Ngành hàng lúa gạo của Đài Loan trong bối cảnh hội nhập WTO - Pdf 32

Phạm Quang Diệu (biên dịch) - 2003
Ngành hàng lúa gạo của Đài Loan trong
bối cảnh hội nhập WTO
Gạo, biểu tợng của nền nông nghiệp Đài Loan, là vấn đề gây nhiều tranh cãi
nhất trong các cuộc đàm phán kéo dài bắt đầu từ năm 1992. Tuy nhiên, theo những
điều khoản thoả thuận gần đây với Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO), Đài Loan
đã cam kết mở cửa thị trờng trong đó bao gồm cam kết dỡ bỏ các rào cản thơng
mại đối với nhập khẩu gạo. Song song với việc mở cửa dần dần từng bớc một
ngành hàng lúa gạo vốn đã từng đóng kín và bảo hộ cao, Đài Loan cũng tiến hành
điều chỉnh chính sách gạo để phù hợp với tình hình mới.
Vai trò của lúa gạo trong sản xuất nông nghiệp
Trong 5 thập kỷ qua, ngành lúa gạo Đài Loan có những biến chuyển mạnh mẽ.
Ngành gạo vốn là phơng tiện chính giúp các doanh nghiệp đạt đợc các mục tiêu của
Chính phủ nh thu thuế, tự cung tự cấp, thu ngoại tệ và bình ổn giá cả. Ước tính, hỗ
trợ đối với gạo chiếm khoảng 30-40% tổng trợ cấp của chính phủ đối với ngành nông
nghiệp. Do tỷ lệ bảo hộ cao nên lúa vẫn là cây nông nghiệp chủ đạo đợc trồng với
diện tích lớn và chiếm tỷ trọng lớn đất nông nghiệp.
Hơn 25 năm qua, ngành lúa gạo Đài Loan đã giảm sút đáng kể. Sau khi đạt
mức cao 2,7 triệu tấn (quy ra gạo lức), sản lợng gạo giảm xuống chỉ còn gần 1,5 triệu
tấn năm 2000. Chơng trình thu mua không hạn chế kết thúc vào năm 1977 là nhân tố
chính gây nên sự sụt giảm này trớc khi thực hiện chơng trình đa dạng hoá cây trồng
lần đầu tiên năm 1984.
Mặc dù vẫn là một cây trồng quan trọng ở Đài Loan nhng lúa không còn
chiếm vị trí số một trong sản xuất nông nghiệp kể từ năm 1986 do tốc độ tăng trởng
mạnh của các sản phẩm giá trị cao, đặc biệt là thịt lợn. Trong khi đó, tiêu thụ gạo,
thực phẩm thiết yếu của Đài Loan trong mấy thấp kỷ qua cũng giảm sút đáng kể. Kết
quả của sự tăng trởng kinh tế mạnh mẽ và đa dạng hoá chế độ ăn hàng ngày.
Năm 1999, bình quân mỗi ngời dân tiêu thụ khoảng 54,9 kg gạo (chủ yếu là
gạo hạt ngắn), chỉ bằng một nửa so với 2 thập kỷ trớc. Vai trò của xuất khẩu gạo
cũng chuyển từ xuất khẩu thu ngoại tệ sang giảm tồn kho với chi phí tài chính quá
cao. Kể từ khi ký kết hiệp định về gạo với Mỹ năm 1984, xuất khẩu gạo của Đài

đã thành lập Quỹ bình ổn lơng thực với ngân sách 3 tỷ đài tệ (97 triệu USD) vào năm
1974 để mua gạo của nông dân với giá cao hơn so với giá gạo trên thị trờng thế giới.
Do sản lợng gạo của Đài Loan cao hơn so với nhu cầu tự cung tự cấp nên dẫn tới tình
trạng d thừa cung.
Để giảm bớt lợng tồn kho khổng lồ, Đài Loan đã phải chuyển sang xuất khẩu.
Việc ký kết Hiệp định thơng mại gạo với Mỹ có thời hạn 5 năm (1984-4989) đã hạn
chế đáng kể lợng gạo xuất khẩu cũng nh thị trờng xuất khẩu của Đài Loan. Do đó,
Đài Loan đã phải thay đổi chính sách thông qua Chơng trình đa dạng hoá cây trồng
2
Phạm Quang Diệu (biên dịch) - 2003
toàn diện đầu tiên với thời hạn 5 năm 1984-1989 để khuyến khích nông dân chuyển
bớt đất trồng lúa sang các cây trồng khác, nhất là đậu tơng và ngũ cốc, những mặt
hàng có khả năng tự cung tự cấp thấp. Thêm vào đó, năm 1984, Đài Loan bắt đầu
chuyển một phần lớn gạo sang làm thức ăn gia súc-đầu tiên là 300.000-400.000 tấn-
bằng cách bán gạo vụ cũ cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc với giá tơng đơng
với ngô nhập khẩu. Nhờ những hoạt động trên, sản lợng gạo của Đài Loan đã giảm
26% và các kho dự trữ của chính phủ cũng giảm đáng kể. Để ngăn chặn hơn nữa tình
trạng d thừa cung trong sản xuất gạo, Đài Loan quyết định thực hiện chơng trình đa
dạng hoá cây trồng lần thứ 2 vào năm 1990 và kết thúc vào năm 1997. Giai đoạn này
Đài Loan ít tập trung vào vấn đề cung mà duy trì cân bằng giữa cung và cầu gạo.
Các cuộc đàm phán gay gắt với WTO đã tăng thêm sức ép lên chính sách nông
nghiệp của Đài Loan bởi các nớc thành viên đều đòi hỏi tự do hoá thơng mại. Đặc
biệt, bắt đầu từ năm 1995, Nhật và Hàn Quốc đồng ý theo điều khoản của vòng đàm
phán Uruguay về duy trì rào cản tối thiểu đối với nhập khẩu gạo và mở cửa một phần
thị trờng gạo đã làm cho chính sách cấm nhập khẩu gạo của Đài Loan bị phản đối
gay gắt. Kể từ đó, các quan chức Đài Loan đã tích cực chuẩn bị cho việc mở cửa thị
trờng gạo nội địa trong tiến trình gia nhập WTO.
Điều chỉnh chính sách gạo trớc khi gia nhập WTO
Năm 1997, sau khi chơng trình đa dạng hoá cây trồng lần thứ 2 kết thúc, Đài
Loan đã thực hiện chính sách điều chỉnh lúa gạo (RPUAP) để phù hợp với các cam

mua bảo đảm, mức giá danh nghĩa ổn định từ năm 1982-1988 và sau khi tăng 1% vào
năm 1989 sau đó ổn định trong giai đoạn 1990-1994. Lần tăng cuối cùng là 9% trong
năm 1995. Mặc dù có những điều chỉnh về chính sách nhng các doanh nghiệp nhà n-
ớc vẫn mua với giá tơng đối cao để bảo hộ ngành gạo. Sau hơn một phần t thế kỷ đi
vào hoạt dộng, tính đến tháng 6/1999, khoản nợ của Quỹ bình ổn lơng thực lên tới
201,47 tỷ đài tệ (khoảng 6,28 tỷ USD).
Nhìn chung các chơng trình gạo trên đòi hỏi các doanh nghiệp Nhà nớc phải
thu mua với giá cao và bán ra với giá thấp. Đặc biệt là giá gạo xuất khẩu hay làm
thức ăn chăn nuôi khác xa so với giá thu mua tại cổng trại và giá trên thị trờng thế
giới. Chẳng hạn, năm 2000, giá bảo đảm đối với gạo là 981 USD/tấn (gạo dẻo quy
xay với tỷ lệ chuyển đổi từ lúa thành gạo xay là 0,69%) trong khi giá xuất khẩu bình
quân (giá FOB) của gạo Đài Loan là 144 USD/tấn. 3 năm qua, mỗi năm các doanh
nghiệp Đài Loan xuất khẩu trung bình 100.000 tấn gạo vụ cũ, chủ yếu là sang các n-
ớc châu Phi có mối quan hệ ngoại giao thân thiết với Đài Loan.
Hội nhập WTO
Ngày 11/11/2001, 142 nguyên thủ của các nớc thành viên chính thức Tổ chức
thơng mại thế giới đã cùng công nhận một thành viên mới là Đài Bắc Trung Quốc
(hay còn gọi là Đài Loan). Ngay sau đó cơ quan lập pháp Đài Loan đã thông qua tất
cả các điều luật liên quan tới WTO và ngày 16/11 thủ tục gia nhập Tổ chức Thơng
mại thế giới đã hoàn tất. Ngày 1/1/2002, Đài Loan trở thành thành viên chính thức
thứ 144 của WTO.
4
Phạm Quang Diệu (biên dịch) - 2003
Theo điều khoản của WTO, Đài Loan sẽ áp dụng mức hạn ngạch nhập khẩu
gạo tối thiểu là 144.720 tấn (quy theo gạo lức), chiếm khoảng 8% lợng tiêu thụ nội
địa giai đoạn 1990-92.
Các doanh nghiệp nhà nớc sẽ nắm 65% thơng mại nhập khẩu gạo và khu vực t
nhân chỉ chiếm 35%. Mức thuế áp dụng đối với nhập khẩu gạo tối thiểu là 0% nhng
Đài Loan đợc phép tăng giá gạo nhập khẩu lên 23,26 đài tệ/kg (khoảng 0,74 USD/kg
hay 740 USD/tấn). Đài Loan đã cam kết giảm mức tăng này 2 tuần một lần để cân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status