MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ
1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong thực tế, việc đưa ra khái niệm nhỏ và vừa của 1 nước được cân nhắc với
từng giai đoạn phát triển của kinh tế, tình hình làm việc nói chung và tính chất nền
kinh tế hiện hành của nước đó. Việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa không có
tính chất cố định mà có xu hướng thay đổi theo tính chất hoạt động của nó, mục
đích của việc xác định và mức độ phát triển của doanh nghiệp.
Một số tiêu chuẩn để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là tổng vốn đầu tư
được huy động và sản xuất kinh doanh, giá trị tài sản cố định, số lao động được sử
dụng thường xuyên, giá trị bằng tiền của sản phẩm hoặc dịch vụ, lợi nhuận, vốn
bình quân cho một lao động… Mỗi nước có một quan niệm và lựa chọn các tiêu
thức khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Trình độ phát triển của mỗi nước: Trình độ phát triển càng cao thì trị số các
tiêu chí càng tăng. Ở các nước càng phát triển thì chỉ số về lao động, vốn để phân
loại doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cao. Chẳng hạn như ở Nhật Bản, doanh nghiệp
có 300 lao động và nguồn vốn là một triệu USD được xem là 1 doanh nghiệp nhỏ
và vừa nhưng ở Thái Lan một doanh nghiệp có quy mô như vậy là một doanh
nghiệp lớn.
Tính chất nghành nghề: Tuỳ thuộc vào yêu cầu và tính chất của từng nghành mà
có ngành sử dụng nhiều lao động như: may mặc, giày da, thủ công, mỹ nghệ…, có
nghành sử dụng ít lao động, nhiều vốn như hoá chất, điện… Trong phân loại doanh
nghiệp cũng cần căn cứ vào những tính chất này để có những quy định phù hợp giữa
các nghành với nhau. Các nước thường phân thành các nhóm nghành với những tiêu
chí phân loại khác nhau.
Vùng lãnh thổ: Mỗi vùng miền có trình độ phát triển khác nhau về quy mô và
số lượng doanh nghiệp. Do đó, để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh giữa
các vùng với nhau thì cũng cần tính đến hệ số vùng trong tiêu chuẩn xác định
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vùng có nền kinh tế phát triển cao thì số lượng và quy
mô doanh nghiệp phải cao hơn vùng có nền kinh tế phát triển thấp.
theo Luật Doanh nghiệp, 2.6 triệu hộ kinh doanh cá thể và hơn 18.000 hợp tác xã.
Trong số đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 96% tổng số hộ kinh doanh cá thể.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút khoảng 450.000 lao động với thu nhập bình
quân 1.05 triệu đồng/tháng.
1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2.1 Năng động và linh hoạt trong sản xuất kinh doanh
Như ta đã biết doanh nghiệp nhỏ và vừa với số vốn và tài sản nhỏ, ít lao động
nên rất dễ thành lập và chuyển hướng kinh doanh khi thị trường biến động. Đây
chính là lợi thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ
dàng xâm nhập vào các "khe hở" của thị trường để tồn tại và phát triển. Khi thị
trường trở nên khan hiếm, khó khăn thì doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng chuyển
sang lĩnh vực kinh doanh khác. Tuy sức chịu đựng cạnh tranh của doanh nghiệp
nhỏ và vừa tương đối yếu. Nhưng sự ra đời và ngày càng hoàn thiện của luật cạnh
tranh sẽ càng đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp,
giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng có nhiều cơ hội để tồn tại và phát triển
thành những doanh nghiệp lớn.
Hơn nữa tổ chức quản lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa đơn giản, dễ đưa ra
quyết định, khi nhu cầu thị trường thay đổi hay gặp khó khăn dễ dàng thay đổi tình
thế, nội bộ dễ đi đến thống nhất. Trước những biến động của thị trường, họ rất linh
hoạt và mạnh dạn đầu tư, thay đổi trong sản xuất, trang thiết bị kỹ thuật với chi phí
bổ sung không cao. Nhu cầu đầu tư ít, sử dụng nhiều nguyên liệu sẵn có ở địa
phương, chi phí đào tạo người lao động và quản lý ít tốn kém. Đây là một điểm lợi
thế rất lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cơ chế thị trường, góp phần quan
trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Chính vì đặc điểm dễ thành lập, năng động và linh hoạt trong sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nên doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát
triển ở mọi nghành nghề, mọi thành phần kinh tế, chỉ cần số vốn hạn chế, một mặt
bằng nhỏ hẹp đã có thể tiến hành hoạt động kinh doanh như nhận gia công theo
đơn đặt hàng của các doanh nghiệp lớn đặc biệt là trong nghành dệt, may, cơ khí…
Ngày nay, vòng đời của sản phẩm nhiều khi ngắn hơn thời gian tồn tại của
1.1.2.3 Trình độ khoa học công nghệ và quản lý thấp
Để thành công trong nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, bất kì một
doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến công nghệ, máy móc, thiết bị, các phương
pháp và bí quyết sản xuất. Vì khoa học công nghệ cao và trình độ quản lý tiên tiến
giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí
sản xuất và tăng năng lực cạnh tranh. Năng lực tiếp nhận, ứng dụng công nghệ vào
sản phẩm và quản lý phụ thuộc vào nhận thức, thông tin, nguồn nhân lực và nguồn
vốn của doanh nghiệp. Thông thường các doanh nghiệp có khả năng quản lý tốt là
những doanh nghiệp thường xuyên có những thay đổi công nghệ và cần nhiều vốn.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa với nguồn vốn, trình độ nhân lực hạn chế nên có ít
thay đổi công nghệ phù hợp. Thực tế, hầu hết các thiết bị được sử dụng đều rất lạc
hậu. Các doanh nghiệp chưa đánh giá hết tầm quan trọng và tính bức bách trong
việc đổi mới công nghệ. Hoặc nếu có nhận thức được thì cũng gặp rất nhiều khó
khăn trong việc tiếp cận và đầu tư đổi mới công nghệ và phương thức quả lý. Vì để
đổi mới công nghệ và cách thức quản lý thì phải có nguồn nhân lực cao để tiếp
nhận và sử dụng, nguồn vốn lớn để mua. Chính vì những khó khăn trên đã khiến
các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi đầu tư công nghệ ít quan tâm đến phương pháp
và bí quyết sản xuất, đầu tư "nhỏ giọt", thiếu đồng bộ dẫn đến hiệu suất sử dụng
công nghệ không cao.
Công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta, lạc hậu so
với các nước trong khu vực từ 2-3 thế hệ, thiết bị máy móc khấu hao đã hết nhưng
vẫn được sữa chửa và sử dụng. Khoảng 8% doanh nghiệp nhỏ và vừa ở phía bắc
đạt trình độ công nghệ tiên tiến mà phần lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Các doanh nghiệp còn ít kiến thức, thông tin, kinh nghiệm về những vấn đề
liên quan đến lựa chọn, mua và chuyển giao công nghệ. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
nước ta được thành lập trong thời kì đổi mới chủ yếu là các doanh nghiệp gia đình.
Do vậy trình độ quản lý, điều hành thường theo thói quen, kĩ năng quản lý theo
định hướng thị trường hiện tại còn thiếu. Tuy trình độ công nghệ thấp nhưng các
doanh nghiệp nhỏ và vừa ít có nhu cầu đào tạo về kĩ thuật, công nghệ cũng như
trình độ quản lý.
nguồn nhân lực và không thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Trong số 30% lao động có chuyên môn thì có 8% lao động có trình độ cao
đẳng, đại học. Chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa có trình độ học vấn từ trung cấp trở
xuống chiếm 55.63%, có 40.81% chủ doanh nghiệp có trình độ đại học trở lên
nhưng họ cũng ít được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp. Như
vậy, chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu kinh nghiệm về mọi mặt từ khả năng quản
lý đến hiểu biết về công nghệ và thị trường. Họ thường chỉ quan tâm lợi nhuận
trước mắt mà thiếu quan tâm nhìn chiến lược dài hạn để phát triển doanh ngiệp.
Có tới 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa hướng vào khai thác chế biến nguyên liệu tại
chỗ, chế biến nông sản thực thẩm, gỗ, sản xuất gạch ngói, dệt may… Người lao
động có tay nghề kém, ít có đào tạo cơ bản, chủ yếu được truyền theo kiểu cha
truyền con nối. Lao động phổ thông, trình độ tay nghề còn đơn giản, chưa được
đào tạo chiếm 55-65% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
kinh tế xã hội tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước mà vai trò của nó
cũng được thể hiện khác nhau. Đối với các nước công nghiệp phát triển cao, các
tập đoàn kinh tế lớn chi phối nền kinh tế, nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn có
vai trò quan trọng trên các mặt. Ở Nhật Bản, doanh nghiệp vừa và nhỏlà một nguồn
lực đảm bảo sức sống của nền kinh tế, là bộ phận hợp thành quan trọng của cơ cấu
quy mô nhiều tầng của các công ty lớn xuyên quốc gia. Đối với các nước đang phát
triển, ngoài vai trò là bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp
nhỏ và vừa còn đóng vai trò hết sức quan trọng. Đặc biệt là đối với nước ta trong
giai đoạn tham gia hội nhập quốc tế. Nền kinh tế chậm phát triển, nguồn ngân sách
của chính phủ hạn hẹp, các doanh nghiệp nhà nước đang chiếm thị phần lớn trong
thị trường nhưng hoạt động kinh doanh yếu kém. Chính vì vậy các nguồn lực xã
hội bị lãng phí nghiêm trọng. Việc tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng để các doanh
nghiệp nhỏ và vừa phát triển đã thành yêu cầu khách quan hết sức quan trọng,
nhằm tận dụng tối đa hiệu quả các nguồn lực trong nước. Hơn nữa, sự xuất hiện
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ tăng sức ép cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp
chỉ cần bồi dưỡng hoặc đạo tạo ngắn hạn, ngắn ngày là người lao động có thể tham
gia sản xuất trong doanh nghiệp. Khi những doanh nghiệp lớn ứng dụng công nghệ
tự động hoá, lao động phổ thông dư thừa, cầu lao động phổ thông đối với doanh
nghiệp giảm mạnh. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là nơi thu hút, tiếp nhận và
đảm bảo thu nhập cho họ. Có thể nói doanh nghiệp nh v vừa là "van điều hoà lao
động" trong x h i. Đóng góp rất lớn vào vấn đề giảm thất nghiệp, vốn là căn bệnh
kinh niên của nền kinh tế thị trường.
Trong tiến trình đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hiện nay,
đã xuất hiện một bộ phận không nhỏ lao động dư thừa, với những kinh nghiệm đã
tích luỹ trong quá trình lao động, họ có thể thành lập các doanh nghiệp nhỏ hay tìm
kiếm việc làm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những người lao động này có thể
đóng góp quan trọng vào sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Như vậy
trong xã hội đã hình thành một cơ cấu phân tầng trình độ lao động, làm cho nguồn
nhân lực của xã hội được tận dụng triệt để. Từ đấy làm động lực thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế và giải quyết các vấn đề về chính trị xã hội khác.
Về kĩ thuật: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường lựa chọn kĩ thuật phù hợp với
trình độ lao động, khả năng về vốn. Họ kết hợp kĩ thuật thủ công với kĩ thuật mà
người lao động có thể nhanh chóng tiếp thu và làm chủ trong sản xuất. Tuy sử
dụng công nghệ kỹ thuật cũ thì họ vẫn có thể dùng nhiều nhân công giá rẻ để tăng
số lượng sản phẩm. Khi có điều kiện về vốn, nguồn nhập công nghệ mới thì họ
cũng dễ dàng chuyển giao công nghệ với giá đánh đổi cho việc bỏ cộng nghệ, máy
móc thiết bị cũ không cao. Như vậy sự thích ứng với công nghệ kỹ thuật của
DNNVV năng động hơn các doanh nghiệp lớn rất nhiều.
1.1.3.2 Tạo sự phát triển giữa các vùng, góp phần to lớn vào chuyển dịch cơ cấu
kinh tế
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát triển khắp mọi nơi lấp vào những
khoảng trống của doanh nghiệp lớn, tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng.
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa là phục vụ nhu cầu tiêu dùng của
nhân dân là chủ yếu, sử dụng nhiều lao động. Do đó giải quyết được tình trạng thất
nghiệp ở các địa phương.