Luận cứ bảo vệ “vụ việc
đòi nợ”
Tôi là LS ..., thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM, Giám đốc công ty luật VAC,
theo yêu cầu của bị đơn dân sự L và được sự đồng ý của Quí Tòa qua
giấy: “Chấp nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” số 07/CV-TA
ngày 11/7/2007, hôm nay, trước phiên Tòa sơ thẩm này, tôi xin được
thực hiện việc bảo vệ quyền lợi của thân chủ tôi (Bà L) với các quan
điểm và luận cứ sau:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————————
Tp. HCM, ngày 20 tháng 9 năm 2007
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa Quí Tòa,
Tôi là LS ..., thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM, Giám đốc công ty luật VAC, theo
yêu cầu của bị đơn dân sự L và được sự đồng ý của Quí Tòa qua giấy: “Chấp
nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” số 07/CV-TA ngày 11/7/2007,
hôm nay, trước phiên Tòa sơ thẩm này, tôi xin được thực hiện việc bảo vệ
quyền lợi của thân chủ tôi (Bà L) với các quan điểm và luận cứ sau:
Thứ nhất: Việc cho vay nợ và trả nợ giữa nguyên đơn (ông H) và bị đơn (bà
L) dựa trên cơ sở sự quen biết thân tình đặc biệt như người thân trong nhà,
nên giấy nhận nợ chỉ viết tay (mà do chính nguyên đơn, tức chủ nợ viết, bị
đơn chỉ cứ việc ký xác nhận) hay có trường hợp chỉ trao đổi miệng (như
trường hợp bị đơn L nói có trả nợ gốc cho nguyên đơn 2 lần: một lần
150.000.000 đồng vào ngày 18/6/2004 và một lần 50.000.000 đồng vào ngày
20/11/2006, cộng dồn là 200 triệu đồng, nhưng nguyên đơn không nhớ).
Thứ hai: Việc cho mượn nợ, thu nợ, lãi, đối chiếu nợ hoàn toàn do nguyên
đơn đạo diễn, tính toán, trong khi bị đơn có vẻ thụ động, không có bất cứ đề
triệu (số V trong bản đối chiếu nợ) và lần IV: cấn trừ căn nhà bán cho phía
người thân của nguyên đơn là 750 triệu) tổng cộng là: 920 triệu (chín trăm
hai chục triệu). Vì vậy, trong tính toán nợ tồn đọng của bị đơn, đề nghị Quí
Tòa trừ khoản này ra.
2)
Có bằng chứng là nguyên đơn đã đôn lãi vào vốn tất cả là:
103.660.000 đồng (một trăm lẻ ba triệu sáu trăm sáu chục ngàn đồng), là
không phù hợp với luật pháp, vì như vậy là có tình trạng tính lãi chồng lên
lãi. Phần này cũng đề nghị Quí Tòa trừ bớt vào nợ tồn tại (đó là chưa kể số lãi
thặng dư không hợp lý phát sinh từ các khoản lãi cộng dồn này mà bên bị đơn
đã phải chịu thanh toán).
II.
Công nhận tổng số tiền lãi (với lãi suất thỏa thuận cao chưa phù hợp với
qui định luật pháp) cho đến trước thời điểm 28/6/2004 (tức là thời điểm bị
đơn xác nhận kể từ đó về sau chưa trả lãi tiếp tục, theo biên bản kết thúc ghi
nhận trong hồ sơ tại Tòa) với tổng số là : 273.800.000 đồng (hai trăm bảy
mươi ba triệu tám trăm ngàn đồng) mà bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn
và được trả làm 13 đợt từ đợt đầu vào tháng 8/2003 đến đợt cuối vào tháng
4/2004 theo bút tích của nguyên đơn trên bản đối chiếu. Nếu áp dụng chế tài
theo qui định của Bộ Luật Dân sự, kể cả Bộ Luật Dân sự năm 1995 có hiệu
lực từ ngày 01/7/1996 và Bộ luật Dân sự 2005 hiện nay, thì phần đã trả lãi
vay cao vượt qui định, theo tôi, cũng nên trừ bớt vào phần vốn còn nợ của bị
đơn.
III. Không công nhận số tiền nợ 300 triệu (ba trăm triệu đồng chẳn) mà
Và ngay cả khi vận dụng hồi tố Bộ Luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực từ
ngày 01/01/2006 ở Điều 131 về “giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn” và
Điều 134 về “giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ qui định về hình
thức” cũng có nội dung qui định về vô hiệu tương tự như trên về giao dịch
dân sự.
Hơn nữa, giấy nhận nợ ngày 24/01/2005 về khoản nợ 1.874.000.000 đồng
còn vi phạm yếu tố trung thực, vì theo nhân chứng tình cờ L (đã có bản khai
tại hồ sơ vụ kiện), thì bị đơn L ký xác nhận trước rồi, nguyên đơn mới ghi nội
dung phần sau, trong đó có việc ghi thêm số nợ 1.874.000.000 đồng.
Và rõ ràng một khi quan hệ dân sự bị vô hiệu, thì quan hệ đó mất giá trị và
không tồn tại, hoàn toàn không thể điều chỉnh nghĩa vụ bên bị đơn (tức con
nợ) vì bị đơn là người ngay tình, do nhầm lẫn. Và bị đơn cũng phủ nhận hoàn
toàn là không hề có nhận khoảng nợ này.
Tóm lại , trên cơ sở các luận cứ viện dẫn trên, với tư cách luật sư bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, chúng tôi kiến nghị Hội Đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu phía bị đơn để tuyên xác nhận số nợ còn tồn đọng mà bị
đơn có nghĩa vụ phải trả là 400.000.000 đ (bốn trăm triệu đồng chẳn) và số
lãi phát sinh kể từ thời điểm ngày 28/6/2004 về sau như bị đơn đã thành thật
khai báo trước Tòa hôm nay.
Và căn cứ theo Điều 476 khoản 1 (về lãi suất của hợp đồng vay tài sản) của
Bộ Luật Dân sự năm 2005 (mục 4 chương XVIII) có ghi rõ: “ Lãi suất cho
vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ
bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Trong
quá trình vay và trả nợ, lãi của bị đơn L có thể xác định thuộc loại hình vay
vốn lưu động trung hạn, và căn cứ theo các tài liệu thông báo của Ngân hàng,
thì trong các khoản thời gian đó lãi suất tín dụng ngân hàng biến động từ