1
Mục lục
Mục lục 1
Lời cam đoan...................................................................................................................2
Lời nói đầu........................................................................................................................3
Chơng 1: 6
Tổng quan về rủi ro và quản trị rủi ro..........................................................6
1.1.Các khái niệm cơ bản về rủi ro và rủi ro trong kinh doanh.................................6
1.1.1.Rủi ro nói chung và rủi ro trong sản xuất kinh doanh...............................................6
1.1.2.Phân loại rủi ro trong kinh doanh.............................................................................9
1.2. Quản trị rủi ro..................................................................................................20
1.3.Quản trị rủi ro trong lý luận và thực tiễn sản xuất kinh doanh ........................27
Kết luận chơng 1.....................................................................................................42
Chơng 2: 44
Các phơng pháp quản trị rủi ro trong ngành công nghiệp mỏ......44
2.1. Khái niệm phơng pháp quản trị rủi ro..............................................................44
2.2. Các phơng pháp quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp mỏ.............................................................................................45
Kết luận chơng 2.....................................................................................................76
Chơng 3: 78
áp dụng quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở
công ty than cọc 6 - doanh nghiệp khai thác than lộ
thiên vùng Quảng Ninh.....................................................................78
3.1. Những nguy cơ rủi ro xét từ các điều kiện sản xuất kinh doanh của công ty
than Cọc 6.......................................................................................................79
3.1.1. Nguy cơ rủi ro từ các điều kiện địa chất mỏ và tự nhiên........................................79
3.1.2. Nguy cơ rủi ro từ điều kiện kỹ thuật - công nghệ....................................................84
3.2. áp dụng các phơng pháp quản trị rủi ro đối với các rủi ro phát sinh trong công
ty than Cọc 6...................................................................................................95
Kết luận 103
Tài liệu tham khảo.................................................................................................105
trong quá trình quản trị rủi ro, với mục đích giảm thiểu các thiệt hại phát sinh
khi rủi ro đó xảy ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
công nghiệp mỏ.
Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài Quản trị rủi ro trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp mỏ, áp dụng cho một
doanh nghiệp khai thác than lộ thiên vùng Quảng Ninh làm đề tài cho
luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành kinh tế mỏ - địa chất.
4
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tạo ra cơ sở khoa học cho các
nhận thức về rủi ro và quản trị rủi ro, góp phần hoàn thiện phơng pháp đa ra
các quyết định quản trị ở doanh nghiệp công nghiệp mỏ khi lập dự án đầu t,
xây dựng kế hoạch, tổ chức sản xuất v.v...
Đối t ợng nghiên cứu của luận văn là các rủi ro trong các doanh nghiệp
nói chung, doanh nghiệp khai thác than lộ thiên ở Quảng Ninh nói riêng trong
điều kiện nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của luận văn là:
- Tổng quan các vấn đề lý luận và thực tiễn về rủi ro và quản trị
rủi ro, đề xuất các định nghĩa về rủi ro và quản trị rủi ro theo quan điểm của tác
giả
- Nghiên cứu và đề xuất các phơng pháp quản trị rủi ro trong
ngành công nghiệp mỏ
- Lựa chọn phơng pháp quản trị rủi ro phù hợp cho công ty than
Cọc 6 - một doanh nghiệp khai thác than lộ thiên vùng Quảng Ninh
Ph ơng pháp nghiên cứu của luận văn:
- Để xác định mục đích, đối tợng và các nhiệm vụ nghiên cứu tác
giả đã sử dụng phơng pháp hệ thống hoá để tổng quan lý thuyết
và thực tiễn về rủi ro và quản trị rủi ro
- Để đặt tên và mô tả thực chất, đặc điểm, lĩnh vực áp dụng các
phơng pháp quản trị rủi ro đã tồn tài muôn hình muôn vẻ trong
lý thuyết và thực tiễn, tác giả áp dụng phơng pháp phân loại
Tác giả đề nghị đợc bảo vệ luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế mỏ -
địa chất trớc hội đồng chấm luận văn thạc sỹ.
Hà Nội tháng 8 năm 2005
Nguyễn Thị Hoài Nga
6
Chơng 1:
Tổng quan về rủi ro và quản trị rủi ro
1.1.Các khái niệm cơ bản về rủi ro và rủi ro trong kinh doanh
1.1.1. Rủi ro nói chung và rủi ro trong sản xuất kinh doanh
Cho đến nay khái niệm rủi ro vẫn làm cho ngời ta liên tởng đến những
yếu tố hiểm hoạ trong đời sống hàng ngày còn rủi ro kinh doanh cha có một
định nghĩa đợc coi là thống nhất. Rủi ro theo nhiều quan điểm có thể đợc coi là
bắt nguồn từ những sự không chắc chắn của những sự kiện tơng lai và đợc
phản ánh lại ở dạng những sai lệch tiêu cực so với những mục tiêu đã đề ra ban
đầu. Thuật ngữ rủi ro xuất hiện trong các tài liệu quản trị kinh doanh vào
khoảng những năm 80, 90 của thế kỉ 20, đợc biết dới các tên gọi risque (tiếng
Pháp), risk (tiếng Anh), uncertain (không chắc chắn - tiếng Anh), threat (đe
doạ, nguy cơ - tiếng Anh) hay riskio (tiếng Đức). Rủi ro kinh doanh là một
thuật ngữ còn khá mới ở Việt Nam và tuỳ theo các trờng phái nghiên cứu khác
nhau mà các nhà nghiên cứu đa ra các định nghĩa riêng biệt. Tuy những định
nghĩa này đa dạng và phong phú nhng có thể chia ra hai hớng: hớng tiêu cực và
hớng trung hoà [7].
Rủi ro có thể đợc coi là những sự không may (Nguyễn Lân, từ điển Từ
và Ngữ Việt Nam, 1998, trang 1540), không tốt, bất ngờ xảy đến (từ điển
Tiếng Việt, trung tâm từ điển học Hà Nội, 1995). Theo những định nghĩa này,
rủi ro mang nhiều ý nghĩa tiêu cực. Ngoài ra, trong lĩnh vực kinh doanh, tác
giả Hồ Diệu định nghĩa rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi
nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Ngời ta cũng cho rằng, rủi ro là những
điều ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
sự của sự phát sinh rủi ro. Mà nếu nh cha nói đến nguyên nhân, thì việc khắc
phục sự phát sinh rủi ro sẽ gặp nhiều khó khăn.
Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lí cũng cho rằng, rủi ro
và lợi nhuận của các doanh nghiệp là hai mặt vừa đối lập, vừa có quan hệ mật
thiết. Lĩnh vực kinh doanh nào lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn. Tuy
nhiên không phải lĩnh vực kinh doanh có rủi ro lớn có thể mang lại lợi nhuận
cao. Nh vậy, rủi ro không có nghĩa là rất xấu, rất tồi tệ mà nó góp phần
giúp các nhà quản trị tích cực hơn trong công tác phòng ngừa, xác định trớc
những thiệt hại có thể gặp phải, từ đó tận dụng đợc cơ hội và khắc phục đợc
những nguy cơ trong kinh doanh, đề ra các chiến lợc và các đối sách phù hợp.
Nh vậy, dù định nghĩa rủi ro theo cách nào đi chăng nữa thì bản chất
của rủi ro cũng là những thiệt hại gắn liền với khả năng nắm bắt thông tin
không đầy đủ, chính xác, kịp thời của con ngời trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Nhiệm vụ của quản trị rủi ro vì thế sẽ là quá trình nhận biết sớm
các rủi ro, đánh giá đúng đắn những hậu quả của các rủi ro này cũng nh liệu có
hay không sự mạo hiểm của các doanh nghiệp trong quá trình kiểm soát và
khắc phục rủi ro.
Nói tóm lại, theo quan điểm của tác giả, rủi ro là thiệt hại trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp do công tác quản trị
doanh nghiệp không thể nắm bắt đầy đủ, chính xác, kịp thời những thông
tin để đa ra những quyết định phòng ngừa hoặc giảm đến mức thấp nhất
thiệt hại đó. Để đánh giá trớc rủi ro cần xác định mức thiệt hại có thể xảy ra
kèm theo xác suất của sự kiện rủi ro. Mức độ thiệt hại có thể khắc phục đợc
đến đâu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Đối với các doanh nghiệp, họ cần nhận
thức rằng làm kinh doanh là luôn luôn phải đối mặt với rủi ro và cần phải coi rủi
ro cũng là đối tợng của hoạt động quản trị.
9
Cũng cần phải khẳng định rằng các doanh nghiệp khác nhau sẽ đối mặt
với các rủi ro khác nhau. Chẳng hạn, đối với các doanh nghiệp nói chung, rủi
ro đến với họ có thể do đầu t máy móc thiết bị không phù hợp khiến năng suất
các mỏ khai thác than lộ thiên.
Hình 1.1: Sơ đồ phân loại rủi ro trong kinh doanh
a) Phân loại rủi ro theo địa điểm phát sinh rủi ro
Theo địa điểm phát sinh rủi ro thì rủi ro có thể phân ra 2 loại: các rủi ro
từ bên trong doanh nghiệp và các rủi ro từ bên ngoài doanh nghiệp.
Các loại rủi ro
Theo địa điểm
phát sinh rủi ro
Theo điều kiện
phát sinh rủi ro
Theo giai đoạn
phát sinh rủi ro
Theo yếu tố giảm
lợi nhuận
Theo địa điểm
phát sinh rủi ro
Rủi ro bên trong
doanh nghiệp
Rủi ro bên ngoài
doanh nghiệp
Rủi ro về
địa chất
- tự
nhiên
Rủi ro về
kỹ thuật
- công nghệ
Rủi ro về
tổ chức
Rủi ro về
doanh nghiệp có thể gây tác động tích cực cho sự phát triển của doanh nghiệp
song cũng có thể gây tác dụng tiêu cực (rủi ro) cho doanh nghiệp.
Michael Porter, chuyên gia về chiến lợc kinh doanh và lợi thế cạnh
tranh, trong [33] đã đa ra mô hình cho thấy những nguy cơ rủi ro mà các phần
tử ngoài doanh nghiệp có thể đa đến cho doanh nghiệp nh ở hình 1.2.
Từ mô hình này có thể thấy các rủi ro mà doanh nghiệp có thể sẽ gặp
phải trong thị trờng và trong quá trình cạnh tranh. Đó chính là các sức ép, các
đe doạ từ những ngời cung cấp, ngời mua, những doanh nghiệp cạnh tranh
trong ngành cũng nh các doanh nghiệp sản xuất hàng thay thế. Việc xác định
đợc đúng những lợi thế của các đối tợng này cũng nh xác định đầy đủ các nguy
cơ mà các đối tợng này đe doạ doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp xác định đ-
ợc chiến lợc kinh doanh đúng đắn, để vừa có thể huy động đợc các nguồn lực
bên trong doanh nghiệp, vừa có thể tận dụng đợc những cơ hội và đối phó với
12
các nguy cơ từ bên ngoài. Nhờ đó, doanh nghiệp vừa có thể đạt đợc mục tiêu
đề ra, vừa có thể phòng tránh các rủi ro phát sinh.
Hình 1.2: Mô hình các rủi ro tác động đến doanh nghiệp từ các phần
tử trong môi trờng kinh doanh
Rủi ro lớn nhất đối với doanh nghiệp do ngời cung ứng gây ra chính là
khả năng doanh nghiệp bị nhà cung ứng thôn tính (nhà cung ứng sử dụng chiến
lợc kết hợp về phía trớc). Bằng chiến lợc này nhà cung ứng có khả năng khép
kín sản xuất hoặc đe doạ khép kín sản xuất, mục tiêu là kiểm soát tiêu thụ và
liên hệ trực tiếp ngời tiêu dùng.
Môi trờng doanh nghiệp hiểu theo nghĩa rộng còn bao gồm môi trờng
kinh tế vĩ mô, môi trờng luật pháp và thể chế, môi trờng văn hoá, môi trờng xã
hội, môi trờng công nghệ, môi trờng chính trị, môi trờng sinh thái, môi trờng
quốc tế [37]. Tất cả các môi trờng này đều có tác động đến hoạt động của
doanh nghiệp, mang lại những cơ hội và nguy cơ cho doanh nghiệp. Trong
Các đối thủ
tiềm ẩn
còn rờm rà khiến doanh nghiệp mất cơ hội trong kinh doanh. Ngoài ra, trong
hoạt động kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ, nắm vững
và có những chiến lợc thích hợp với môi trờng chính trị của các quốc gia đến
kinh doanh để hạn chế các rủi ro phát sinh.
Luật pháp đề ra các chuẩn mực mà mọi ngời phải thực hiện và các biện
pháp trừng phạt những ai vi phạm. Luật pháp đảm bảo sự công bằng cho các
doanh nghiệp, chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh. Nắm vững luật pháp
giúp các doanh nghiệp hoạch định đúng chiến lợc kinh doanh trong khuôn khổ
pháp luật cho phép, nhận biết cơ hội và tránh đợc các nguy cơ vi phạm pháp
luật. Các doanh nghiệp không thể đối đầu với các chính sách, mà họ phải tuân
theo và có các điều chỉnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh để thích ứng
với pháp luật. Do vậy, tính chất đồng bộ, tiên tiến, nhất quán của hệ thống
pháp luật trong môi truờng luật pháp đóng một vai trò quan trọng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Một trong những rủi ro khó lờng trớc của các doanh nghiệp chính là do
sự thay đổi đột ngột của các chính sách của nhà nớc hoặc các quy định không
hợp lí. Ví dụ, trớc đây chính phủ quy định chi phí dành cho hoạt động quảng
cáo của các doanh nghiệp không đợc vợt quá 10% chi phí sản xuất sẽ làm cho
ngân sách quảng cáo của doanh nghiệp bị hạn chế, giảm khả năng cạnh tranh
14
với các đối thủ trong hoạt động khuếch trơng và xúc tiến bán hàng, dẫn đến
giảm lợi nhuận trong các doanh nghiệp. Trong trờng hợp các quy định của pháp
luật về phế liệu và rác thải công nghiệp còn đang có nhiều mâu thuẫn, việc
doanh nghiệp sản xuất thép nhập thép phế liệu về tái chế bị cơ quan chức năng
nhận định là nhập khẩu rác thải, buộc phải tái xuất và gây khó khăn cho doanh
nghiệp trong quá trình sản xuất. Ngành than Việt Nam cũng đã từng phải đối
mặt với nạn than thổ phỉ hoành hành ở Quảng Ninh do chính quyền không
kiểm soát, điều chỉnh đợc hành vi khai thác than bừa bãi, trái phép.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, họ lại càng phải chú
ý đến luật pháp của nớc nhập khẩu để tránh các rủi ro về bản quyền, luật cạnh
Rủi ro về kỹ thuật - công nghệ là rủi ro do doanh nghiệp lựa chọn áp
dụng kỹ thuật công nghệ lạc hậu làm cho sản phẩm kém sức cạnh tranh về giá
hoặc chất lợng.
Các máy móc thiết bị trong doanh nghiệp cũng có thể gặp rủi ro trong
vận hành, dẫn đến hỏng hóc. Không những phát sinh những thiệt hại tài chính
nh chi phí sửa chữa hoặc thay mới mà còn phát sinh những thiệt hại phi tài
chính nh đình trệ sản xuất, giảm năng suất lao động, tai nạn lao động v.v...
Rủi ro về tổ chức là các rủi ro phát sinh vì quá trình tổ chức sản xuất, tổ
chức lao động cha phù hợp. Bố trí máy móc trong dây chuyền công nghệ hoặc
bố trí lao động, tổ chức ca làm việc không hợp lý là những lý do làm sản lợng
thấp, năng suất thấp, ảnh hởng đến trình độ tận dụng năng lực sản xuất, tận
dụng thời gian và công suất của máy móc thiết bị, gây tâm lý ức chế đối với
ngời lao động v.v... Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà quản trị hoặc ng-
ời lao động cũng có thể mắc phải những sai lầm dẫn đến ra quyết định sai hoặc
làm thiệt hại đến sản xuất. Những quyết định sai lầm hoặc những hành động
16
gây thiệt hại cho hoạt động sản xuất kinh doanh đó chính là nguyên nhân làm
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Các quyết định sai lầm của nhà quản trị có thể xuất phát từ những nhận
định chủ quan về thị trờng và đối thủ cạnh tranh, trong nhiều trờng hợp là do bị
thiếu thông tin. Nh vậy, các kế hoạch tiêu thụ và sản xuất sản phẩm cũng nh
các kế hoạch huy động nguồn lực khác có thể không phù hợp với thực tế kinh
doanh và phát sinh thiệt hại. Quyết định về tổ chức sản xuất và tổ chức lao
động nếu sai lầm cũng sẽ đa đến những thất bại trong huy động và sử dụng hợp
lý nguồn lực.
Rủi ro theo điều kiện kinh tế - xã hội là các rủi ro phát sinh bởi các yếu
tố kinh tế - tài chính nh giá cả, biến động về cung - cầu trên thị trờng, tỉ giá hối
đoái, giá cả hàng hoá (cả đầu vào và đầu ra), các vấn đề liên quan đến hợp
đồng, các vấn đề khác thuộc về thị trờng v.v... Ngoài ra còn là các yếu tố liên
quan đến pháp luật, văn hoá, xã hội v.v... Đó cũng là những rủi ro phát sinh ở
cấp và doanh nghiệp tiến tới thiết lập quan hệ lâu dài thì đây cũng không phải
là yếu tố quan trọng đối với nhà cung cấp.
Trong trờng hợp doanh nghiệp đã đặt cọc cho việc mua sản phẩm của
nhà cung ứng, nếu không có biện pháp kiểm soát, họ cũng dễ bị phá vỡ hợp
đồng, hoặc hàng hoá đợc cung ứng không phù hợp.
Rủi ro trong sản xuất là các rủi ro phát sinh trong giai đoạn sản xuất của
doanh nghiệp. Đó là các rủi ro có liên quan đến các quyết định của nhà quản
trị trong điều hành sản xuất theo kế hoạch (các dự án) đã đợc thông qua, và
theo hợp đồng đã ký kết. Chẳng hạn, trong trờng hợp các hợp đồng xuất nhập
khẩu hàng hoá, khi quy định không rõ ràng và chặt chẽ về chất lợng hàng hoá,
các sai số cho phép cũng có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp khi hợp đồng
đợc thực hiện. Đối với một số hợp đồng xuất khẩu của Tổng công ty than Việt
18
Nam cho khách hàng Nhật Bản, do yếu kém trong công tác dự báo giá cả,
không dự đoán đợc xu thế giá tăng trên thị trờng quốc tế, Tổng công ty đã bỏ
qua cơ hội có thể bán đợc giá cao hơn, khiến cho lợi nhuận thực tế sụt giảm
tuy vẫn có lãi trong các hợp đồng này.
Yếu tố kiểm soát quá trình sản xuất cha chặt chẽ hoặc quá trình sản xuất
cha đồng bộ cũng có thể gây ra các sản phẩm sai lỗi. Việc doanh nghiệp sản
xuất cha quản trị chất lợng đồng bộ cũng gây ra những thiệt hại cho doanh
nghiệp, do không có cơ sở loại bỏ các sản phẩm sai lỗi ngay từ đầu, hay nói
cách khác, chấp nhận có sản phẩm sai lỗi cho đến khâu cuối cùng của quá trình
sản xuất, rồi tốn thêm chi phí cho hoạt động kiểm tra chất lợng sản phẩm.
Rủi ro trong tiêu thụ là rủi ro phát sinh trong giai đoạn tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp. Trong quá trình tiêu thụ, các doanh nghiệp phải đối mặt với
các rủi ro phát sinh từ các hợp đồng bán sản phẩm, thực hiện các hợp đồng khác
và việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của các bạn hàng. Nếu hàng hoá bị giao
thiếu, sai mẫu mã, quy cách, phẩm chất v.v... sẽ là những nguyên nhân gây rủi ro
cho doanh nghiệp do mất sự tín nhiệm của khách hàng, do phải giải quyết các
tranh chấp về hợp đồng, bồi thờng cho khách hàng v.v... Vì vậy, các yếu tố của
Rủi ro do giảm giá bán cũng thờng xuất hiện khi hàng hoá d thừa, tồn
đọng khiến doanh nghiệp chấp nhận giảm giá bán để tiêu thụ đợc nhiều sản
phẩm, giảm tồn kho và tăng cờng luân chuyển vốn lu động. Trong trờng hợp
doanh nghiệp thiếu hụt tiền mặt để trang trải các khoản nợ đến hạn, họ cũng
chấp nhận giảm giá bán - thậm chí dới giá thành - để có thể chuyển nhanh
hàng hoá thành tiền nhằm trang trải nợ vay. Điều này tất yếu dẫn đến giảm lợi
nhuận, thậm chí doanh nghiệp lỗ trong ngắn hạn. Rủi ro do giảm giá bán còn
là loại hình rủi ro phát sinh khi doanh nghiệp đã giảm giá bán nhng không thu
đợc kết quả nh mong đợi (vẫn mất thị phần, vẫn bị đối thủ cạnh tranh lấn át
v.v...)
20
Rủi ro vì tăng giá thành sản xuất có thể phát sinh trong trờng hợp doanh
nghiệp gặp phải các sự cố trong kinh doanh và phát sinh các chi phí để khắc
phục (tất yếu chi phí sản xuất tăng lên) - đây chính là hậu quả của các rủi ro
phát sinh. Ngoài ra, rủi ro do tăng chi phí sản xuất còn do các biến động về giá
và tỉ giá trên thị trờng - là một loại hình rủi ro. Với giá bán không thay đổi,
hoặc tốc độ tăng giá bán chậm hơn tốc độ tăng chi phí, việc tăng chi phí này
làm giảm lợi nhuận dự kiến của doanh nghiệp.
Tới đây, cần phải nhận định rằng: các rủi ro theo các tiêu chí phân loại
vẫn có mối liên hệ với nhau. Chẳng hạn các rủi ro về điều kiện mỏ - địa chất
nh trợt lở bờ mỏ do đặc điểm địa chất thuỷ văn (nớc ngầm), cấu tạo đất đá phủ,
v.v... đòi hỏi có các chi phí khắc phục (nh chi phí cho các lỗ khoan ngang) do
đó sẽ tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp và làm giảm lợi nhuận dự kiến
trong sản xuất kinh doanh. Đây cũng là một dạng rủi ro liên quan đến yếu tố tổ
chức, vì có thể trong quá trình sử dụng máy móc thiết bị trên khai trờng với
trọng lợng lớn hoặc do nổ mìn cũng tác động đến quá trình trợt lở bờ mỏ diễn
ra nhanh hơn.
Trong thực tiễn còn có thể căn cứ vào những tiêu thức khác để phân loại
rủi ro nh: loại ngành nghề kinh doanh, thị trờng doanh nghiệp tham giá, loại
nguồn lực hay dự trữ phải quản trị, khả năng kiểm soát v.v... Càng nhiều tiêu
quản trị khủng hoảng (crisis management). Khủng hoảng có thể đợc coi là
những rủi ro kéo dài, mang tính hệ thống, xâu chuỗi và do đó ảnh hởng của nó
tới doanh nghiệp và nền kinh tế là rất lớn, có thể làm doanh nghiệp mất đi phần
lớn thị phần và lợi nhuận, thậm chí đến mức phá sản.
Trong một số tài liệu đợc dịch sang tiếng Việt, risk management và
riskiomanagement còn đợc gọi là quản lý nguy cơ hoặc quản lý rủi ro,
theo tác giả là không chính xác vì những lý do sau:
- Nguy cơ là các yếu tố đe doạ tới hoạt động của doanh nghiệp
nhng xuất hiện và tác động đến doanh nghiệp từ bên ngoài, còn
22
rủi ro có thể phát sinh từ bên ngoài, cũng có thể phát sinh từ
trong nội bộ doanh nghiệp [33]
- Thuật ngữ quản trị đợc sử dụng để nói đến các hoạt động
điều chỉnh, ra quyết định trong doanh nghiệp, còn quản lý đ-
ợc sử dụng theo nghĩa quản lý kinh tế nhà nớc [10].
Cũng nh khái niệm rủi ro, khái niệm quản trị rủi ro có nhiều cách nhìn
nhận khác nhau. Theo tác giả D van Well - Stam, quản trị rủi ro đợc hiểu là
toàn bộ những hoạt động và phơng thức nhằm mục đích đối phó với những rủi
ro để duy trì và kiểm soát các vấn đề [41]. Quản trị rủi ro, vì thế, sẽ không phải
là vấn đề mới mẻ. Ai cũng phải kiểm soát các rủi ro xảy đến cho mình, ngay
trong cuộc sống hàng ngày. Chẳng hạn, khi ngời ta băng qua đờng, việc đầu
tiên là phải quan sát trớc sau, bên trái bên phải. Cũng nh thế, những nhà quản
trị thờng xuyên phải lu ý đến các rủi ro ngay trong các hoạt động quản trị diễn
ra hàng ngày của doanh nghiệp.
Có quan niệm đơn giản cho rằng quản trị rủi ro đơn thuần là hoạt động
mua bảo hiểm - các doanh nghiệp chuyển một phần gánh nặng rủi ro mà mình
có thể sẽ mắc phải cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Nh vậy, quản
trị rủi ro theo quan niệm này sẽ chỉ đề cập đến các rủi ro có thể phân tán đợc.
Vậy câu hỏi đặt ra là với các rủi ro không phân tán, hay nói cách khác, xét một
cách toàn diện thì các rủi ro trong kinh doanh nói chung đợc quản trị nh thế
mới mẻ trong ngôn ngữ kinh tế song những nội dung của quản trị rủi ro đã
xuất hiện từ trớc trong thực tiễn kinh doanh phong phú, đa dạng của con ngời.
Tuy nhiên việc coi quản trị rủi ro với tính chất của một chức năng quản
trị từ H. Fayol cho đến những sách giáo khoa gần đây [37] cha đợc nêu ra.
Tóm lại, thuật ngữ quản trị rủi ro theo tác giả định nghĩa là một chức
năng quản trị chuyên sâu nhng lồng ghép vào mọi chức năng quản trị đã
biết, bao gồm một tập hợp các nhiệm vụ của bộ máy quản trị doanh nghiệp
24
nhằm nhận dạng, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát,
những ảnh hởng bất lợi do rủi ro gây ra.
Để cụ thể hoá những nhiệm vụ phải giải quyết trong chức năng quản trị
rủi ro còn có những ý kiến khác nhau. Trong [28], J. Kretschmann và S.
Kullmann đã đa ra các nhiệm vụ cơ bản nh sau:
1. Xác định rủi ro: Là quá trình nhận thức các rủi ro hiện tại, rủi ro tơng
lai, rủi ro tiềm tàng liên quan đến doanh nghiệp, các rủi ro có thể hình dung về
mặt lí thuyết
2. Phân tích rủi ro: Điều tra và khảo sát, nhận dạng các loại rủi ro và
các nguyên nhân gây ra rủi ro
3. Đánh giá rủi ro: Đánh giá (1) các loại thiệt hại và lợng hoá chúng, (2)
xác suất xuất hiện và (3) diễn biến của rủi ro
4. Giải quyết rủi ro: Đề xuất các biện pháp phòng chống, khắc phục hậu
quả và giảm thiểu thiệt hại
5. Thông báo truyền đạt rủi ro: Đảm bảo dòng thông tin bên trong hệ
thống quản trị rủi ro. Thông báo chiến lợc giải quyết rủi ro (từ trên xuống dới)
và thông báo các thông tin rủi ro (từ dới lên trên) về tất cả các rủi ro quan
trọng, trình bày tình huống rủi ro đối với bên trong (báo cáo rủi ro) và đối với
bên ngoài (báo cáo tình hình)
6. Giám sát rủi ro: Kiểm tra và giám sát diễn biến của các rủi ro riêng rẽ
cũng nh sự hoạt động của hệ thống quản trị rủi ro
Còn theo [29], trong luật KontraG - luật kiểm tra và minh bạch của Đức