Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp - Pdf 32

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu.

Trong xu hướng hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng hiện nay, vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài(FDI) là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu nguồn
vốn đầu tư của bất kỳ một quốc gia hoặc một địa phương nào. Đối với Việt
Nam, một nước đang trong quá trình CNH- HĐH, chuyển đổi và hội nhập
kinh tế, với mục tiêu phát triển kinh tế rất cao, nhu cầu vốn đầu tư rất lớn thì
việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại càng có vai trò đặc biệt quan
trọng.
Trong 20 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể. FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu
tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, trình độ kĩ thuật và công
nghệ;đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu, phát triển kinh tế thị trường đưa nền
kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc
làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống người lao động…
Tuy nhiên hoạt động thu hút và sử dụng vốn FDI còn tồn tại nhiều mặt
tiêu cực đến nền kinh tế như: Vấn đề chuyển giá gây thiệt hại cho nền kinh tế,
khả năng chuyển giao công nghệ hạn chế và nguy cơ trở thành bãi thải công
nghệ, khả năng tạo việc làm chưa ổn định, làm tăng các vấn đề xã hội mới
như phân hoá xã hội, giàu nghèo, nạn "chảy máu chất xám" trong nội bộ nền
kinh tế,vấn đề ô nhiễm môi trường….
Vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Nam: thực trạng và giải pháp” đi sâu vào phân tích thực trạng FDI, các kết
quả , hiệu quả đạt đực đồng thời nêu ra những mặt hạn chế còn tồn tại, đưa ra
một số nguyên nhân chính và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường khả năng
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thu hút vốn FDI cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI vào Việt nam
trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

* Đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và
các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. (điều 3,
Luật Đầu tư).
* Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu
tư. (điều 3, Luật Đầu tư).
1.1.2. Đầu tư nước ngoài
1.1.2.1. Khái niệm đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài là hình thức di chuyển vốn từ nước này sang nước
khác nhằm mục đích kiếm lời. Đầu tư nước ngoài có một số đặc điểm khác
với đầu tư nội địa đó là:
Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài, điều này sẽ có liên quan đến các
quy định về xuất nhập cảnh, về phong tục tập quán, ngôn ngữ...;
Các yếu tố đầu tư được di chuyển ra khỏi biên giới, đặc điểm này liên
quan đến các chính sách, pháp luật về hải quan và cước phí vận chuyển;
Vốn đầu tư có thể là tiền tệ, vật tư hàng hóa, tư liệu sản xuất, tài nguyên
thiên nhiên nhưng được tính bằng ngoại tệ, đặc điểm này liên quan đến chính
sách tài chính và tỷ giá hối đoái của các nước tham gia đầu tư.
Hình thức biểu hiện của đầu tư nước ngoài
- Tài trợ phát triển chính thức (ODF- Official Development Finance).
Nguồn vốn này bao gồm Viện trợ phát triển chính thức (ODA) và các hình
thức viện trợ khác .Trong đó ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu. Vốn ODA là
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nguồn vốn phát triển dưới dạng viện trợ không hoàn lại hay lãi suất ưu đãi và
thường đi kèm theo điều kiện về chính trị.
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment). là nguồn vốn
đầu tư khá phổ biến hiện nay của nước ngoài (có thể là tư nhân, tổ chức, hay
nhà nước hoặc là sự phối hợp) đầu tư vào một quốc gia nào đó nhằm mục

Tiêu thức phân biệt FDI với hoạt động đầu tư nội địa thường tập trung
vào các đặc trưng sau:
- Về vốn góp, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng một lượng vốn tối
thiểu theo quy định của mỗi nước nhận đầu tư để có quyền trực tiếp tham gia
điều phối, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh;
- Về quyền điều hành quản lý, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
phụ thuộc vào mức vốn góp, nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì
quyền hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc
thuê người quản lý;
- Về phần chia lợi nhuận, dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ,
đều được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ các
khoản đóng góp.
Từ những quan niệm trên có thể hiểu FDI là sự di chuyển vốn quốc tế
dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn
vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành,
tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm
quản lý... nhằm mục đích thu lợi nhuận.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:
Gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài sản
khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh
tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư.
Được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới
(liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại
các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế
hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp.
Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở
hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp hoạt

của các nước nhận đầu tư. Các nhà đầu tư thường khai thác các lợi thế cạnh
tranh đó để hoàn thiện qua lắp ráp ở nước chủ nhà. Sau đó các sản phẩm được
bán trên thị trường quốc tế. Đây là hình thức khá phổ biến của hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển.
Thứ hai, xét về hình thức sở hữu đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có
các hình thức sau:
Luật Đầu tư 2005 đã quy định 5 hình thức FDI cơ bản ở Việt Nam , các hình
thức này cũng đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Sau đây sẽ trình bày 5
hình thức này.
a. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền
thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc
chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách
áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động
kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư
nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô
lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con
của công ty mẹ xuyên quốc gia.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước
nhận đầu tư). Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải
được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại. Doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo
Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…

độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại... Hình thức doanh nghiệp liên
doanh có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở
tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ
rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho
người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài;
Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nước
ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị
trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn
trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác nhau về
chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, luật
pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực,
trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong doanh nghiệp liên doanh yếu.
c. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà
đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà
không thành lập pháp nhân [luật đầu tư].
Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn,
công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của
nước sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là
nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc
hậu; chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu
khí.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng
và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại. Do đó, về
phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Tuy
nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà

Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết
cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm
áp lực vốn cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển
giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lực khác để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ
rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh
nghiệm quản lý, công nghệ.
e. Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tư Cross - border M & As. Khi thị
trường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được khai
thông, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh
nghiệp ở nước sở tại, nhiều nhà đầu tư rất ưa thích hình thức đầu tư này.
Cross-border M & As là kênh đầu tư mà các chủ đầu tư tiến hành đầu tư
thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài
hoặc mua cổ phần của các công ty cổ phần. Hình thức này chủ yếu là chuyển
sở hữu của các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà sang sở hữu của các
nhà đầu tư nước ngoài. Về lâu dài, hình thức M & As sẽ thu hút được nguồn
vốn từ bên ngoài do mở rộng qui mô hoạt động của doanh nghiệp. Kênh đầu
tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công
nghiệp hóa, đặc biệt là trong những lĩnh vực công nghệ cao và có xu hướng
tăng mạnh trong những năm gần đây. Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng
đã thừa nhận và pháp lý hoá kênh đầu tư này ở Việt Nam. Tuy nhiên, hình
thức đầu tư này vẫn chưa phổ biến ở nước ta do đây là kênh đầu tư FDI mới,
nhà đầu tư còn dè chừng; hơn nữa, Nhà nước vẫn hạn chế về tỷ lệ cổ phần của
người nước ngoài trong các công ty cổ phần trong nước.
Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu tư
nước ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI. Khi nhà đầu tư nước
ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước sở

4. Chính sách đối với hoạt động và cấu trúc của thị trường (đặc biệt là
chính sách về cạnh tranh& thôn tính sát nhập).
5. Các hiệp định quốc tế về FDI .
6. Chính sách tư nhân hóa .
7. Chính sách thương mại(thuế quan &phi thuế quan) và sự gắn kết giữa
FDI và chính sách thương mại.
8. Chính sách thuế.
1.3.2. Những yếu tố tạo thuận lợi cho kinh doanh.
1. Xúc tiến đầu tư (bao gồm các hoạt động như tạo dựng hình ảnh & thúc
đẩy đầu tư.)
2. Khuyến khích đầu tư.
3. Những chi phí nhũng nhiễu( có liên quan đên tham nhũng,hiệu quả
quản lí hành chính…) và tiện nghi xã hội( chất lượng cuộc sống,trường học
song ngữ…).
1.3.3. Những yếu tố kinh tế.
1. FDI mở rộng thị trường .
+ Độ lớn của thị trường & thu nhập bình quân đầu người.
+ Sự tăng trưởng của thị trường.
+ Khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới.
+ Sở thích tiêu dùng đặc định của nước tiếp nhận FDI.
+ Cấu trúc của các thị trường.
2. FDI tìm kiếm nguồn tài nguyên.
+ Nguyên liệu thô.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Nhân lực kĩ năng thấp với giá rẻ.
+ Các tài sản mang tính công nghệ, sáng tạo (như thương hiệu công ti
chẳng hạn) được biểu hiện ở các cá nhân,các công ti hay nhóm công ti..
+ Cơ sở hạ tầng cứng (hải cảng, đường sá, điện năng, phương tiện truyền
thông).

Sự phân bổ dòng vốn FDI không đều, phần lớn tập trung ở các nước
công nghiệp phát triển, dòng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển tuy
có chiều hướng tăng lên nhưng tỷ trọng còn rất nhỏ bé. Năm 2006, luồng vốn
FDI vào khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á đạt 186,7 tỷ USD, chiếm 22%
tổng FDI toàn cầu, tăng 13,1% so với năm 2005. 2/3 FDI vào khu vực này là
vào Trung Quốc (36 tỷ USD) và Đông Nam Á (37 tỷ USD) bao gồm
Singapore (20 tỷ USD). Malaysia và Thái Lan (mỗi nước 4 tỷ USD). Dòng
vốn vào khu vực Nam Á thấp hơn nhiều (10 tỷ USD) chủ yếu là đầu tư vào
Ấn Độ (7 tỷ USD). Trong năm 2007, Mỹ vẫn là địa chỉ thu hút FDI nhiều
nhất với 193 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2006, tuy tốc độ tăng này chậm
hơn so với nhiều nước khác. Trung Quốc là nước nhận được nhiều FDI nhất
trong số các nước đang phát triển với 67,3 tỷ USD, tuy giảm 3,1% so với năm
2006. Nguồn FDI vẫn tăng ở cả ba nhóm kinh tế gồm các nền kinh tế phát
triển, các nền kinh tế đang phát triển và các nền kinh tế trong thời kỳ quá độ
như Đông Nam Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Nguồn FDI đổ
vào nhóm thứ nhất tăng trong bốn năm liên tiếp, lên tới gần một nghìn tỷ
USD. Khoảng 224 tỷ USD của nguồn FDI đổ vào nhóm thứ hai được dành
cho các khu vực như Nam Á, Đông Á, Đông Nam Á và châu Đại Dương. FDI
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đổ vào nhóm thứ ba tăng 41% lên mức kỷ lục 98 tỷ USD. Ủy ban kinh tế Mỹ
Latinh và Caribe của Liên hiệp quốc (CEPAL) đánh giá, mặc dù phải đối mặt
với những biến động của thị trường tài chính quốc tế và cuộc khủng hoảng
trên thị trường vay thế chấp ở Mỹ song các nước khu vực Mỹ Latinh đã hạn
chế những tác động từ bên ngoài và tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế
với mức tăng trưởng bình quân 5,6%; thu hút FDI 95 tỷ USD, cao nhất trong
tám năm trở lại đây, mang lại thặng dư lớn cho khu vực này. Dòng vốn FDI
trên toàn cầu trong ba năm tới được dự báo sẽ tăng lên, mặc dù có nhiều lo
ngại về sự bất ổn tài chính và việc một số quốc gia áp dụng các biện pháp bảo
hộ. Theo Khảo sát Triển vọng đầu tư thế giới 2007-2009 của UNCTAD, hơn

lên tới mức kỷ lục, giữa lúc áp lực đối với các đồng tiền trong khu vực và lạm
phát cùng gia tăng, trong khi các ngân hàng châu Á lại thiếucác quy định chặt
chẽ về cho vay vốn.
Dòng vốn FDI đang chịu sự chi phối và kiểm soát chủ yếu bởi các
TNCs của các nước phát triển.
Mặc dù ngày càng có sự đa dạng hóa trong các đối tác và chủ thể tham
gia vào quá trình luân chuyển FDI, nhưng thực chất dòng vốn FDI quốc tế
hiện nay đang bị chi phối bởi các công ty xuyên quốc gia ở các nước phát
triển. Các công ty xuyên quốc gia trở thành những chủ thể đầu tư trực tiếp với
khối lượng kiểm soát trên 90% tổng FDI toàn thế giới, đồng thời là lực lượng
chủ yếu vận hành những mảng lớn của nền kinh tế thế giới, nắm vững nguồn
vốn tài chính, kỹ thuật, nắm giữ các ngành kinh tế then chốt và mũi nhọn,
kiểm soát thương mại quốc tế theo thống kê, các công ty xuyên quốc gia nắm
giữ gần 40% sản lượng công nghiệp; 60% ngoại thương, 80% kỹ thuật mới
của thế giới tư bản. Chỉ tính riêng 100 công ty xuyên quốc gia lớn nhất thế giới
(tất cả đều thuộc Mỹ, EU và Nhật Bản) đã chiếm 1/3 FDI toàn cầu và tổng tài sản
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ở nước ngoài của các công ty này đã lên tới 1.400 tỷ USD, sử dụng 73 triệu lao
động, trong đó lao động ở nước ngoài là 12 triệu, chiếm trên 16%.
Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia tiếp tục vươn ra các khu vực khác
nhau trên thế giới với quy mô FDI ngày càng lớn, đóng vai trò ngày càng
quyết định đối với lĩnh vực này. Bên cạnh việc giữ vững các khu vực đầu tư
truyền thống như Châu Âu, Bắc Mỹ, các công ty xuyên quốc gia đang gia
tăng hoạt động đầu tư vào những địa bàn mới đầy triển vọng. Đặc biệt, tất cả
các công ty xuyên quốc gia đều đẩy mạnh đầu tư vào khu vực châu Á. Đây
cũng là địa bàn ưu tiên đầu tư hàng đầu của Nhật Bản, hàng thứ hai của Mỹ (sau
Châu Âu) và hàng thứ ba của các nước Châu Âu (sau Bắc Mỹ và Châu Âu).
Tính cạnh tranh giữa các nước đầu tư và giữa các nước tiếp nhận
đầu tư với nhau ngày càng cao. Sự phát triển của nền kinh tế thế giới và tiến

những dự án lớn được chính phủ nước sở tại khuyến khích bảo lãnh, bảo hộ...
1.4.2. Xu hướng FDI vào Việt nam trong những năm tới.
Báo cáo đầu tư thế giới năm 2004 do UNDP tổ chức ngày 23/9 tại Hà
Nội, các chuyên gia của UNDP cho rằng Việt Nam đang tạo được một môi
trường đầu tư rất tốt, đặc biệt là đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư
mong muốn đa dạng hoá lĩnh vực đầu tư để tránh rủi ro. Với trên 80 triệu dân,
Việt Nam là một thị trường lớn hấp dẫn nhà đầu tư. Vào WTO, Việt Nam trở
nên hấp dẫn các nhà đầu tư hơn bao giờ hết vì nó mở ra khả năng tiếp cận thị
trường toàn cầu cho các nhà đầu tư. Đặc biệt việc trở thành thành viên không
thường trực của hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc đã nâng cao uy tín và vị
thế của Việt nam trên trường quốc tế.việc tăng cường phân cấp trong khâu
quản lí cũng như có nhiều cải thiện tích cực về môi trường đầu tư đã và đang
là tín hiệu tốt mời giọi các nhà đầu tư. Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ xây
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dựng nhà máy ở Việt Nam để xuất khẩu đi các nước khác. Chắc chắn dòng
FDI tăng mạnh vào việt Nam, thực tế quí I đầu năm 2008 đã chứng minh
nhận định trên với việc thu hút được trên 5,1 tỉ USD của 147 dự án.
Theo dự báo của Cục đầu tư nước ngoài, từ nay tới năm 2010 Nhật Bản
vẫn giữ vai trò hàng đầu trong đầu tư tại Việt Nam. Đầu tư của các đối tác
quan trọng như Mỹ, EU và các đối tác truyền thống như Đài Loan, Hàn Quốc,
Singapore được dự báo cũng sẽ gia tăng trong giai đoạn tới, với việc chuyển
hướng đầu tư sang các lĩnh vực công nghệ cao và sinh lời như tài chính, ngân
hàng, dịch vụ…
Đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam đang có xu hướng tăng
nhanh trong những năm gần đây, tuy vẫn chỉ ở dạng “phôi thai”. Theo các số
liệu được công bố, đầu tư FDI của Trung Quốc từ 1988 tới nay vẫn chỉ khiêm
tốn trên 1,7 tỷ USD. Tuy nhiên, thực chất, khoản đầu tư lớn của Trung Quốc
đổ vào Việt Nam lại qua các đối tác ở Hồng Kông với số tiền lên tới 3 tỷ 700
triệu USD kể từ năm 1988.

thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động FDI. Với các nước nghèo và đang
phát triển, vốn là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế.
Những quốc gia này luôn lâm vào tình trạng thiếu vốn đầu tư, hoạt động sản
xuất và đầu tư ở những nước này như là một “vòng đói nghèo luẩn quẩn”
(theo Paul A. Samuelson). Để phá vỡ vòng luẩn quẩn ấy, các nước nghèo và
đang phát triển phải tạo ra “một cú huých lớn”, mà biện pháp hữu hiệu là tăng
vốn cho đầu tư, huy động các nguồn lực để phát triển nền kinh tế để tạo ra
tăng trưởng kinh tế dẫn đến thu nhập tăng.
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
So với những hình thức đầu tư nước ngoài khác, đầu tư trực tiếp nước
ngoài có những ưu điểm cơ bản sau đây:
- FDI không để lại gánh nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư về
chính trị, kinh tế như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hoặc các hình thức
đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát hành trái phiếu ra nước
ngoài... Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài
tương đối ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư.
- Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn ra khỏi nước sở tại như đầu tư gián
tiếp. Kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực 1997
đã cho thấy, những nước chịu tác động nặng nề của khủng hoảng thường là
những nước nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Nên FDI mang tính
ổn định hơn so với những khoản đầu tư khác.
Thực tiễn cho thấy các nước NIC strong gần 30 năm qua nhờ nhận được
trên 50 tỉ USD đầu tư nước ngoài cùng với chính sách kinh tế năng động, hiệu
quả đã trở thành những con rồng châu Á.
Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới với xuất phát điểm rất thấp. FDI
được coi là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội. Kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành nước ta đã thu hút được
trên 9500 dự án với mức vốn đăng ký đạt hơn 98 tỷ USD và hiện còn 8590 dự
án có hiệu lực với tổng vốn đăng kí 83,1 tỉ USD. Tỷ lệ đóng góp vào GDP

nghệ trực tiếp và có hiệu quả nhất. Có nhiều phương thức chuyển giao công
nghệ khác nhau như nhập khẩu thiết bị, kỹ thuật, mua hoặc hợp đồng sử dụng
bản quyền, sáng chế; tự thiết kế và sản xuất theo bản thiết kế tổng thể do bên
25

Trích đoạn Kết quả và hiệu quả của đầu tư tực tiếp nước ngoài. Nguyờn nhõ n. Quan điểm của Đảng và Nhà nước. Mục tiờu chiến lược. Phương hướng thực hiện.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status