Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta chyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập chung sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước,vận hành theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Cùng với sự thay đổi của nền kinh tế là sự thay đổi về cách
nhìn nhận về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện
hội nhập mở cửa tham gia các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế
giới .Các thành phần kinh tế đã phát huy tính năng động và tiềm lực sẵn có
tạo nên một bức tranh phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, góp phần
đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang phát triển mạnh, bất cứ một doanh nghiệp
nào đều phải đặt ra cho mình nền móng mục tiêu để có thể phát triển tồn tại
tối đa hóa lợi nhuận.Có không ít doanh nghiệp đã tỏ ra lúng túng, nhiều doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh không có hiệu quả thậm chí đã dẫn đến phá sản.
Trong khi đó lại có một số doanh nghiệp đứng vững và phát triển, nhờ họ làm
tốt tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ và đặc biệt đã có những nhìn nhận
sâu sắc về công tác quản lý và sử dụng vốn .Chính vì vậy mà việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn nhạy bén, nắm bắt dược tình hình mà áp dụng hợp lý
các biện pháp để có thể đạt được hiệu quả cao trong quá trình quản lý và sử
dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng là một trong những nhân tố cần
thiết, rất quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp hay
mang tính chất sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tạo lập vốn là một bộ phận quan trọng hàng đầu trong cơ tài chính đối với
doanh nghiệp nói chung và toàn bộ nền kinh tế nói riêng.Trong những năm
qua, cùng với sự đổi mới về sự quản lý chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà
nước đối với các Doanh nghiệp, chính sách thu hút vốn và quản lý đối với
các doanh nghiệp cũng được mở rộng hơn nhằm tạo điều kiện cho các Doanh
nghiệp có thể tăng nhanh nguồn hoạt động vốn của mình. Do đó chuyên đề
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đặt ra vấn đề nghiên cứu về các phương thức mở rộng huy động vốn của cac
Chương 3 : Giải pháp tăng cường huy động vốn
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN HUY ĐỘNG
VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể king tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị truờng nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu.Doanh
nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có
nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ
không phải các cá nhân.Ở Việt Nam, Theo luật Doanh nghiệp : Doanh nghiệp
là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản có trụ sở giao dịch ổn định, được
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích hoạt động
các kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sán xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
1.1.2. Phân loại Doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ở Việt nam bao gồm : Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh
dônh sau đây :
- Kinh doanh cá thể ( sole proprietorship )
- Kinh doanh góp vốn ( partnership )
- Công ty ( corporation )
1.2. Huy Động vốn của Doanh nghiệp
Trong nền kinh té thị trường hiện nay, để thực hiện các hoạt động đầu tư
phát triển thì không thể bỏ qua một số yếu tố - đó là vốn. Nó là cơ sở, là điều
kiện tiên quyết cho mọi hoạt động, mọi sự khởi đầu; và với doanh nghiệp thì
3
sản, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh. Thông qua các chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn, ta có thể biết được hiệu quả của việc quản lý hoạt
động kinh doanh . Một doanh nghiệp làm ăn giỏi không những bảo toàn mà
ngày càng phát triển nguồn vốn của mình .
Đối với mỗi doanh nghiệp ,cơ cấu vốn luôn bao gồm hai bộ phận là vốn chủ
sở hữu và nợ. Mỗi bộ phận này chiếm một tỷ lệ khác nhau được cấu thành bởi
nhiều khoản mục tuỳ theo tính chất của chúng. Tuy nhiên việc lựa chọn các
nguồn vốn trong các doanh nghiệp khác nhau sẽ không giống nhau do ảnh
hưởng của nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan .Có thể xem xét một
số yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất : Rủi ro kinh doanh . Với những ngành sản xuất có rủi ro
kinh doanh càng lớn thì tỉ lệ nợ sẽ càng thấp . Đây là rủi ro tiềm ẩn trong tài
sản của doanh nghiệp .
Thứ hai: Chính sách thuế . Thuế thu nhập có ảnh hưởng đến chi phí nợ
vay thông qua điều tiết phần tiết kiệm nhờ thuế . Khi thuế xuất cao khuyến
khích doanh nghiệp sử dụng nợ do phần tiết kiệm thuế nhờ lãi vay tăng lên.
Thứ ba: Khả năng tài chính của doanh nghiệp , đặc biệt là khả năng
tăng vốn một cách hợp lý trong điều kiện có tác động xấu.
Thứ tư : Tâm lý của các nhà quản lý doanh nghiệp . Tuỳ theo sự chủ
quan của mỗi người mà có sự lựa chọn cơ cấu vốn khác nhau . Một số thích
sử dụng nợ , trong khi đó một số khác lại thích dùng vốn chủ sở hữu
Bốn nhân tố trên tác động rất lớn đến việc lựa chọn cơ cấu vốn . Nhìn
chung với mỗi doanh nghiệp lại có một cách lựa chọn khác nhau trong từng
giai đoạn , từng thời kỳ phát triển cụ thể.
Các xu hướng lựa chọn nguồn tài trợ cơ bản bao gồm :
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Một là : sử dụng toàn bộ tài trợ dài hạn để tài trợ cho tổng tài sản của
doanh nghiệp ; tức là sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu cho hoạt động của
doanh nghiệp . Cách này tốn kém chi phí nhưng rủi ro thấp do không có liên
Rủi ro bao giờ cũng gắn liền với chi phí, do đó doanh nghiệp căn cứ vào
tình hình cụ thể của doanh nghiệp mình để đưa ra quyết định phù hợp nhất
nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí vừa tầm nhất cho doanh nghiệp.
1.2.1. Sự cần thiết huy động vốn
Vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được huy động từ nhiều
nguồn dựa trên quy định của nhà nước thông qua các chính sách tài chính
được thực hiện.Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng áp dụng một
cách máy móc theo khuân mẫu nhất định mà luôn có sự thay đổi đa dạng và
mở rộng phụ thuộc vào loại hình cũng như tình hình sản xuất cụ thể của từng
doanh nghiệp .
1.2.2. Huy động vốn chủ sở hữu
Đây là một trong số hai nguồn tài trợ quan trọng của doanh nghiệp bao
gồm các bộ phận :
- Vốn góp ban đầu
- Lợi nhuận giữ lại
Vốn góp ban đầu :
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào , vốn góp ban đầu là bộ phận quan trọng
không thể thiếu bởi khi đăng ký tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp phải có một số vốn pháp định theo quy định của luật doanh
nghiệp . Nguồn vốn góp ban đầu phụ thuộc vào hình thức sở hữu của doanh
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp và nó cũng ảnh hưởng đến tính chất cũng như hình thức tạo vốn của
bản thân doanh nghiệp .
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là số vốn đầu tư
mà Nhà nước bỏ ra đầu tư cho doanh nghiệp, và tất nhiên Nhà nước là chủ sở
hữu của doanh nghiệp . Trong thời gian trước, phần lớn doanh nghiệp Nhà
nước hoạt động đều sử dụng 100% vốn Nhà nước cấp. Tuy nhiên trong những
năm gần đây, do sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên cơ chế quản lý
tài chính nói chung và quản lý vốn trong doanh nghiệp Nhà nước nói riêng đã
tiêu là tạo ra khối lượng lợi nhuận đủ lớn để có thể trích một phần cho tái đầu
tư và mở rộng sản xuất, tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu.
Nguồn lợi nhuận cho tái đầu tư chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp làm
ăn có lãi,đã và đang hoạt động có hiệu quả; được phép tiếp tục mở rộng sản
xuất.Riêng đối với các doanh nghiệp nhà nước thì việc tái đầu tư không chỉ
phụ thuộc vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà còn phải phụ thuộc
vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của nhà nước.
Trong số các loại hình doanh nghiệp, chỉ có các công ty cổ phần thì việc
để lại lợi nhuận đối với họ lại có liên quan đến một số vấn đề khác. Khi công
ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư thì số lãi của các cổ
đông trong năm đó sẽ giảm, nhưng bù lại thì giá trị số cổ phần của họ trong
công ty lại tăng lên. Điều này một mặt khuyến khích các nhà đầu tư nắm giữ
cổ phiếu, mặt khác lại làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời gian
trước mắt do cổ tức nhận được của năm đó là ít hơn mọi năm. Nếu tỷ lệ chi
trả cổ tức thấp so với mức cho phép thì có thể làm cho cổ phiếu bị mất giá .
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Do vậy, để giải quyết tốt vấn đề cổ tức và tái đầu tư , khi thực hiện phân
phối lợi nhuận , doanh nghiệp cần chú ý một số yếu tố quan trọng như:
- Lợi nhuận của công ty trong kỳ
- Cổ tức trên một cổ phiếu năm trước
- Uy tín và sự ổn định về thị giá của cổ phiếu trên thị trường
- Hiệu quả thực hiện tái đầu tư.
Nắm bắt được các yếu tố này, doanh nghiệp sẽ có thể vừa đảm bảo cổ
tức cho cổ đông, vừa có thể dành một phần lợi nhuận cho tái đầu tư mở rộng
sản xuất.
1.2.3 Huy động nợ của doanh nghiệp .
Không một doanh nghiệp nào có thể hoạt động tốt chỉ dựa trên số vốn tự
có của mình . Để bổ xung vốn cho quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp có thể sử dụng một trong hai bộ phận quan trọng của vốn là nợ:
theo pháp luật, về cơ bản điều kiện này không gây khó khăn cho các doanh
nghiệp.
+ Điều kiện về khả năng tài chính : doanh nghiệp phải có tình hình tài
chính lành mạnh, kinh doanh có hiệu quả, chấp hành chế độ báo cáo thống kê
và báo cáo kết quả kinh doanh phù hợp với qui định của pháp luật.Thông
thường các Ngân hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải chứng minh làm ăn có lãi và
không có nợ quá hạn trong một thời gian nhất định trước đó. Tuy nhiên trong
một số trường hợp Ngân hàng có thể chấp nhận cho vay nếu doanh nghiệp đệ
trình được phương án cải thiện tình hình kinh doanh thua lỗ hiện tại nhờ vào
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vốn vay của Ngân hàng. Tuy vậy, các dự án vay vốn phải đươc bảo đảm bằng
một tỷ lệ vốn đối ứng nhất định ( thông thường khoảng 20-30%).
+ Điều kiện về mục đích sử dụng vốn : Doanh nghiệp muốn vay vốn
phải cho thấy mục đích sử dụng vốn vay là hợp pháp ( phù hợp với mặt hàng,
ngành nghề đã đăng ký trong giấy phép kinh doanh ).
+ Điều kiện về đảm bảo vay vốn : Thông thường doanh nghiệp muốn
vay vốn phải có tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh bằng tài sản.Tuy nhiên theo
quyết định gần đây nhất của một số Ngân hàng, nếu doanh nghiệp có đủ độ
tin cậy với Ngân hàng thì Ngân hàng có thể cho vay không nhất thiết phải có
đủ tài sản thế chấp.
+ Điều kiện về dự án kinh doanh : Doanh nghiệp phỉa có dự án đầu tư
hoặc phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả ( chứng minh có đủ
nguồn trả nợ và thời gian trả nợ phù hợp với thời gian ngân hàng cho vay
hoặc khách hàng có các nguồn vốn khác có khả năng trả nợ ngân hàng trong
thời hạn cho vay ).
Đây là điều kiện mà doanh nghiệp có thể khó đáp ứng không phải vì không
tính toán được hiệu quả của phương án đầu tư kinh doanh, mà vì không chứng
minh được hoặc không đủ sức thuyết phục đối với Ngân hàng về tính khả thi
của phương án lập ra.Ngoài những điều kiện đã nêu theo quy định, doanh
động của donh nghiệp.
Thực tế, tuy nguồn vốn tín dụng Ngân hàng là tương đối phong phú và đa
dạng nhưng một số Doanh nghiệp lại gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn này,
đặc biệt là các doạnh nghiệp vừa và nhỏ. Những khó khăn lớn nhất của doanh
nghiệp khi tiếp cận nguồn này là : Lãi xuất cao, thủ tục hành chính rườm rà,
thiếu tài sản thế chấp, thời hạnn không phù hợp, chậm chễ làm mất cơ hội
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoặc lượng vốn không đủ cho đầu tư..... Điều này có thể do một số nguyên
nhân sau đây :
+ Thị trường vốn chưa phát triển một cách hoàn chỉnh; hệ thống pháp
luật và chính sách tín dụng thiếu sự đồng bộ, cơ chế cho vay thường xuyên
thay đổi gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng.
+ Về phía các tổ chức tín dụng, điều kiện và thủ tục vay vốn quá chặt
chẽ, phức tạp nên các doanh nghiệp khó đáp ứng được đầy đủ. Mặt khác các
tổ chức này thiếu thông tin chính xác, kịp thời về doanh nghiệp, do đó khả
năng về thẩm định dự án cho vay hiệu quả còn thiếu chính xác.
+ Về phía doanh nghiệp vừa và nhỏ : Vốn tự có ít, năng lực tài chính
thấp, khả năng cạnh tranh hạn chế, uy tín chưa cao.... Mặt khác trình độ quản
lý cán bộ còn nhiều hạn chế dẫn đến những khó khăn trong xây dựng và hoàn
thiện hồ sơ trong vay vốn.....
Qua số liệu về cơ cấu vốn đầu tư tăng nên trong năm 2006 cho thấy vốn
tín dụng chỉ chiếm 38% trong tổng số vốn đầu tư tăng thêm trong năm, vốn tự
có tăng thêm 49%, vốn ngân sách trên 4% và các nguồn huy động khác.
Trong 38% vốn tín dụng thì dành cho doanh nghiệp nhà nước chiếm toíư
56,4% trong đó 63,4% là vốn tín dụng ưu đãi cuả Nhà Nước. Như vậy nguồn
vốn tín dụng đã thấp nhưng quá nửa lại dành cho Doanh nghiệp nhà nước, còn
lại ưu thế thuộc về Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài; Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chịu khó khăn hơn khi
tiếp cận nguồn vốn này và luôn phải kinh doanh trong tình trạng thiếu vốn.
bản để thu hút các nhà đầu tư tham gia vào thị trường, thực hiện các giao dịch
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trên thị trường, từ đó tạo tính thanh khoản cao cho các công cụ trái khoán của
doanh nghiệp.
Một yếu tố nữa có tác động không nhỏ đến việc mở rộng huy động vốn
của các doanh nghiệp - đó chính là cơ cấu tổ chức và quyết định của bản thân
doanh nghiệp .Mỗi loại hình doanh nghiệp lại có hướng đi khác nhau khi tiến
hành huy động vốn từ công chúng. Có doanh nghiệp thì cổ phần hoá để tăng
vốn chủ sơ hữu ; lại có doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu vì không
muốn có sự tham gia của bên
ngoài vào nội bộ doanh nghiệp . Để làm được những điều đó, điều cần thiết
trước hết là doanh nghiệp phải có uy tín đủ lớn, có vị trí tương đối vững chắc
trên thị trường . Bởi có như vậy mới tạo ra sự hấp dẫn cho các công cụ huy
động vốn, mới thu hút được các nhà đầu tư về phía doanh nghiệp mình .
Nhìn chung, mở rộng huy động vốn là một hoạt động cần thiết đối với
mọi doanh nghiệp trong quá trình phát triển.Tuy nhiên trong quá trình thực
hiện doanh nghiệp cần có sự lựa chọn đúng đắn về phương thức cũng như
cách làm để đem lại hiệu quả cao nhất. Dựa trên việc đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng , đánh giá các mặt lợi thế cũng như bất lợi của từng hình thức tài trợ,
các nhà kinh tế đã khuyến cáo rằng: để đạt được một cơ cấu vốn hợp lý giúp
các doanh nghiệp có thể đạt được các
mục tiêu đề ra, việc mở rộng vốn thông qua tài trợ và đầu tư cần tuân thủ 5
nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất : Việc mở rộng huy động vốn phải đảm bảo sự phù hợp giữa
thời gian đáo hạn các nguồn tài trợ với chu kỳ sinh lời của tái sản xuất đầu tư.
Nguyên tắc này được xây dựng trên một thực tế là các nguồn tài trợ có thời
gian đáo hạn rất khác nhau; trong khi thời gian tạo ra các nguồn tiền của các
loại tài sản cũng không giống nhau.Vì vậy để đảm bảo cho doanh nghiệp có
khả năng thanh toán ở bất kỳ thời điểm nào và giảm thiểu rủi ro về tài chính
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và rủi ro tài chính thì nhà quản lý phải giảm tỷ trọng nợ vay, số tiền huy động
được ưu tiên cho những tài sản lưư động tạm thời có tính thanh khoản cao.
Thứ ba: Mở rộng huy động vốn nhưng luôn đảm bảo quyền kiểm soát
doanh nghiệp.Cơ sở chủ yếu của nguyên tắc này là ở chỗ, chủ sở hữu luôn
phải nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp. Quyền kiểm soát doanh nhgiệp tỷ lệ
với số vốn góp.Vì vậy để đảm bảo nguyên tắc này, việc mở rộng cơ cấu vốn
phải thực hiện theo chiều hướng gia tăng hoặc đảm bảo tỷ trọng vốn chủ sở
hữu; đảm bảo vốn chủ sở hữu đủ lớn để doanh nghiệp có thể độc lập về mặt
tài chính, có thể tự quyết những vấn đè quan trọng trong sản xuất kinh doanh ;
tránh sự phụ thuộc vào bên ngoài .
Trên thực tế , để nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp , người ta có thể
thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Thông qua cơ cấu vốn – gia tăng tỷ lệ
vốn góp cũng là một cách để người ta thay đổi quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ sở hữu thì vần đề này
thường không cần phải đặt ra. Nhưng với các doanh nghiệp đa sở hữu thì
quyền kiểm soát doanh nghiệp lại là một vấn đề lớn .
Nguyên tắc này yêu cầu, để duy trì quyền kiểm soát , doanh nghiệp khi
cần huy động vốn bằng cách vay, phát hành cổ phiếu, trái phiếu ….; luôn phải
đảm bảo nắm giữ một tỷ lệ thích hợp để duy trì quyền kiểm soát doanh
nghiệp.
Thứ tư: Mở rộng huy động vốn phải đảm bảo tính linh hoạt của các
nguồn tài trợ ( nguyên tắc tài trợ linh hoạt )
Tính linh hoạt trong tài trợ vốn là khả năng điều chỉnh tăng, giảm nguồn
vốn cho phù hợp với sự thay đổi nhu cầu về vốn qua các thời kỳ kinh doanh .
Nguyên tắc này được đưa ra dựa trên nhận định rằng : nhu cầu về vốn
của doanh nghiệp cũng thường xuyên thay đổi tuy theo từng thời kỳ sản xuát
kinh doanh . Doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất, song nhiều khi cũng cần
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp .
1.3.2 Nhân tố khách quan
Mở rộng huy động vốn không những ảnh hưởng tích cực đến mỗi doanh
nghiệp mà còn tạo nhiều thuận lợi cho quá trình phát triển nền kinh tế. Nền
kinh tế thị trường là do các doanh nghiệp lớn nhỏ tạo thành ; mỗi doanh
nghiệp lại có vai trò như một mắt xích quan trọng trong cả một thị trường
rộng lớn ; do đó khi mà doanh nghiệp phát triển tốt sẽ tạo nên một lực đẩy lớn
cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế .
Cụ thể, việc doanh nghiệp mở rộng huy động vốn bằng các biẹn pháp khác
nhau đều có những tác động cụ thể như:
Nâng cao hiệu quảvà sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường .
Tăng khả năng huy động vốn của doanh nghiệp từ các nguồn trên thị
trường, từ đó sử dụng được tối đa hoá nguồn vốn có thể huy động.
Đem lại nguồn thu lớn hơn cho ngân sách nhờ việc mở rộng quy mô
hoạt động của các doanh nghiệp .
Như vậy, khi các doanh nghiệp mở rộng thêm nguồn vốn thì không
những bản thân doanh nghiệp được bổ sung thêm nguồn vốn cho mình mà cả
nền kinh tế và phần lợi ích của Nhà nước trong doanh nghiệp cũng tăng lên .
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY
TNHH MAY THÊU MINH TRÍ .
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY MAY MINH TRÍ
Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Tên đơn vị : CÔNG TY TNHH MAY THÊU MINH TRÍ
Tên giao dịch quốc tế : MINH TRí COMPANY LIMITED
Trụ sở chính : Khu công nghiệp Vĩnh Tuy - Đường Lĩnh Nam - Quận
Hoàng Mai - Hà Nội
Công ty may thêu Minh Trí là một doanh nghiệp tư nhân ,được chính
thức thành lập vào ngày 22/06/1995 và hoạt động dưới hình thức công ty
máy thêu vi tính và các thiết bị chuyên dùng khác. Công ty không ngừng lớn
mạnh và phát triển về cơ sở sản xuất, các loại mặt hàng phục vụ cho xuất
khẩu và hàng nội nhập. Cụ thể là trong 3 năm 2005, 2006, 2007 công ty đầu
tư theo chiều sâu máy móc thiết bị, nâng cấp nhà xưởng , cong trình công
cộng. Doanh thu của công ty qua các năm không ngừng tăng lên. Năm 2007
doanh thu của công ty đạt 37.553.653( nghìn đồng ) và dự tính đến cuối niên
độ kế toán năm 2006 doanh thu của công ty sẽ đạt 48.537triệu đồng .Căn cứ
vào năng lực hiện có, căn cứ vào dự toán thị trường sản phẩm và dự đoán hiệu
quả kinh tế, công ty quyết định đầu tư giai đoạn hai - xây dựng thêm cơ sở hai
ở Thái Bình, đây chính là bước đột phá quan trọng trong công tác mở rộng
quy mô sản xuất, giải quyết việc làm cho trên 1300 lao động, góp phần đẩy
mạnh chiến lược tăng tốc độ của nghành dệt may Việt Nam . Đây chính là
những cơ sở để công ty phát triển và ngày càng đứng vững trên thị trường
cạnh tranh.
- Đặc điểm tổ chức quản lý của công ty:
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty may Minh Trí
Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty may Minh Trí
Bộ phận QLĐH: Bộ phận quản lý đơn hàng
PX hoàn thiện : Bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm ( KCS), thu hoá,
là, bao gói, đóng thùng .
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Nhìn chung mô hình tổ chức của công ty được sắp xếp, bố trí phù hợp
với khả năng của nhân viên , có thể đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh cũng như các mặt đối nội, đối ngoại của công ty mình .
23
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Phó giám đốc điều hành
được thực hiện theo một đường thẳng. Người điều hành chỉ thi hành mệnh
lệnh của người phụ trách trực tiếp, cụ thể là:
Giám đốc Quản đốc Tổ trưởng
- Cơ cấu chức năng : Mở rộng ra trong phạm vi xí nghiệp thì kiểu cơ cấu
này cho phép cán bộ phụ trách và các phòng chức năng có quyền ra lệnh về
các vấn đề có liên quan đến chuyên môn của họ , các cán bộ sản xuất trong
các phân xưởng .
- Cơ cấu tổ chức sản xuất trực tuyến, chức năng: Đây là kiểu cơ cấu kết
hợp hai kiểu cơ cấu trực tuyến và chức năng .
Tại công ty Minh Trí có cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu cơ cấu này ,
nghĩa là giám đốc công ty được sự giúp đõ của các phòng ban , các chuyên
gia , hội đồng quản trị trong việc suy nghĩ , bàn bạc giải quyết các vấn đè
phức tạp .Những quyệt định quản lý do các phòng ban chức năng nghiên cứu
đề xuất . Khi được giám đốc thông qua biến thành mệnh lệnh được truyền đạt
từ trên xuống dưới theo tuyến đã định .Các phòng chức năng có trách nhiệm
tham mưu cho toàn bộ hệ thống trực tiếp nhưng các phòng ban này không có
quyền ra lệnh cho các phân xưởng , các bộ phận sản xuất . Nó vừa phát huy
năng lực chuyên môn , vừa đảm bảo được chức năng của cơ cấu trực tuyến .
- Nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận như sau:
Giám đốc công ty: là người điều hành cao nhất của công ty, có quyền
hành trong mọi hoạt động của công ty. Là người chịu mọi trách nhiệm trước
công ty và nhà nước về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.Chỉ đạo phương
hướng, đường lối quản trị viên cao cấp : quản đốc, phó giám đốc.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Xây dựng nguồn vốn và đầu tư kinh phí cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh , quyết định các biện pháp kiểm tra và kiểm soát như chế độ báo cáo ,
kiểm tra , thanh tra, đánh giá khắc phục hậu quả. Báo cáo kết quả của công ty
với ban hôi đồng và vạch ra quyết định đầu tư với các nước trên thế giới .
Phó giám đốc điều hành kỹ thuật : có trách nhiệm giúp giám đốc trong