy đàn.
hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, chưa có phân công
lao động xã hội, do đó chưa có hôn nhân và cũng không có
gia đình, ơ thòi kỳ này, quan hệ giữa đàn ông và đàn bà là
quan hệ tính giao bừa bãi. Thời kỳ quan hệ tính giao này
kéo dài hàng trăm nghìn năm và nó kết thúc bằng sự ra đời
của chê độ quần hôn'" khi có sự phân công lao động xã hội.
Tương ứng với chê độ quần hôn là hình thức gia đình quần
hôn. Hình thức này được coi là hình thức gia đình sớm
nhất. Nó là kết quả liên kết của nhiều ngưòi đàn ông vỏi
nhiều ngưòi đàn bà. Chê độ quần hôn đưỢc hình thành và
phát triển qua hai giai đoạn chính và được thế hiện dưói
hai hình thức gia đình đó là gia đình huyết tộc và gia đình
Pu-na-lu-an (gia đình mà trong đó nhóm các chị em gái lấy
nhóm các anh em trai)'-*. Sau giai đoạn này là sự ra đòi và


và gia đình là hình ảnh của một xã hội được thu nhỏ.

Q uan hệ hôn n h à n là quan hệ giữa các chủ thê trong
hôn nhân, nó được xác lập từ khi các bên nam nữ chính
thức lấy nhau làm vợ chồng và chấm dứt khi các bôn không
còn quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật, Có thê
nói, việc xác lập và chấm dứt quan hệ hôn nhân trước hết
hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cá nhân
10


Chương I. Những vấn đề chung về quan hệ HN&GĐ...

trong hòn nhân phù hỢp với quy định của pháp luật.

Quan hệ hôn nhân là loại quan hệ pháp luật dân sự
đặc biệt. Tính chất dân sự và tính chấl clặc biệt trong quan
hệ hôii nhâii dược thê hiện như sau:
Thứ nhát, tính chất dân sư trong quan hê hôn
nhản được biếu hiện ở ba diếni cơ bán: Một là, đôl tượng
điêu chỉnh của pháp luật vê hôn nhân giông như đôi tượng
điêu chỉnh của pháp luật dân sự. Khi quan hệ hôn nhân
đưỢc xác lập thì các quan hệ vê nhân thân (danh dự, nhân
phẫm, uy tín...) và quan hệ tài sán
hệ hôn nhân có những điếm đặc thù bơi tính chất của quan
hệ này nhúng vì được tách ra từ quan hệ dân sự nên
phương pháp diêu chỉnh của nó clược dựa trên phương

pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự. Ba là, các quy định
điêu chỉnh quan hệ hôn nhân đưỢc quy định trong Bộ luật
dân sự. Ví dụ, troiig Bộ luật dân sự của Việt Nam năm
200Õ. các quy dịnh vé hôn nhân dưỢc ghi nhận tại các điểu:
Điều 39 (quyển kết hôn), Điều -10 (qi/vền binh đắng của vợ
Trường Đại học Luật Hà Nội (1994), Sđd, tr. 32.

11


Quan hệ hôn nhân và gia đỉnh có yếu tố nưdc ngoài ở VN...

chồng), Điều 42 (quyền ly hôn)...
Thứ hai, tín h dăc biêt trong q u a n hê hôn n h â n
được thể hiện ở yếu tô tình cảm của các bên chủ thể. Có thể
nói, tình cảm của các bên chủ thể đốì với nhau được coi là
cơ sở cơ bản và phổ biến trong việc xác lập quan hệ hôn
nhân. Dựa trên yếu tô" tình cảm mà quan hệ hôn nhân tồn
tại bền vững, lâu dài, không mang tính chất nhất thòi và
không mang tính chất đền bù ngang giá giông như hầu hết
các quan hệ dân sự khác. Hơn nữa, trong quá trình thực
hiện nghĩa vụ của mình, các chủ thể trong quan hệ hôn
nhân không chỉ vì lợi ích của bản thân mà còn vì lợi ích của
những người khác trong các quan hệ phái sinh từ quan hệ
hôn nhân như quan hệ huyết thống (cha mẹ với con cái)
hoặc quan hệ thân thuộc (cha, mẹ, anh, em, họ hàng của

cùng với sự phát triển của xã hội loài ngưòi. Hôn nhân là cơ
sở của gia đình, gia đình là tê bào của xã hội mà trong đó có
sự kết hỢp chặt chẽ, hài hoà lợi ích của mỗi công dân, nhà
nưóc và xã hội. C.Mác và Ph.Ảnghen đã chứng minh rằng,
cùng vài hôn nhân, gia đình là một phạm trù phát triển
theo lịch sử, giữa chê độ kinh tê - xã hội và tổ chức gia đình
có mốì liên quan trực tiếp và chặt chẽ. Trong tác phẩm
“Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và của nhà nước",
Ph.Ảnghen đã nhấn mạnh chê độ gia đình trong xă hội phụ
thuộc vào quan hệ sở hữu thông trị trong xã hội đó; quá
trình chuyến từ hình thái gia đình này lên hình thái gia
đình khác cao hơn suy cho cùng được quy định bỏi những
thay đổi trong điều kiện vật chất của đòi sống xã hội. Bằng
tác phẩm đó, Ph.Ảnghen đã làm thay đôi quan điểm trưóc
đây về các hình thái gia đình trong lịch sử. Ph.Ảnghen là
13


Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nưổc ngoài d VN...

ngưòi đầu tiên đă phân tích nguồn gốc gia đình từ giai đoạn
thấp nhất của xã hội loài ngưòi, khi con người mói chỉ bắt
đầu tách ra khỏi thiên nhiên, chưa sản xuât ra được một
thứ sản phẩm nào mà chỉ hái lượm những thức ăn sẵn có
của thiên nhiên, vì thê chưa có sự phân công lao động trong
xã hội. Trong thòi kỳ này không có hôn nhân, không có gia
đình; bộ lạc như là một đơn vị duy nhất không tách ròi của
xã hội nguyên thuỷ'". Từ trạng thái nguyên thuỷ đó, bước
tiếp theo của lịch sử đã phát triển những hình thái gia đình
đầu tiên, gia đình huyết tộc, gia đình punaluan, gia đình



Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở VN...

tịch). Do có các sự kiện trên nên trong gia đình này các thành
viên có các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản nhất
định đốì với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ nhau vê vật chất
và tinh thần. Trong gia đình có yếu tô" nưóc ngoài, những yếu
tố tình cảm, huyết thống, sự nuôi dưõng đan xen lẫn nhau
trong mức độ truyền thốhg gia đình khác nhau và tạo nên
môl liên hệ chặt chẽ khác nhau giữa các thành viên. Nhu cầu
giữa các thành viên trong gia đình là được yêu thương, chàm
sóc, nuôi dưỡng, được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
cũng rất khác nhau, đôi khi tuỳ thuộc vào ý thức pháp luật
của mỗi thành viên trong gia đình đó.
Hôn nhân là cơ sở của gia đình. Theo Điều 7 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 thì “Gia đinh là tê bào của xã
hội... Gia đinh tốt thi xã hội mới tốt, xã hội tốt thi gia đinh
càng tốt". Vậy, gia đình có yếu tô" nước ngoài có phải là tê
bào của xã hội Việt Nam? Trong mỗi chê độ xã hội, gia đình
có yếu tô' nước ngoài đều thực hiện những chức năng cơ bản
của gia đình và một trong các chức năng là tái sản xuất ra
con ngưòi, duy trì nòi giốhg. Đó là quá trình cần thiết của
cuộc sống trong một xã hội nhất định. Quá trình này được
thể hiện ở chỗ ''Hàng ngày tái tạo ra đời sông của bản thản
minh, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh
con, nảy nở. Đó là quan hệ giữ a vỢ và chồng, giữa cha mẹ
và con cái - đó là gia đình"^'\

Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Giáo trinh Luật hôn nhẩn và

Quan hệ hôn nhăn và quan hệ gia đinh có mối liên
quan mật thiết với nhau. Môl liên quan mật thiết này được
thể hiện ở sự đan xen, chồng lấn giữa chúng. Sự đan xen,
chồng lâ"n này là quan hệ vỢ chồng. Khi nói đến quan hệ
hôn nhân, ngưòi ta không thế không đê cập tói quan hệ vợ
chồng, đồng thòi khi nói đến quan hệ gia đình, ngưòi ta
cũng không thể không nhắc tới quan hệ vợ chồng. Nói cách
khác quan hệ hôn nhân và quan hệ gia đình đều đê cập tói

C.Mác - Anghen toàn tập, (1971), tập 2, Nxb. Sự thật, Hà Nội,
tr. 492.

21


Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ỏ VN...

quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, hôn
nhân là một khái niệm độc lập với khái niệm gia đình nên
sự chồng lấn này không làm mất đi tính độc lập của quan
hệ hôn nhân đối vói quan hệ gia đình.

Căn cứ vào khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 có thể hiểu: Q uan hệ hôn n h â n và g ia đ in h
có yếu tô nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình
phát sinh giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt
Nam hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để
xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước
ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

nguyên tắc, các quv phạm điều chỉnh việc liên kết giữa
nam và nữ nhằm xác lập nên một quan hệ vỢ chồng. Kết
hôn là cơ sở, là tiên đê cho việc tạo ra gia đình - tê bào của

xã hội. Thực tê đã chứng minh rằng một xã hội tốt hay xấu,
thịnh hay suy phụ thuộc rất nhiêu vào từng gia đình trong
xã hội đó, bởi vì gia đình có một vị trí rất quan trọng trong
cả ba phương diện: xã hội, chính trị và kinh tế“’ do đó pháp
luật điểu chỉnh kết hôn là điều tất yếu.
Vê mặt nguyên tắc, ở bất cứ xã hội có giai cấp nào,
pháp luật cũng luôn là công cụ hữu hiệu điều chỉnh quan hệ
kết hôn. Tuv nhiên, nội dung pháp luật điều chỉnh kết hôn
lại phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, và phong tục
tập quán nhất định. Trong xã hội phong kiến Việt Nam,
Vũ Vàn Mầu (1973) Việt Nam dân luật lược giảng, Tài liệu dùng
cho cử nhàn Luật khoa - Đại học Sài Gòn, Sài Gòn, tr.11.

23


Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nưổc ngoài ở VN...

với quan điểm vê việc kết hôn là: “//ôn lễ giả tương hỢp nhị
tính chi hiếu, thượng d ĩ sự tôn miếu, n hi hạ dĩ kê hậu th ế

dã, cô quản tử trọng chi", có nghĩa là ‘7ễ hôn tương hợp sự
giao hiếu giữa hai dòng họ, trên đê thờ p h ụ n g tò tiên trong
tông miếu (tức nhà thờ họ) dưới đê kê truyền giòng dõi đời
sau, vi vậy hôn lễ được người quân tử trọng""'. Xuất phát


Quan hệ hôn nhằn và gia đình có yêu tố nưdc ngoài ở VN...

pháp luật điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vờ và chồng
cũng khác nhau. Bởi vì pháp luật quy định các vấn đề
pháp lý liên quan tới quan hệ nhân thân giữa vỢ và chồng
mang tính xã hội rất sâu sắc. Dưới chê độ phong kiến, với
quan điểm trọng nam khinh nữ, sau khi kết hôn người vỢ
hầu như lệ thuộc vào ngưòi chồng. Ví dụ: Trong xã hội
phong kiến Việt Nam đã từng tồn tại quan niệm “xuất giá
tòng phu”, điều này có nghĩa là ngưòi đàn bà sau khi đi lấy
chồng thì phải theo chồng và phải lệ thuộc hoàn toàn vào
gia đình nhà chồng. 0 một sô" nưóc tư bản trưóc đây pháp
luật quy định khi ngưòi phụ nữ đi lấy chồng thì phải mang
họ chồng, nếu lấy chồng là ngưòi nước ngoài thì phải mang
quốc tịch của nước ngưòi chồng... Nội dung lạc hậu của
quy định kể trên ligày nay đang dần được thay đổi. Hiện
nay pháp luật của nhiều nước trên thê giới và trong nhiều
điều ước quốc tê khi đề cập tói vấn đề này đều có quy định
tiến bộ. Đó là, việc kết hôn và ly hôn không làm thay đổi
quốc tịch ngưòi phụ nữ hoặc việc nhập quôc tịch nước khác
của một trong các bên vỢ chồng không làm thay đôi quốc
tịch của người kia.
Ví dụ, Điểu 9 khoản 2 Công ưốc của Liên
hỢp quốc về loại trừ mọi hình thức phân biệt
đối xử với phụ nữ đã quy định:
“Cóc

nước th a m

gia Công ước hoan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status