MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
BỘI CHI NGÂN SÁCH
1. Bội chi ngân sách
1.1. Khái niệm chung:
Bội chi ngân sách xảy ra khi Chính phủ chi tiêu
nhiều hơn số thu ngân sách huy động được. Ngược
lại, khi chi ngân sách nhỏ hơn số thu ngân sách, thì
có bội thu ngân sách (hay thặng dư ngân sách).
1
1.1. Khái niệm chung
Chi ngân sách là một trong những công cụ chính
sách quan trọng của Nhà nước nhằm tác động đến sự
phát triển kinh tế - xã hội. Khi sản lượng của nền
kinh tế thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, thì
Chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận
bội chi để thúc đẩy hoạt động kinh tế. Vì vậy, bội
chi ngân sách không chỉ phổ biến đối với các nước
nghèo, kém phát triển, mà ngay cả những nước
thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển nhất (nhóm
2
OECD) cũng vẫn còn bội chi ngân sách.
1.1. Khái niệm chung
Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân
sách thường để đảm bảo đáp ứng nhu cầu rất lớn
về đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu như giao thông,
điện, nước,... Nhiều nước phát triển và đang phát
triển trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng
1.2. Cách tính bội chi ngân sách theo thông lệ
quốc tế và theo quy định của Luật NSNN.
a. Bội chi NS theo phân loại Quốc tế (GFS):
Bội chi = Tổng thu NS - Tổng chi NS.
Trong đó,
- Thu ngân sách gồm: (i) các khoản thu từ thuế,
phí, lệ phí; (ii) các khoản đóng bảo hiểm xã hội;
(iii) các khoản thu viện trợ; (iv) các khoản thu
ngân sách khác (thu từ bất động sản; lãi đầu tư; các
khoản tiền phạt, thu khác ngân sách).
6
1.2. Cách tính bội chi ngân sách theo thông lệ
quốc tế và theo quy định của Luật NSNN.
- Chi ngân sách bao gồm: (i) các khoản chi cho
người lao động (tiền lương, tiền công và các khoản
đóng bảo hiểm xã hội); (ii) chi mua sắm hàng hoá
và dịch vụ; (iii) chi đầu tư tài sản cố định; (iv) chi
trả lãi vay; (v) chi trợ cấp doanh nghiệp; (vi) chi
viện trợ; (vii) chi bảo trợ xã hội; (viii) các khoản
chi khác.
7
1.2. Cách tính bội chi ngân sách theo thông lệ
quốc tế và theo quy định của Luật NSNN.
b. Theo quy định hiện hành của Luật NSNN, bội
chính trong việc đảm bảo nhu cầu vốn đầu tư cơ sở
hạ tầng kinh tế - XH để đẩy mạnh quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện xoá đói giảm
10
nghèo,...
1.2. Cách tính bội chi ngân sách theo thông lệ
quốc tế và theo quy định của Luật NSNN.
Chính phủ vẫn phải thực hiện chính sách huy động
ngân sách ở mức hợp lý để tạo điều kiện giúp các
nhà đầu tư tăng tích luỹ vốn, mở rộng sản xuất,
đồng thời thu hút thêm vốn đầu tư mới; bãi bỏ một
số khoản thu đối với người nông dân để thực hiện
khoan sức dân; đồng thời thực hiện các cam kết
hội nhập.
11
1.2. Cách tính bội chi ngân sách theo thông lệ
quốc tế và theo quy định của Luật NSNN.
Tỷ lệ huy động vào NSNN hiện đạt khoảng
24%GDP – là mức huy động khá so với thời gian
trước chủ yếu do sự phát triển và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Đây là tỷ lệ huy động tương đối cao so
với một số nước trong khu vực (Tỷ lệ huy động
vào NSNN 2006-2007 ở Thái Lan là khoảng 1617%GDP, Philipines khoảng 16-17%GDP,…).
12
những quy định khác nhau về giới hạn bội chi
ngân sách. Chẳng hạn, đối với các nước thuộc
khối Euro, thì mức bội chi ngân sách tối đa cho
phép là 3%GDP. Nhật Bản đã từng có mức bội chi
lên đến 8%GDP vào những năm 2002 - 2003.
Malaysia những năm gần đây cũng có mức bội chi
15
trên 3%GDP.
2.1. Về mức bội chi
Mức bội chi NSNN những năm gần đây được
Quốc hội thông qua là 5% GDP. Nếu tính theo
thông lệ quốc tế, thì mức bội chi NSNN từ 1,5 –
2%GDP. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, đây
là mức bội chi hợp lý vì:
16
2.1. Về mức bội chi
- Nhà nước cần đảm bảo nguồn vốn cho đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng; trong khi đó, tiết kiệm của
Chính phủ (thu NSNN sau khi đã đảm bảo các
khoản chi thường xuyên và chi trả nợ) còn hạn
chế. Ví dụ, năm 2007 dự toán chi đầu tư phát triển
của NSNN là 99.450 tỷ đồng; trong khi tiết kiệm
của Chính phủ mới chỉ đáp ứng được 42.950 tỷ
đồng, chiếm 43,2%; số còn lại phải đảm bảo từ
nguồn bội chi NSNN là 56.500 tỷ đồng, chiếm
2.2. Về nguồn bù đắp bội chi
Trước đây (đầu những năm 1990 trở về trước), bội
chi NSNN được bù đắp từ nguồn phát hành nên trực
tiếp gây ra lạm phát. Hiện nay, theo quy định của Luật
NSNN, bội chi NSNN được bù đắp bằng nguồn vay
trong nước và vay ưu đãi ngoài nước. Ngoài nguồn
lực của mình (nguồn thu NSNN), Chính phủ đã huy
động thêm một phần nguồn lực xã hội cho chi NSNN.
Bội chi NSNN hiện được bù đắp chủ yếu bằng nguồn
vay trong nước (khoảng 75%) và một phần từ nguồn
vốn vay ưu đãi ODA (khoảng 25%).
20
2.2. Về nguồn bù đắp bội chi
Bội chi NSNN nếu được bù đắp hoàn toàn từ
nguồn vay trong nước sẽ chỉ làm gia tăng nghĩa vụ
nợ Chính phủ, không gia tăng nghĩa vụ nợ quốc
gia, qua đó sẽ đảm bảo an ninh tài chính quốc gia
tốt hơn (tránh được các rủi ro về tỷ giá, thanh toán,
và các rủi ro chính trị khác gắn với các khoản vay
ngoài nước). Tuy nhiên, bù đắp bội chi bằng nguồn
vay trong nước, nếu không được tính toán ở mức
hợp lý, có thể làm giảm nguồn lực đầu tư của khu
21
vực tư nhân và gây áp lực tăng lãi suất.
2.2. Về nguồn bù đắp bội chi
Bù đắp bội chi bằng các khoản vay ngoài nước
các sự nghiệp kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc
phòng an ninh, tiếp tục thực hiện cải cách tiền
lương và đảm bảo trả nợ khi đến hạn.
24
3. Định hướng trong thời gian tới.
Trong khi đó, vốn đầu tư của Nhà nước, đặc biệt là
vốn đầu tư từ NSNN tiếp tục đóng vai trò chủ đạo
trong việc phát triển cơ sở hạ tầng, tạo môi trường
thuận lợi cho sản xuất-kinh doanh phát triển, thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế-xã hội, thực hiện
mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
25