Khám phá tri thức - khai phá dữ liệu - Pdf 32

MỞ ĐẦU
Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của ngành công nghệ thông tin, cùng với đó là các công
cụ hỗ trợ cho công việc tích lũy thông tin cũng trở lên cực kỳ tiện lợi, dẫn đến khối lượng thông tin
của các kho cơ sở dữ liệu (CSD) tăng lên rất nhanh. Cùng với đó các yêu cầu đối với quá trính phân
tích dữ liệu ngày càng cao, không những phải đáp ứng được tính thời gian thực mà còn phải đưa ra
được các thông tin có ích trong một “biển” dữ liệu thô và không đầy đủ…vv, tất cả các yếu tố đó làm
cho các bài toán phân tích và xử lý dữ liệu truyền thống trở lên không hiệu quả. Như vây, cần có các
công cụ hoặc phương pháp mới để giải quyết vấn đề này. Hiện nay trên thế giới các nhà phát triển
CSDL đang rất quan tâm đến một mô hình CSDL gọi là cở sử dữ liệu chuỗi thời gian (có một số người
gọi là cơ sở dữ liệu thời thời gian). Mô hình cở sở dữ liệu loại này có một số đặc điểm như: khối lượng
CSDL cực lớn, đối tượng quan sát của nó thường là kết quả hoạt động của các hệ thống “nhiễu loạn”,
thay đổi liên tục theo thời gian, thông tin có ích tồn tại dưới dạng phi chuẩn, chứa nhiều tạp chất và
không đầy đủ, vv… Hệ thống “nhiễu loạn” là hệ thống mà các đối tượng trong nó chịu ảnh hưởng của
rất nhiều các yếu tố khác nhau, ngẫu nhiên và không xác định. Khi đó ngay cả các yêu cầu về việc lữu
trữ, thống kê đối với dạng thông tin kiểu này đã là một nhiệm vụ cực kỳ phức tạp khi đối với các hệ
quản trị CSDL hiện nay. Và đa số các nhà phát triển CSDL trên thế giới chọn một giải pháp là xây
dựng một mô hình mới dựa trên các hệ quản trị CSDL sẵn có, như hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ để
lưu giữ và quản lý các loại CSDL loại này trong khi chờ các nhà sản xuất đưa ra được một phiên bản
hữu hiệu cho loại dữ liệu trên. Tuy nhiên ngay cả khi đã có những công cụ phù hợp để lưu trữ và quản
lý các dạng thông tin nói trên, thì để nhận được những thông tin có ích đối với dạng CSDL loại này,
các biện pháp phân tích dữ liệu thông thường cũng gặp rất nhiều khó khăn, đôi khi là không thể giải
quyết được. Đó chính là cơ sở cho sự xuất hiện của kỹ thuật “Khám phá tri thức - khai phá dữ liệu”.
Đây là một thuật ngữ tương đối mới mẻ đối với các nhà phan tích CSDL ở Việt nam, trong khi đó thì
nó đã được áp dụng rất là rộng rãi và hiệu quả trên thế giới. Bản chất của khám phá tri thức chính là
việc áp dụng một loạt các bước phân tích và xử lý dữ liệu nhằm tìm ra các thông tin có ích, các quy
luật tiềm ẩn, các mẫu mới trong CSDL. Thường thì kỹ thuật Khám phá tri thức – Khai phá dữ liệu
được áp dụng trên các CSDL lớn, một trong các dạng đó là CSDL chuỗi thời gian. Vì vậy việc nghiên
cứu quy trình Khám phá tri thức áp dụng trong CSDL chuỗi thời gian sẽ có một ý nghĩa nhất định
trong thời đại ngày nay nhất là ở Việt nam khi kỹ thuật này đang còn rất là mới mẻ.
1
CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU CHUNG

1.4. CÁCH THIẾT KẾ CÁC PHẦN NỘI DUNG CHÍNH TRONG BẢN THUYẾT
MINH.
- Chương1: Giới thiệu chung. Nói về sự cần thiết của việc nghiên cứu quy trình Khám phá tri
thức – Khai phá dữ liệu, mục đích, phạm vi nghiên cứu, Cuối là phần giới thiệu về các phần chính
trong bản thuyết minh
- Chương2: Giới thiệu tổng quan về khám phá tri thức. Chương này đưa ra các định nghĩa, khái
niệm về Khám phá tri thức – Khai phá dữ liệu, sự cần thiết của Khám phá tri thức – Khai phá dữ liệu,
các lĩnh vực liên quan đến Khám phá tri thức.
- Chương3: Nghiên cứu quy trình khám phá tri thức. Trong chương này giới thiệu các giai đoạn
của quá trình khám phá tri thức, nhiệm vụ của quá trình khám phá tri thức, các bước chính trong quy
trình khám phá tri thức, hướng tiếp cận và các kỹ thuật chính trong Khai phá dữ liệu, so sánh Khai phá
dữ liệu với một số phương pháp cổ điển, hướng nghiên cứu và việc ứng dụng của Khai phá dữ liệu
hiện nay.
- Chương4: ứng dụng quy trình khám phá tri thức vào việc phân tích CSDL chứng khoán.
Chương này sẽ đưa ra các khái niệm và định nghĩa liên quan đến CSDL chuỗi thời gian, các đặc điểm
của thị trường chứng khoán, đưa ra giải thuật lọc dữ liệu tần số thấp bằng phương pháp trung bình
trượt hàm mũ, thuật toán phân loại trạng thái và tích lũy thông tin thống kê dựa trên cặp chỉ số xu
hướng, xây dựng thuật toán dự báo trạng thái tự do của hệ thống.
- Kết luận: Phần này đưa ra các kết luận về kết quả nghiên cứu của luận văn, hướng phát triển
nghiên cứu tiếp theo.
3
CHƯƠNG II : TỔNG QUAN VE KHÁM PHÁ TRI THỨC – KHAI PHÁ
DỮ LIỆU
2.1. THẾ NÀO LÀ KHÁM PHÁ TRI THỨC – KHAI PHÁ DỮ LIỆU.
Nếu cho rằng các điện tử và các sóng điện tử là cốt lõi của kỹ thuật điện tử thì trong ngành công
nghệ thông tin có thể coi dữ liệu, thông tin và tri thức là tiêu điểm của một lĩnh vực mới trong nghiên
cứu và phát triển ứng dụng và được gọi là Khám phá tri thức và Khai phá dữ liệu.
Yếu tố thành công trong mọi hoạt động kinh doanh ngày nay là việc biết sử dụng thông tin một
cách có hiệu quả. Điều đó có nghĩa là từ các dữ liệu sẵn có, phải tìm ra những thông tin tiềm ẩn có giá
trị mà trước đó chưa được phát hiện, tìm ra những xu hướng phát triển và những yếu tố tác động lên

năng của máy tính để tìm ra các mẫu và mô hình trong dữ liệu.[8]
2.2. SỰ CẦN THIẾT CỦA KHÁM PHÁ TRI THỨC
Có rất nhiều lý do để giải thích sự cần thiết của việc Khám phá tri thức - Khai phá dữ liệu, điển
hình là:
- Có rất nhiều tổ chức tập hợp quá nhiều dữ liệu, vậy họ phải làm gì với chúng.
- Con người lưu trữ dữ liệu bởi vì họ cho rằng một số giá trị hữu ích được mã hóa hoàn toàn
trong dữ liệu.
- Trong kinh doanh, cần thu thập các thông tin về thị trường, về các đối thủ và về khách hàng.
Trong sản xuất, cần thu thập các dữ liệu về thời điểm hiệu quả và tối ưu nhất phục vụ cho mục
đích cải tiến quy trình và giải quyết các sự cố.
- Chỉ có một phần nhỏ của dữ liệu (khoảng 5 đến 10%) là luôn được phân tích.
- Sự gia tăng của dữ liệu cản trở các phương pháp phân tích truyền thống.
- Giá trị dữ liệu là quá lớn đối với cách thức phân tích cổ điển. Chúng ta có thể không bao giờ
nhìn thấy chúng một cách chọn vẹn hoặc không thể lưu dữ trong bộ nhớ.
- Dữ liệu cần tìm kiếm không tồn tại dưới dạng tường minh mà dưới dạng phi cấu trúc, trong các
quy luật tiềm ẩn.
- Sự phát triển của mạng máy tính đã gia tăng khả năng truy cập vào dữ liệu.
- Người sử dụng cuối không phải là nhà thống kê đơn thuần, họ cần biết tri thức từ CSDL mà họ
đang lưu trữ.
- Sự cần thiết phải nhanh chóng ra quyết định và phản ứng lại những cơ hội xuất hiện trước các
đổi thủ của mình.
5
- Cùng với việc lớn lên của CSDL, khả năng để đưa ra quyết định và hỗ trợ phân tích là không
thể thực hiện được với truy vấn truyền thống (SQL).
- Rất nhiều kiểu câu truy vấn mà con người quan tâm là rất khó thực hiện hay miêu tả trong ngôn
ngữ vấn tin, đại loại như:
o Tìm tất cả các bản ghi nghi là gian lận.
o Tìm tất cả các bản ghi tương tự như các bản ghi trong bảng X.
- Một số vấn đề với dạng thức truy vấn:
o Không thể tối ưu hóa thông qua truy vấn,

khai phá dữ liệu và khám phá tri thức trong cơ sở dữ liệu (knowledge discovery in databases - kdd ) là
như nhau. Tuy nhiên thực chất , khai phá dữ liệu chỉ là một khâu trong quá trình khám phá tri thức.
Tiến trình trong thu thập dữ liệu số và công nghệ lưu trữ dẫn đến sự lớn lên của các CSDL đồ
sộ. Điều này đã xuất hiện trong tất cả lĩnh vực từ dữ liệu trong các hoạt động của con người (như dữ
liệu giao dịch thị trường, bản ghi việc sử dụng thẻ tín dụng, thông tin về các cuộc gọi điện thoại, các
thống kê của chính phủ) tới các dữ liệu thu thập được từ bên ngoài (như hình ảnh các thiên thể, CSDL
về phân tử, hoặc bản ghi y tế). Cùng với sự lớn lên của dữ liệu là sự lớn lên của mối quan tâm về các
vấn đề về khả năng sao lưu dữ liệu này (tapping these data), khả năng trích rút từ chúng các thông tin
có giá trị . Khoa học trích ra các thông tin hữu ích từ một tập dữ liệu (các CSDL) lớn được xem là
Khai phá dữ liệu (Data mining). Nó là một khoa học liên ngành mới, giao của thống kê học, học máy,
quản trị dữ liệu và các CSDL, nhận dạng khuôn mẫu, trí tuệ nhân tạo, và các lĩnh vực khác. Tất cả
chúng liên quan đến các khía cạnh cụ thể của phân tích dữ liệu, chúng có nhiều thứ chung, nhưng mỗi
môn có các bài toán và phương pháp giải quyết phân biệt và đặc trưng.
2.5. ĐINH NGHĨA KHÁM PHÁ DỮ LIỆU
Khái niệm Khai phá dữ liệu ra đời vào cuối những năm 80. Nó bao hàm một loạt các kỹ thuật
nhằm phát hiện ra các thông tin có giá trị tiềm ẩn trong các tập dữ liệu lớn. Một số tên khác được sử
dụng với ý nghĩa tương tự như lĩnh vực Khai phá dữ liệu như : Khảo cổ dữ liệu, Nạo vét dữ liệu, Phân
tích sự phụ thuộc chức năng, và Thu hoạch dữ liệu, ... Nhưng tựu chung lại, về bản chất, Khai phá dữ
liệu liên quan đến việc phân tích các dữ liệu và sử dụng các kỹ thuật đặc biệt để tìm ra các mẫu đặc
trưng trong một tập dữ liệu khổng lồ. Có rất nhiều định nghĩa về Khai phá dữ liệu đã được các tác giả
khác nhau đưa ra; sau đây là một số định nghĩa tham khảo mà các nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh
vực này phát biểu:
Định nghĩa của Ferrurra: “Khai phá dữ liệu là tập hợp các phương pháp được dùng trong tiến
trình Khám phá tri thức để tìm ra sự khác biệt các mối quan hệ và các mẫu chưa biết bên trong dữ liệu”
7
Định nghĩa của Parsaye: “Khai phá dữ liệu là quá trình trợ giúp quyết định, trong đó chúng ta
tìm kiếm các mẫu thông tin chưa biết và bất ngờ trong CSDL lớn”
Định nghĩa của Mitchell: “Khai phá dữ liệu là việc sử dụng các dữ liệu đã có để khám phá các
quy tắc và đưa đến các quyết định”
Định nghĩa của Groth: “Khai phá dữ liệu là một quá trình xác định các mẫu ẩn, xu thế và mối

mối liên hệ chỉ đơn thuần là sự xuất hiện ngẫu nhiên không phản ánh một thực tế nào cả. Thông
thường, dữ liệu có sẵn chỉ bao gồm một mẫu (sample) từ một tập đầy đủ dữ liệu; mục đích là khái quát
hóa (generalize) từ mẫu đó cho toàn bộ tập dữ liệu. Chẳng hạn chúng ta mong muốn dự đoán hành vi
của các khách hàng tương lai, hoặc dự đoán các tính chất của cấu trúc proteins mà chúng ta chưa bao
giờ nhìn thấy trước đó. Những khái quát hóa như vậy có thể không thể có được bằng các cách tiếp cận
thống kê chuẩn vì dữ liệu thường không phải là các mẫu “ngẫu nhiên” mà là “mẫu tiện lợi”
(“convenience samples”) hoặc “mẫu cơ hội” (“opportunity samples”). Đôi khi chúng ta muốn tóm tắt
hoặc nén một tập dữ liệu lớn theo một cách sao cho kết quả là dễ hiểu, không có bất cứ một ý niệm
nào của khái quát hóa cả. Vấn đề như vậy sẽ nảy sinh, chẳng hạn, nếu chúng ta đã hoàn thành dữ liệu
điều tra dân số đầy đủ của một quốc gia, hoặc một CSDL gồm hàng triệu giao dịch bán lẻ.
Các mối liên hệ và cấu trúc tìm thấy trong các tập dữ liệu phải là mới, điều đó là tất nhiên. Sẽ có
rất ít giá trị khi tìm ra các mối liên hệ đã thiết lập trước (trừ khi mục đính của công việc là xác nhận
giả thuyết, xác định xem một khuôn mẫu - pattern - tồn tại trong một tập dữ liệu mới không), hoặc các
mối liên hệ cần thiết (ví dụ như tất cả bệnh nhân mang thai là nữ). Rõ ràng, tính mới (novelty) phải
được đo một cách tương đối đối với tri thức đã có trước (tri thức tiên nghiệm) của người sử dụng.
Không may là chỉ có một vài giải thuật Khai phá dữ liệu là đề cập đến tri thức tiên nghiệm.
Trong khi tính mới là một tính chất quan trọng của các mối liên hệ chúng ta tìm kiếm, nó vẫn
không đủ để đánh giá một mối liên hệ là có giá trị. Cụ thể, các mối liên hệ phải có thể hiểu được
(understandable). Ví dụ các mối liên hệ đơn giản là dễ hiểu hơn các mối liên hệ phức tạp, và vì vậy
được ưa thích hơn.
9
CHƯƠNG III : NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH KHÁM PHÁ TRI THỨC
3.1. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUY TRÌNH KHÁM PHÁ TRI THỨC
Quá trình trích rút tri thức từ các CSDL là sự kết hợp giữa các kỹ thuật và công cụ thống kê, máy
học và các CSDL, ... để tìm ra một mô tả logic chính xác, và cuối cùng là từ các mô tả này có thể đưa
ra các mẫu và các quy tắc trong dữ liệu.
Việc trích rút tri thức từ một khối lượng khổng lồ dữ liệu có thể được xem như là một quá trình
tương tác lặp đi lặp lại, và không phải là một hệ thống phân tích tự động. Trong trường hợp này, chúng
ta không thể đơn giản trông chờ một trích rút tri thức hữu ích chỉ bằng việc xem xét một nhóm dữ liệu
trong một hộp đen “black box”.

biểu vấn đề của bài toán. Giai đoạn này là điều kiện tiên quyết cho việc trích rút tri thức và lựa
chọn phương pháp Khai phá dữ liệu thích hợp với mục đích của ứng dụng và bản chất của dữ
liệu.
- Giai đoạn thứ hai: Thu thập và tiền xử lý dữ liệu. Giai đoạn này có nhiệm vụ thu thập và tiền
xử lý dữ liệu, bao gồm việc lựa chọn dữ liệu nguồn, loại bỏ các nhiễu hay phân tách dữ liệu, xử
lý dữ liệu lỗi, chuyển đổi và rút gọn dữ liệu (nếu cần thiết). Giai đoạn này thường chiếm nhiều
thời gian nhất trong toàn bộ quá trình Khám phá tri thức - Khai phá dữ liệu.
- Giai đoạn thứ ba: Khai phá dữ liệu, trích rút tri thức. Giai đoạn này sử dụng các kỹ thuật Khai
phá dữ liệu để trích rút ra các mẫu, các mô hình ẩn dấu trong dữ liệu hoặc tĩch lũy các thông tin
thống kê có ích dữa trên các thuật toán phân loại rồi sử dụng chúng để thu nhận được các thông
tin có ích dưới một dạng nào đó. Một mô hình có thể được xem như “sự thể hiện một cấu trúc
tóm tắt một cách hệ thống các thành phần nằm dưới dữ liệu hay mô tả cách mà dữ liệu phát
sinh”. Trái ngược với nó, “một mẫu là một cấu trúc cục bộ, có thể chỉ liên quan đến một nhóm
các biến và một ít các trường hợp”. Các lớp chính của kỹ thuật Khai phá dữ liệu là mô hình dự
11
Tỡm hiểu lĩnh
vực ứng dụng
Thu thập và tiền
xử lý dữ liệu
Khai phỏ
trớch rỳt tri
thức
Phân tích và kiểm
định kết quả
Sử dụng tri thức
phát hiện được
CSDL
Dữ liệu đó được
tiền xử lý
Cỏc

hãy xem xét những nhiệm vụ mà một quá trình Khám phá tri thức sẽ làm trong hình sau:
12

Hình 3.2: Các nhiệm vụ của quá trình Khám phá tri thức
- Tích hợp dữ liệu: Thu thập dữ liệu từ các nguồn khác nhau.
- Tạo ra tập dữ liệu mục tiêu: Lựa chọn một tập dữ liệu, tập trung vào một tập con các biến hoặc
các mẫu dữ liệu, trên tập dữ liệu mục tiêu đó, việc khám phá sẽ được thực hiện,
- Tiền xử lý và làm sạch dữ liệu: ở đây bao gồm các thao tác cơ bản như loại bỏ các nhiễu, loại
bỏ các giá trị bất thường không hợp lý.
- Rút gọn và chiếu dữ liệu: Tìm ra các đặc trưng hữu dụng để miêu tả dữ liệu phụ thuộc vào mục
tiêu của mỗi nhiệm vụ. Sử dụng việc rút gọn số chiều (kích thước) hoặc các kỹ thuật biến đổi
để giảm bớt số biến có ảnh hưởng hoặc tìm ra cái bất biến đối với dữ liệu,
13
- Lựa chọn nhiệm vụ Khai phá dữ liệu: Quyết định đích của Khám phá tri thức là phân lớp, hồi
quy, phân nhóm, ... Những nhiệm vụ khác nhau của giải thuật Khai phá dữ liệu cũng cần phải
được đề cập ở đây,
- Lựa chọn kỹ thuật Khai phá dữ liệu: Lựa chọn các kỹ thuật cho việc tìm kiếm các mẫu trong
dữ liệu, điều này quyết định mô hình và các tham số nào là thích hợp và kỹ thuật Khai phá dữ
liệu nào phù hợp với tiêu chuẩn của quá trình Khám phá tri thức (ví dụ người sử dụng cuối
cùng sẽ quan tâm đến việc hiểu dữ liệu hơn là mô hình có khả năng dự báo),
- Khai phá dữ liệu để trích rút các khuôn mẫu/mô hình: Tìm kiếm các khuôn mẫu liên quan đến
dạng thức đặc biệt hoặc một tập các đặc trưng như: luật phân lớp, cây quyết định, hồi quy,
phân nhóm ...,
- Giải thích và ước lượng các khuôn mẫu/mô hình,
- Củng cố, thống nhất tri thức khám phá: Hợp nhất các tri thức này vào trong hệ thống thực thi
hoặc đơn giản là đưa ra các tài liệu báo cáo. Điều này cũng bao gồm việc kiểm tra và giải quyết
các xung đột với các tri thức tin tưởng trước đó.
3.3. QUY TRÌNH KHÁM PHÁ TRI THỨC
Rõ ràng, nhiệm vụ của quá trình Khám phá tri thức là rất nặng nề và liên quan đến nhiều vấn đề;
nếu lĩnh vực ứng dụng hay bài toán đặt ra đã được xác định trên các tập dữ liệu lớn như kho dữ liệu,

Dữ liệu đã được
chuyển đổi
Các mẫu,
mô hình
Tri thức
- Bước thứ hai: Tiền xử lý dữ liệu (Data preprocessing): là bước làm sạch dữ liệu (xử lý dữ liệu
không đầy đủ, dữ liệu nhiễu, dữ liệu không nhất quán, ...), rút gọn dữ liệu (sử dụng các phương
pháp rút gọn dữ liệu, histograms, lấy mẫu, ...), rời rạc hoá dữ liệu (dựa vào histograms,
entropy, phân khoảng, ...). Sau bước này, dữ liệu sẽ nhất quán, đầy đủ, được rút gọn, và được
rời rạc hoá,
- Bước thứ ba: Biến đổi - chuyển dạng dữ liệu (Data transformation) nếu cần : là bước chuẩn
hoá và làm mịn dữ liệu để đưa dữ liệu về dạng thuận lợi nhất nhằm phục vụ cho các kỹ thuật
khai phá ở bước sau,
- Bước thứ tư: Khai phá dữ liệu (Data mining) : đây là bước quan trọng và tốn nhiều thời gian
nhất của quá trình Khám phá tri thức, áp dụng các kỹ thuật khai phá (phần lớn là các kỹ thuật
của machine learning) để khai phá, trích chọn được các mẫu (patterns) thông tin, các mối liên
hệ đặc biệt trong dữ liệu,
- Bước thứ năm: Biểu diễn và đánh giá tri thức (Knowledge epresentation & evaluation): Dùng
các kỹ thuật hiển thị dữ liệu để trình bày các mẫu hoặc mô hình thông tin (tri thức) và mối liên
hệ đặc biệt trong dữ liệu đã được khai thác ở bước trên biểu diễn theo dạng gần gũi với người
sử dụng như đồ thị, cây, bảng biểu, luật, ... Đồng thời bước này cũng đánh giá những tri thức
khám phá được theo những tiêu chí nhất định.
Một điều cần lưu ý là: Trong bước Khai phá dữ liệu, có thể cần sự tương tác của người dùng để
điều chỉnh và rút ra các tri thức cần thiết nhất. Các tri thức nhận được cũng có thể được lưu và sử dụng
lại.
3.4. HƯỚNG TIẾP CẬN VÀ KỸ THUẬT CHÍNH TRONG KHAI PHÁ DỮ LIỆU.
3.4.1. Các dạng dữ liệu có thể khai phá:
Như chúng ta đã biết, tri thức của nhân loại là tổng hòa của các mối quan hệ, liên quan mật thiết,
logic với nhau và được lưu trữ dưới các dạng dữ liệu này hay dữ liệu kia. Trong thực tế có rất nhiều
mô hình CSDL, tuy nhiên, trong các lĩnh vực ứng dụng cụ thể khác nhau, chúng ta có thể định nghĩa

(Genetic algorithms), tập mờ (Fuzzy Sets), tập thô (Rough Sets).[4]
Đối với Aggarwal & Yu, các kỹ thuật Khai phá dữ liệu gồm: Luật kết hợp (Association rules),
Phân nhóm (Clustering), Phân lớp (Classification).
Tựu chung lại, các kỹ thuật Khai phá dữ liệu thực chất không có gì mới. Nó là sự kế thừa, kết
hợp và mở rộng của các kỹ thuật cơ bản đã được nghiên cứu từ trước như học máy, nhận dạng, thống
kê (hồi quy, phân loại, phân nhóm), các mô hình đồ thị, các mạng Bayes, trí tuệ nhân tạo, thu thập tri
thức hệ chuyên gia,… Tuy nhiên, với sự kết hợp tài tình của Khai phá dữ liệu, kỹ thuật này có ưu thế
16
hơn hẳn các phương pháp trước đó, đem lại nhiều triển vọng trong việc ứng dụng phát triển nghiên
cứu khoa học cũng như áp dụng vào thực tiễn và nó có thể được chia làm 2 nhóm chính sau:
- Kỹ thuật khai phá dữ liệu mô tả: có nhiệm vụ mô tả về các tính chất hoặc các đặc tính chung
của dữ liệu trong CSDL hiện có. Nhóm kỹ thuật này gồm các phương pháp: phân nhóm
(Clustering), tổng hợp hóa (Summerization), Phát hiện sự biến đổi và độ lệch (Change and
deviation detection), phân tích luật kết hợp (Association Rules), ...
- Kỹ thuật khai phá dữ liệu dự đoán: có nhiệm vụ đưa ra các dự đoán dựa vào các suy diễn trên
dữ liệu hiện thời. Nhóm kỹ thuật này gồm các phương pháp: phân lớp (Classification), hồi quy
(Regression), ...
3.4.2.1. Phân lớp và dự đoán (Classification & Prediction):
Là việc xác định một hàm ánh xạ từ một mẫu dữ liệu vào một trong số các lớp đã được biết
trước đó. Mục tiêu của việc phân lớp là tìm ra mối quan hệ nào đó giữa thuộc tính dự báo và thuộc tính
phân lớp hay nói cách khác là dự đoán nhãn lớp cho các mẫu dữ liệu. Như thế quá trình phân lớp có
thể sử dụng mối quan hệ này để dự báo cho các mục mới. Các kiến thức được phát hiện biểu diễn dưới
dạng luật theo các cách sau: “Nếu các thuộc tính dự báo của một mục thỏa mãn điều kiện của các tiền
đề thì mục đó nằm trong lớp chỉ ra trong kết luận”. Ví dụ : phân lớp loại cước hoặc loại dịch vụ dựa
trên số máy bị gọi của cuộc gọi, phân lớp khu vực dựa trên số máy chủ gọi, phân lớp giờ cao điểm,
thấp điểm dựa trên giờ bắt đầu đàm thoại, ... Phân lớp là một lĩnh vực rất quan trọng trong khai phá dữ
liệu. Quá trình phân lớp dữ liệu thường gồm 2 bước: xây dựng mô hình và sử dụng mô hình để phân
lớp dữ liệu.
- Bước 1: một mô hình sẽ được xây dựng dựa trên việc phân tích các mẫu dữ liệu sẵn có. Mỗi
mẫu tương ứng với một lớp, được quyết định bởi một thuộc tính gọi là thuộc tính lớp. Các mẫu

các hàm với một hoặc nhiều trọng số đầu vào, với kết quả đầu ra là một nhãn các lớp. Từng phần riêng
biệt của dữ liệu được đưa vào mạng nơron và các hàm - các trọng số trong mạng nơron bị thay đổi
(học - huấn luyện) tùy theo tỷ lệ lỗi của đầu ra. Phương pháp này thường đưa đến một khoảng thời
gian huấn luyện dài ngay cả khi tập dữ liệu nhỏ.
Lợi thế của mạng nơron là đưa đến các kết quả khá chính xác, nhưng bất lợi của nó là thường
đòi hỏi thời gian huấn luyện dài và đưa ra các kết quả khó hiểu, cứng nhắc, bị bao bọc trong một hộp
đen, khó giải thích tường minh.
d) Giải thuật di truyền (Genetic algorithms).
Các giải thuật di truyền được sử dụng để đưa ra công thức giả thuyết về sự phụ thuộc giữa các
biến. Đối với một giải thuật di truyền phải sử dụng các giải pháp như cạnh tranh, lựa chọn và kết hợp
giữa các tập hợp cá thể.
18

Trích đoạn Tiền xử lý dữ liệu chuỗi thời gian Dự báo trạng thái của hệ thống nhiễu loạn Hướng nghiên cứu tiếp theo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status