NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNVVN NQD - Pdf 27

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình phát triển kinh tế của mình, nhiều quốc gia đã nhận thấy
sức sống và tính năng động của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong nền
kinh tế thị trường; chính hiệu quả của các doanh nghiệp này đã góp phần tạo nên
sức mạnh kinh tế của các quốc gia phát triển và các nước công nghiệp mới
(NICs).
Đánh giá đúng tiềm năng và vai trò to lớn của DNVVN trong sự nghiệp
phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách khuyến khích
và kích thích tăng trưởng của các DNVVN, không phân biệt thành phần kinh tế
hay loại hình sở hữu. Mặc dù, trong những năm qua, DNVVN đã đạt được
những kết quả rất khả quan; nhưng trên thực tế, các DNVVN, đặc biệt là đối với
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) còn gặp nhiều khó khăn, trong
đó có việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Tuy nhu cầu về vốn để
mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
(DN) là rất lớn song các DN chủ yếu huy động vốn thông qua thị trường tài
chính phi chính thức (vốn tự có của chủ DN, vay mượn bạn bè, hoặc vay nặng
lãi...) còn vốn tín dụng Ngân hàng rất ít hoặc DN có vay được thì chủ yếu vẫn là
tín dụng ngắn hạn.
Sau một thời gian thực tập tại Chi nhánh NHCT Hưng Yên, được sự
hướng dẫn nhiệt tình của các cán bộ Phòng Kinh doanh -Tổng hợp, được tìm
hiểu về hoạt động của phòng, đặc biệt là qua quá trình tìm hiểu về nghiệp vụ cho
vay đối với DNVVN NQD hoạt động trên địa bàn tỉnh của Chi nhánh NHCT
Hưng Yên, em nhận thấy: hoạt động tín dụng đối với DNVVN NQD của Chi
nhánh NHCT Hưng Yên trong những năm qua tuy đã đạt được một số kết quả
đáng ghi nhận song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vốn rất lớn của các
DNVVN NQD hoạt động trên địa bàn tỉnh. Mặc dù hoạt động cho vay đối với
DNVVN NQD đã được Ban Giám đốc Chi nhánh và lãnh đạo Phòng Kinh
doanh quan tâm, bên cạnh đó là sự đổi mới tư duy của các cán bộ trong phòng;
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG ĐỐI VỚI DNVVN NQD
1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM,
phản ánh hoạt động đặc trưng của Ngân hàng. Tín dụng là hoạt động tài trợ của
ngân hàng cho khách hàng; đây là hoạt động sinh lời lớn nhất song cũng chịu rủi
ro cao nhất.
1.1.2. Vai trò của tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Vốn là điều kiện không thể thiếu để một DN thành lập và tiến hành hoạt
động sản xuất - kinh doanh. Nguồn vốn của một doanh nghiệp luôn bao gồm hai
phần: vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Tuy nhiên, việc lựa chọn cơ cấu của
nguồn vốn như thế nào là phụ thuộc vào sự ổn định của nền kinh tế, các chính
sách kinh tế vĩ mô, quan điểm của chủ DN...
- Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm: vốn góp ban đầu (vốn điều
lệ), lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu, các quỹ...
+ Vốn góp ban đầu: Khi thành lập DN bao giờ chủ DN cũng phải có một
số vốn ban đầu nhất định, đối với các DNNQD hoạt động theo Luật doanh
nghiệp thì chủ doanh nghiệp phải có một số vốn nhất định để xin đăng kí thành
lập DN (các chủ DN tham gia góp vốn, phát hành cổ phiếu...)
+ Lợi nhuận không chia: lợi nhuận không chia của DN thực chất là phần
lợi nhuận cộng dồn để lại của DN; tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sản xuất
- kinh doanh, nếu DN hoạt động có hiệu quả thì DN mới có điều kiện để tăng
nguồn vốn. Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia - nguồn vốn nội bộ - là phương
thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn vì DN giảm được chi phí,
giảm bớt sự phụ thuộc bên ngoài; vì vậy, các biện pháp làm tăng lợi nhuận của
DN như các biện pháp miễn giảm thuế thu nhập cũng góp phần làm tăng vốn tự
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
toán, củng cố uy tín tài chính. Khi tỷ lệ nợ ở mức thấp, nếu cần vốn thì các công
ty thường chọn cách vay Ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu, tức là tăng tỷ lệ
nợ; nếu tỷ lệ nợ ở mức cao thì các DN phải tránh tăng tỷ lệ nợ bằng cách phát
hành cổ phiếu hoặc cố gắng dùng lợi nhuận không chia. Tuy nhiên, các DN
thường không quan tâm nhiều đến việc giữ một mức cân bằng nhất định mà việc
điều chỉnh vốn chủ sở hữu và các khoản nợ thường tuỳ thuộc vào thực tế tình
hình sản xuất - kinh doanh và các điều kiện khác.
Như vậy, có thể thấy vai trò quan trọng của tín dụng Ngân hàng đối với
các DN của Việt Nam trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển và
hoạt động chưa hiệu quả. Đối với các DNVVN NQD thì tín dụng Ngân hàng lại
càng quan trọng bởi trong các loại hình DNNQD thì: Công ty hợp danh và công
ty tư nhân không được quyền phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào; Công
ty cổ phần, công ty TNHH có quyền phát hành trái phiếu, song không phải DN
nào cũng có thể thu hút được công chúng mua trái phiếu, vì nhà đầu tư phải
đánh giá uy tín của DN rồi mới quyết định: mua hay không; các DN vững mạnh
và có uy tín trên thị trường thì dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra
công chúng để thu hút vốn. Trên thực tế, điều kiện để phát hành trái phiếu cũng
khá phức tạp, nhất là trong điều kiện thị trường tài chính hiện nay của Việt Nam;
ngoài ra do đa số DNVVN có thời gian hoạt động chưa lâu nên chưa tạo được
uy tín trên thị trường, để có thể phát hành trái phiếu đối với các DN NQD, nhất
là các DNVVN là một việc rất khó khăn, chi phí lớn và mất thời gian; vì vậy,
với yêu cầu về vốn phải nhanh chóng, kịp thời thì tín dụng Ngân hàng là một
giải pháp tốt.
Đồng thời, trong điều kiện mà thị trường tài chính chưa phát triển và hoạt
động chưa hiệu quả thì nguồn vốn tự có của DN là tương đối quan trọng trong
việc mở rộng sản xuất - kinh doanh; tuy nhiên, ở nước ta nguồn vốn này còn rất
hạn chế; vì vậy mà khi cần vốn thì các doanh nghiệp nói chung và các DNVVN
NQD nói riêng chủ yếu vẫn dựa vào nguồn vốn trên thị trường tài chính “phi

tiến hành kiểm soát trước, trong và sau khi DN thực hiện dự án để đảm bảo DN
sử dụng vốn đúng mục đích, đồng thời có thể phát hiện những yếu kém của dự
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
án và qua đó có thể tư vấn cho DN về những biện pháp khắc phục nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả sản xuất - kinh doanh.
- Tín dụng Ngân hàng đảm bảo cho DN hoạt động liên tục: tín dụng Ngân
hàng giúp cho DN đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị, trang trải
chi phí cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất - kinh doanh và phát triển DN.
Trong quá trình hội nhập, khi mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, DN muốn tồn
tại và phát triển thì phải thường xuyên cải tiến kĩ thuật, đầu tư mới công nghệ,
thay đổi mẫu mã, nghiên cứu tạo ra những sản phẩm mới; song trên thực tế,
không có DN nào có đủ 100% vốn đảm bảo nhu cầu phát triển sản xuất - kinh
doanh; vì vậy, để có thể mở rộng sản xuất - kinh doanh và phát triển thì DN chủ
yếu vẫn phải dựa vào tín dụng Ngân hàng.
1.1.3. Các hình thức tín dụng Ngân hàng
1.1.3.1. Phân theo thời gian
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với Ngân hàng, vì
thòi gian liên quan mật thiết tới tính an toàn và sinh lời cũng như khả năng hoàn
trả của khách hàng.
Phân theo thời gian, tín dụng phân thành:
- Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời gian dưới 12 tháng,
nhằm tài trợ cho tài sản lưu động, hoặc nhu cầu vốn ngắn hạn.
- Tín dụng trung hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến
5 năm, thường dùng để tài trợ cho các tài sản cố định như: phương tiện vận tải,
trang thiết bị chóng hao mòn hay một số loại cây trồng vật nuôi...
- Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm, dùng để tài trợ cho các công
trình xây dựng như: nhà cửa, cầu đường... hay các loại máy móc, thiết bị có giá
trị lớn, có thời gian sử dụng lâu, khấu hao chậm.
1.1.3.2. Phân theo hình thức cấp tín dụng

hàng, khi DN bán hàng thì Ngân hàng sẽ thu nợ. Cho vay luân chuyển thường áp
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dụng đối với DN thương nghiệp hoặc DN sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn, có
quan hệ vay - trả thường xuyên với Ngân hàng.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng đối với các khách hàng có nhu
cầu vốn thường xuyên hoặc có đặc điểm sản xuất - kinh doanh không phù hợp
với phương thức cho vay từng lần.
Hạn mức tín dụng được xác định căn cứ vào phương án, kế hoạch sản
xuất - kinh doanh, nhu cầu vay vốn, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm
bảo tiền vay theo quy định của NHCT Việt Nam và khả năng nguồn vốn của
Ngân hàng để tính toán và thoả thuận với khách hàng một hạn mức tín dụng duy
trì trong một thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất - kinh doanh; trong
suốt thời gian duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng được quyền rút vốn phù hợp
với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế nhưng phải đảm bảo không vượt quá
hạn mức đã ký; mỗi lần rút vốn, khách hàng phải trình bày phương án sử dụng
tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá, dịch vụ và lập một
giấy nhận nợ với Ngân hàng.
Hạn mức tín dụng có thể cấp cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Trong kỳ khách
hàng có thể vay - trả nhiều lần song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín
dụng, nếu quy định hạn mức tín dụng cuối kỳ thì trong kỳ dư nợ DN có thể vượt
hạn mức tín dụng nhưng đến cuối kỳ thì DN phải trả nợ để dư nợ nhỏ hơn hạn
mức đã được cấp.
+ Cho vay thấu chi: Ngân hàng thoả thuận bằng văn bản với khách hàng,
qua đó Ngân hàng chấp thuận cho khách hàng chi vượt mức số tiền có trên tài
khoản thanh toán phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức tín dụng cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Cho thuê tài sản: là việc Ngân hàng bỏ tiền để mua tài sản và cho khách
hàng thuê với những thoả thuận nhất định, trong đó bao gồm việc khách hàng
phải hoàn trả gốc và lãi cho Ngân hàng. Cho thuê tài chính áp dụng trong trường

- Lao động: là số lao động thực tế được sử dụng tính bình quân trong 3
năm gần nhất.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Giá trị nộp Ngân sách: lấy theo số thực nộp vào Ngân sách Nhà nước
theo số phát sinh trong kỳ, bao gồm các loại thuế và các khoản nộp khác theo
quy định của Nhà nước trong năm báo cáo (không tính các khoản thuế xuất nhập
khẩu, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, các khoản tiền phát,
phụ thu).
1.2.1.2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
a. Khái niệm
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là doanh nghiệp là doanh nghiệp có
tính chất tư hữu (không kể doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Các loại
hình DNNQD chủ yếu là: Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh và
doanh nghiệp tư nhân.
b. Các loại hình DN NQD
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, các loại hình doanh nghiệp ngoài
quốc doanh bao gồm:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
- Công ty cổ phần
- Công ty hợp danh
- Doanh nghiệp tư nhân
Trong tất cả các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì chỉ có công
ty cổ phần là có quyền phát hành cổ phiếu, còn lại tất cả các doanh nghiệp khác
đều không có quyền phát hành cổ phiếu. Mặt khác, công ty Cổ phần, công ty
TNHH, doanh nghiệp tư nhân cũng có quyền phát hành trái phiếu song điều kiện

DNVVN, 2/3 số Giám đốc của các DNVVN cho rằng: đôi khi các DNVVN
cũng tiếp cận được với tín dụng Ngân hàng song chỉ là ngắn hạn, tín dụng dài
hạn để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng là rất khó, có tới 80% số
các khoản tín dụng là ngắn hạn; điều này chủ yếu là do để đầu tư cho máy móc,
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trang thiết bị thì cần nguồn vốn dài hạn trong khi nguồn vốn của Ngân hàng chủ
yếu là không kỳ hạn và ngắn hạn nên thường không đáp ứng được nhu cầu của
các DN.
Thứ hai, các DNVVN tuy hoạt động linh hoạt nhưng kém hiệu quả. Cơ sở
sản xuất của đại đa số DNVVN thường phân tán, quy mô nhỏ lẻ, manh mún,
thường sử dụng đất đai, nhà ở của gia đình trong khu dân cư làm mặt bằng sản
xuất - kinh doanh. Hiện nay, đa số các DNVVN làm ăn có hiệu quả muốn mở
rộng sản xuất - kinh doanh đều nằm trong tình trạng thiếu đất làm mặt bằng;
việc xin cấp đất của các DNVVN bị cản trở bởi hồ sơ, thủ tục vẫn còn khá phức
tạp. Trước sức ép của thời buổi “tấc đất, tấc vàng”, có chủ DN đã phải thốt lên:
“Nghĩ đến việc xin cấp đất, thuê đất tôi như nhìn thấy trên con đường có những
tấm rào không thể vượt qua”. Mặt khác, với đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, phân tán,
đó vừa là lợi thế song cũng tạo nên những khó khăn cho các DNVVN. Lợi thế
của việc sản xuất phân tán, quy mô nhỏ là có thể hoạt động được ở những vùng
dân cư sống phân tán, len lỏi vào những khu vực thị trường “ngách” mà các DN
lớn bỏ qua, lĩnh vực hoạt động đa dạng, phong phú, cũng chính vì vậy mà có thể
dễ dàng thay đổi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động để chuyển sang các ngành
nghề, lĩnh vực khác có lợi hơn khi thị trường có những biến động, chi phí rút lui
khỏi thị trường thấp, dễ chuyển địa điểm kinh doanh hơn các DN lớn; tuy nhiên
cũng chính vì điều này làm cho DN khó đương đầu với những biến động bất ngờ
của thị trường, nếu không thực sự mạnh thì sẽ bị thị trường đào thải. Các
DNVVN thường không có chiến lược kinh doanh dài hạn mà chỉ làm ăn chạy
theo phong trào, khi thấy có cơ hội thì tận dụng tối đa, triệt để nhất mọi nguồn
lực để thu được lợi nhuận trước mắt mà không tính đến lâu dài.

toàn ngược lại”.
Do quy mô nhỏ nên mô hình tổ chức của các DNVVN rất gọn nhẹ, số
lượng lao động không nhiều, không có quá nhiều các khâu trung gian nên hoạt
động năng động, dễ thích nghi với những thay đổi của thị trường, dễ dàng
chuyển đổi; các quyết định, chỉ đạo nhanh chóng đến với người lao động, giảm
độ “trễ” do các khâu trung gian tạo ra, công tác kiểm tra, giám sát cũng nhanh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chóng và hiệu quả hơn; điều này làm giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động của
DN đồng thời. Tuy nhiên, cũng chính vì quy mô nhỏ nên nhiều DN chưa quan
tâm đến việc xây dựng nội quy lao động để đưa người lao động vào một “khuôn
khổ, quy củ” nhất định; có DN xây dựng nhưng chỉ để lấy lệ, chưa kiểm tra chặt
chẽ. Việc thực hiện các nội quy này việc xây dựng nội quy trong mỗi DN là rất
quan trọng vì điều này không chỉ giúp tăng kỷ luật lao động mà còn giúp người
lao động hiểu được nhiệm vụ của mình và cũng qua đó để DN xác định mức độ
hoàn thành công việc của người lao động; vì vậy, các DN cần quan tâm hơn nữa
đến việc này.
Thứ tư, các doanh nhân, các nhà quản lý DN chưa được đào tạo bài bản về
chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu hiểu biết đầy đủ về quản trị doanh nghiệp hiện đại
trong điều kiện hội nhập kinh tế nên trình độ quản lý chưa cao; các DN chủ yếu
do chủ DN đứng ra làm giám đốc, có rất ít thuê giám đốc để quản lý, các chủ
DN quản lý DN chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Văn hoá lãnh đạo quản lý là nhân
tố then chốt, trực tiếp quyết định khả năng phát triển kinh tế - xã hội. Trong lịch
sử cũng như hiện nay, sự thịnh - suy của một quốc gia hay một DN... suy cho
cùng bao giờ cũng có nguồn gốc trực tiếp từ sự quản lý của nhà lãnh đạo. Yếu tố
con người, nhất là những người giữ vai trò lãnh đạo có ý nghĩa rất quan trọng;
các nước như: Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc... đã học tập người Nhật và đã
thành công khi đặc biệt chú ý đến vấn đề đào tạo đội ngũ quản lý DN; đây cũng
là bài học quý báu mà chúng ta cần học tập ở họ. Trong thời gian tới, cần tập
trung vào việc tăng cường công tác đào tạo về pháp luật kinh doanh, thương mại

Tỷ
trọng
Lao động
Số lao
động
(nghìn
người
)
số lao
động
TB
1. DNQD 4.845 6,70 2.260 466 1.003 207 1.495
2. DNNQD 64.808 89,65 2.050 31,8 337 5,2 1.046
3. DN có
VĐTNN
2.641 3,65 86 325,6 369 139,7 1.774
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tổng cộng 72.294 100 5.700 71,8 1.709 1.367
Qua bảng trên có thể thấy:
- Tổng số DNNQD rất lớn, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số DN và có xu
hướng ngày càng tăng mạnh. Nếu như năm 2003 chúng ta mới chỉ có hơn 64
nghìn DNNQD thì đến năm 2005, tổng số DNNQD đã tăng lên 200 nghìn.
Trong khi tổng số DN tăng nhanh trong những năm qua thì cơ cầu có sự chuyển
dịch mạh mẽ: số lượng DN tăng mạnh ở khu vực ngoài quốc doanh và khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài còn khu vực DNNN lại giảm mạnh do tổ chức sắp xếp
lại, cho thuê, cổ phần hoá...
- Tổng số lao động mà khu vực ngoài quốc doanh thu hút được đang ngày
càng nhiều và chiếm tỷ trọng lớn. Mặc dù số DNNQD rất lớn song số lao động
trung bình/một DN vẫn khá cao, đạt 31,8 lao động/một DN; tỷ lệ này đã luôn

nhân. Nếu không có sự đóng góp của khu vực này, nhất là sau khi thực hiện
Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, giai
đoạn 2001 - 2005 không thể có được những bước phát triển như đã thấy. Có thể
nói, tất cả những kết quả trọng yếu mà chúng ta đạt được trong thời gian qua đều
có sự đóng góp to lớn của khu vực kinh tế tư nhân.”
Như đã phân tích, đã có nhiều quốc gia trên thế giới nhận thức được vai
trò, tầm quan trọng và những đóng góp to lớn của DNVVN trong quá trình phát
triển kinh tế của mình, trong đó không thể không kể tới các quốc gia phát triển
như: Mỹ, Anh, Pháp, hay các quốc gia công nghiệp mới như Hàn Quốc,
Singapore... Tại các nước này, tuy hệ thống siêu thị rất phát triển song cũng
không thể thay thế hoàn toàn các doanh nghiệp bán lẻ, nhất là việc cung cấp
hàng hoá tại các địa bàn phân tán, nơi không tập trung đông dân cư và đối với
các sản phẩm mang tính chất tiêu dùng, nhỏ lẻ (năm 1994, các DNVVN ở Nhật
đã tạo ra trên 55% GDP; ngay cả ở Mỹ - một đất nước mà ở đó có những cái tên
như: Microsoft, IBM hay Ford nổi tiếng toàn cầu, thì các DNVVN vẫn đóng một
vai trò cực kỳ quan trọng, thể hiện ở một con số không nhỏ - 40% GDP của Mỹ
là nhờ sự đóng góp của các DN thuộc khu vực này, những DN lớn như Boeing
hay Microsoft cũng không thể hoạt động riêng lẻ mà không có sự hợp tác với
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
các DNVVN). Các nước trên thế giới (nhất là các nước đang phát triển) đều tích
cực hỗ trợ DNVVN bởi:
- Muốn phát triển bền vững phải dựa vào nội lực hơn là trông chờ vào các
nhà đầu tư từ bên ngoài.
- Phát triển DNVVN là cách tốt nhất để giảm tỷ lệ thất nghiệp và các tệ
nạn xã hội.
- Phát triển kinh tế DNVVN là biện pháp hiệu quả góp phần giảm bớt
cách biệt về kinh tế giữa thành thị và nông thôn.
Xuất phát từ một nền kinh tế kém phát triển, sự tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam hiện nay gắn liền với sự đi lên của các DNVVN, một lực lượng kinh

DNNN, lượng công nhân bị sa thải rất lớn thì chính các DNVVN lại là nơi tái
tạo lại công việc cho họ bởi việc đầu tư cho một chỗ làm việc ở một DNVVN
thấp bằng 3-10% so với các DN lớn. Mặt khác, đây cũng chính là khu vực thu
hút số lượng lớn lao động là các sinh viên mới ra trường và giải quyết một trong
những vấn đề bức xúc của nước ta, đồng thời góp phần tăng thu nhập cho người
lao động, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội. Sự phát triển của
các DNVVN còn giúp tác động tới cơ cấu lao động, tạo sự chuyển dịch cơ cấu
lao động theo hướng tích cực.
- Khai thác và tận dụng các nguồn lực xã hội: các DNVVN thu hút lượng
lớn nguồn vốn trong dân do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán, do yêu cầu vốn yêu
cầu ban đầu không nhiều nên có thể tận dụng vốn của bản thân, bạn bè, gia
đình...Mặt khác, các DNVVN ở nông thôn sẽ thu hút nhiều lao động chưa có
việc làm, lao động tạm thời nhàn rỗi theo thời vụ vào sản xuất - kinh doanh, rút
dần lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp - dịch vụ nhưng vẫn sống ở
quê hương mà không di chuyển theo phương châm: “ li nông bất li hương”. Một
điều hết sức quan trọng nữa là: các DNVVN cũng là yếu tố chủ đạo giúp phát
huy nghề truyền thống, làm thay đổi bộ mặt làng quê; trong các làng nghề truyền
thống đã hình thành nhiều DNVVN NQD nhằm tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản
phẩm, tổ chức sản xuất quy mô, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của làng
nghề.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Các DNVVN thường chọn kĩ thuật phù hợp với kĩ thuật thủ công để
nhanh chóng tiếp thu và làm chủ, ít sử dụng công nghệ tiên tiến đòi hỏi vốn lớn
vì vậy tận dụng kĩ thuật trong nước và thúc đẩy công nghệ, cải tiến kĩ thuật.
Như vậy có thể nói đây là một bộ phận sử dụng rất có hiệu quả và tiết
kiệm nguồn lực sẵn có của đất nước để sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu,
giảm chi ngoại tệ, đồng thời tạo ra hàng hoá xuất khẩu và thu ngoại tệ về cho đất
nước, góp phần bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống.
- Một trong những kết quả nữa khá quan trọng đã đạt được trong việc thúc

Việt Nam - ông Lê Đức Thuý đã phát biểu: “Chúng ta đã sống một thời kỳ dài
trong cơ chế DNNN được ưu đãi hơn DNNQD; để xoá bỏ bất bình đẳng, về phía
NH cần phải tạo ra một cơ chế cạnh tranh thực sự; NH muốn tồn tại thì phải tìm
cách đưa vốn đến những DN cần vốn và sử dụng vốn có hiệu quả chứ không
phải bằng cơ chế đặc quyền, bao cấp đằng sau, NH tìm đến DN vì DN làm ăn
hiệu quả chứ không phải vì nó thuộc thành phần nào cả.”
Với điều kiện thuận lợi và những cơ chế ngày càng thông thoáng như hiện
nay, các DNVVN đã, đang và sẽ liên tục phát triển, ngày càng khẳng định vị thế
của mình trong nền kinh tế quốc dân.
1.2.4. Xu hướng phát triển của các DN NQD
Ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước ta đã nhận
thấy tiềm năng to lớn của các DNVVN, đặc biệt là DNNQD nên đã có những sự
quan tâm đến khu vực này; điều này được thể hiện ở việc năm 1999, Thủ tướng
Chính phủ đã ra quyết định số 133/1999/QĐ-TTg (51/5/1999) "Về việc thành
lập tổ nghiên cứu cơ chế chính sách phát triển DNVVN"; tổ này có nhiệm vụ
nghiên cứu và đề xuất với Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách, biện
pháp tổ chức thực hiện để phát triển DNVVN. Đến nay, sau 5 năm, giai đoạn
2000-2005, các DNVVN đã thể hiện vai trò tích cực của mình và đã những đóng
góp to lớn vào sự phát triển của đất nước.
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội X của Đảng đã xác định: “ Thực hiện
nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần
kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cầu thành quan trọng của nền
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật,
cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó, kinh tế Nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định
hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành
phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày
càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế cổ phần

địa phương; các thông tin về chính sách hỗ trợ của Nhà nước cũng như của địa
phương chưa đảm bảo tình công khai, minh bạch để các DN đều biết, trong khi
công tác kiểm tra tình hình thực hiện rất yếu nên việc hỗ trợ DNVVN đạt hiệu
quả thấp.
Mặt khác, tuy đã nhìn nhận tích cực hơn về vai trò, tầm quan trọng và
những đóng góp to lớn của DNVVN trong sự nghiệp phát triển đất nước trong
20 năm đổi mới và đực biệt trong 5 năm gần đây; đồng thời đã có sự quan tâm
hơn tới các DNVVN song trong nhận thức vẫn đề cao vai trò chủ đạo của kinh
tế Nhà nước và kinh tế tập thể. “Phải nhìn nhận công bằng trong 5 năm qua,
chưa nói đến quãng thời gian 20 năm đổi mới, vai trò chủ đạo của khu vực kinh
tế Nhà nước đã thể hiện như thế nào, đã thực sự là lực lượng chủ yếu đem lại sự
phát triển mạnh mẽ cho giai đoạn vừa qua chưa? Nếu nói về tỷ trọng vốn đầu tư,
tỷ trọng đóng góp vào GDP... thì vẫn là khu vực này có tỷ trọng cao; tuy nhiên
tỷ trọng cao đó không tương xứng với vai trò chủ đạo mà chúng ta mong muốn
và nhất là tỷ trọng cao đó đồng thời kéo theo cái giá phải trả cao của cả nền kinh
tế. Nếu như đầu tư của Nhà nước vẫn là lớn nhất và do các DNNN thực hiện thì
không dễ tránh khỏi tình trạng lãng phí, thất thoát, tham nhũng rất lớn như thời
gian vừa qua”. (Theo lời bà Phạm Chi Lan).
Vậy, chúng ta cần đặt khu vực kinh tế tư nhân vào bản đồ doanh nghiệp
Việt Nam, cần đặt đúng tầm lịch sử và đặt đúng tầm vai trò của doanh nhân
trong xã hội; thực sự tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ doanh
nhân phát triển.
Với sự nhìn nhận ngày càng tích cực của xã hội về tần lớp doanh nhân và
vai trò của các DNVVN thì trong tương lai, các DNVVN nói chung và DNVVN
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
NQD nói riêng sẽ ngày càng có những đóng goóp nhiều hơn nữa cho sự phát
triển của nước nhà.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI
VỚI DNVVN NQD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status