MỤC LỤC
Lời mở đầu....................................................................................................................4
Chương I. Những vấn đề cơ bản về quỹ đầu tư chứng khoán.................................5
1.1. Khái niệm về quỹ đầu tư ........................................................................................5
1.1.1. Khái niệm quỹ đầu tư.........................................................................................5
1.1.2. Các lợi thế của qũy đầu tư .................................................................................5
1.1.3. Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán .................................................................8
1.1.3.1. Vai trò đối với các nhà đầu tư......................................................................8
1.1.3.2. Vai trò đối với nhà quản lý vốn ...................................................................8
1.1.3.3. Vai trò đối với nền kinh tế ...........................................................................8
1.2. Phân loại quỹ đầu tư chứng koán ...........................................................................9
1.2.1. Căn cứ vào đối tượng người tham gia qũy ........................................................9
1.2.1.1. Quỹ đầu tư tư nhân ......................................................................................9
1.2.1.2. Quỹ đầu tư tập thể......................................................................................10
1.2.2. Căn cứ vào cách thức huy động vốn................................................................11
1.2.2.1. Quỹ đầu tư dạng đóng (Closed - end funds)..............................................11
1.2.2.2. Quỹ đầu tư dạng mở (open - end funds) ....................................................11
1.2.3. Căn cứ theo mục tiêu và đối tượng đầu tư.......................................................12
1.2.3.1. Quỹ đầu tư cổ phần....................................................................................13
1.2.3.2. Qũy đầu tư trái phiếu .................................................................................13
1.2.3.3. Qũy đầu tư thị trường tiền tệ......................................................................13
1.2.3.4. Qũy đầu tư kết hợp.....................................................................................13
1.2.4. Căn cứ và mục đích đầu tư...............................................................................13
1.2.4.1. Qũy tăng trưởng.........................................................................................13
1.2.4.2. Quỹ tăng trưởng thu nhập...........................................................................13
1.2.4.3. Qũy thu nhập..............................................................................................13
1.2.5. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức điều hành ..............................................................13
Hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam
Nhóm 8
2
Hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam
Nhóm 8
3.2. Những kiến nghị để hình thành và phát triển qũy đầu tư...................................43
Kết luận.......................................................................................................................44
Danh mục tài liệu tham khảo………………………….…………………………...45
Danh sách nhóm ……………………………………………………………………46
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang
3
Hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam
Nhóm 8
LỜI MỞ ĐẦU
Trước xu thế phát triển và hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay
thì nhu cầu về vốn để đẩy mạnh phát triển kinh tế, tránh tụt hậu là vấn đề cần thiết đối
với mỗi nước. Để huy động vốn một cách tối đa, ngoài sự góp mặt của ngân hàng còn
có một số tổ chức phi ngân hàng khác điển hình là quỹ đầu tư (QĐT), một định chế tài
chính trung gian tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường đặc biệt là trên thị
trường chứng khoán (TTCK).
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1.Khái niệm về quỹ đầu tư.
1.1.1.Khái niệm quỹ đầu tư.
Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh nhất thiết phải có nhiều vốn đầu tư. Vấn
đề được đặt ra là làm thế nào để các tổ chức và các cá nhân có vốn nhàn rỗi và các
nhà doanh nghiệp có ý tưởng kinh doanh, có các dự án kinh doanh nhưng thiếu vốn
đầu tư gặp được nhau, cùng hợp tác với nhau, cùng nhau tìm kiếm các cơ hội kinh
doanh có lợi nhất. Để làm “cầu nối” giữa bên cần vốn với bên có vốn nhàn rỗi, nhiều
loại định chế chính trung gian đã ra đời (Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm,
công ty tài chính…). Một trong những định chế trung gian có ảnh hưởng tới hoạt
động đầu tư trong nền kinh tế, đó là “ quỹ đầu tư”.
Quỹ đầu tư hay còn gọi là công ty uỷ thác đầu tư là định chế tài chính thực hiện
việc huy động vốn của người tiết kiệm thông qua việc bán các chứng chỉ góp vốn.
Quỹ này đặt dưới sự quản trị chuyên nghiệp và được đầu tư vào các chứng khoán vì
lợi ích của các nhà đầu tư. Những người đầu tư vào quỹ có thể là các cá nhân hoặc các
tổ chức kinh tế, nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ, ít am hiểu về thị trường
chứng khoán.
Thực chất đây là hình thức chung vốn đầu tư giữa các cá nhân, các tổ chức
nhằm tăng tính chuyên nghiệp của việc đầu tư tạo điều kiện giảm thiểu rủi ro và các
chi phí liên quan đến quá trình đầu tư.
1.1.2.Các lợi thế của quỹ đầu tư.
Bất cứ một nhà đầu tư nào khi quyết định đầu tư đều phải nghiên cứu xem thu
nhập sau đầu tư là bao nhiêu, mức độ rủi ro có cao không? Tuy nhiên điều này chỉ có
thể thực hiện được đối với những nhà đầu tư.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
do họ tạo ra. Với xu thế tự do hoá thị trường tài chính, thông qua việc bãi bỏ dần các
quy định pháp luật và việc xuất hiện tràn ngập các sản phẩm mới như các công cụ tái
sinh tài chính, đòi hỏi các kỹ năng tài chính và phân tích toán học có tính nguỵ biện
cao mà những người không có chuyên môn sâu không thể hiểu thấu sự phức tạp của
thị trường cung như áp dụng vào thực tế những cách thức này dễ đạt được mục tiêu
đầu tư của họ. Sự bãi bỏ quy định mang lại những cơ hội lớn để thực hiện nhiều
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang
6
Hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam
Nhóm 8
phương thức đầu tư khác nhau mà chỉ các chuyên gia mới nắm được. Vì vậy các
chuyên gia luôn luôn phải trau dồi các kiến thức chuyên môn để có thể đánh giá chính
xác xu hướng phát triển và dự đoán hiệu quả đầu tư để mang lại lợi ích tốt nhất cho
những nhà đầu tư.
Một lợi thế không kém phần quan trọng trong hoạt động đầu tư đó là chi phí
giao dịch thấp. Vì những danh mục đầu tư lớn được quản lý chuyên nghiệp quỹ đầu
tư chịu chi phí giao dịch thấp hơn cá nhân đầu tư kể cả cá nhân đó có ký hợp đồng
mua bán và nhà môi giới có mức phí hoa hang thấp nhất. Quỹ đầu tư có thể chỉ thanh
toán vài cent trên một cổ phiếu cho một giao dịch lô lớn trong khi đó một cá nhân có
thể phải thanh toán 50 cent trên một cổ phiếu hoặc nhiều hơn thế cho một giao dịch
tương tự. Chi phí giao dịch tốt có thể được hiểu là hoạt động đầu tư tốt hơn và hiệu
quả hơn.
có them quyền đối với quỹ đầu tư đem lại những đảm bảo cơ bản.
1.1.3.Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán.
1.1.3.1. Vai trò đối với các nhà đầu tư.
Lợi ích lớn nhất của nguồn vốn đầu tư là đa dạng hoá đầu tư, phân tán rủi ro.
Với quỹ đầu tư chứng khoán, ngay cả khi một cá nhân có lượng vốn nhỏ vẫn có thể đa
dạng hoá đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau. Người đầu tư được thu lợi từ
việc đầu tư chuyên nghiệp với hiệu quả cao và chi phí thấp. Từ những lý do trên
người đầu tư sở hữu những chứng chỉ đầu tư có tính thanh khoản cao, họ có thể rút
vốn nhanh chóng bằng việc bán lại các chứng chỉ trên TTCK.
1.1.3.2. Vai trò đối với nhà quản lý vốn.
Những nhà quản lý vốn là những người có kiến thức chuyên môn có trình độ dự
đoán và phân tích thông tin cho nên họ được uỷ thác đầu tư . Thông qua những hoạt
động này họ thu được hoa hồng và những khoản thưởng.
1.1.3.3. Vai trò đối với nền kinh tế.
- Quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế nói chung và sự phát
triển của hị trường sơ cấp. Trên thị trường sơ cấp, quỹ đầu tư đóng vai trò tích cực
trong việc tham gia, thúc đẩy hoạt động bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán
giúp các chủ thể, phát hành huy động vốn một cách hiệu quả, tạo thêm hàng hoá cho
thị trường.
- Quỹ góp phần ổn định thị trường thứ cấp.
Trên thị trường thứ cấp, với những kĩ năng phân tích đầu tư chuyên nghiệp và
nguồn vốn lớn, dài hạn người đầu tư có thể tiến hành kiểm soát sự biến động giá
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang
8
mình một cách có lợi nhất và đảm bảo quản lý chặt chẽ vốn đầu tư.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang
9
Hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam
Nhóm 8
Xuất phát từ nguồn vốn huy động ở một số ít tổ chức và cá nhân có quan hệ với
nhau, nên các quỹ này có thể đầu tư vào các dự án dài hạn, có tiềm năng phát triển
cao và chịu đựng được mức rủi ro lớn. Các quỹ này thường đầu tư vào chứng khoán
của những công ty nào phát triển đến mức độ nhất định, họ có thể thu hồi vốn bằng
cách bán lại phần vốn góp hoặc những chứng khoán mà họ nắm giữ.
Có nhiều dạng quỹ đầu tư tư nhân trong đó có hai loại quỹ điển hình và phổ
biến trên thị trường vốn thế giới là:
- Quỹ phòng ngừa rủi ro: Là hình thức chung vốn đầu tư, vốn của các thành viên
được góp lại với mục đích kinh doanh chứng khoán. Các quỹ phòng ngừa rủi ro đều
có chiến lược kinh doanh riêng và đầu tư vào rất nhiều các công cụ tài chính khác
nhau.
- Quỹ đầu tư mạo hiểm: Cũng là một trong các dạng quỹ đầu tư riêng lẻ, xuất hiện
từ những năm 70 tại các thị trường phát triển. Quỹ huy động vốn chủ yếu từ các tổ
hợp công nghiệp lớn và các định chế tài chính lớn.
Hình thức đầu tư chủ yếu ban đầu của quỹ là đầu tư trực tiếp. Tuy nhiên, từ những
năm 80 hình thức đầu tư đã thay đổi. Việc tiến hành đầu tư được thực hiện thông
qua các nhà quản lý đầu tư tư nhân chuyên nghiệp, người đứng thay mặt cho các nhà
đầu tư là các định chế tài chính tiến hành việc đầu tư.
Quỹ đầu tư dạng đóng dùng số vốn của mình đầu tư vào các doanh nghiệp hay thị
trường chứng khoán. Sau đó lại dùng số tiền và vốn lài thu được để đầu tư tiếp. Như
vậy, quy mô vốn của loại quỹ này chỉ có thể tăng lên từ các khoản lợi nhuận thu được
mà thôi.
1.2.2.2. Quỹ đầu tư dạng mở (open- end funds).
Quỹ đầu tư dạng mở còn được gọi là quỹ tương hỗ (mutual funds).
Khác với quỹ đầu tư dạng đóng, các quỹ đầu tư dạng mở luôn phát hành thêm
những cổ phiếu mới để tăng thêm vốn và cũng sẵn lòng chuộc lại những cổ phiếu đã
phát hành. Các cổ phiếu của quỹ được bán trực tiếp cho công chúng, không qua thị
trường chứng khoán. Muốn mua cổ phiếu của quỹ đầu tư dạng mở, không phải qua
môi giới. Do đó tạo cơ hội cho bất kỳ ai cũng có thể tham gia và trở thành chủ sở hữu
của quỹ. Quỹ cho phép các nhà đầu tư bán lại chứng chỉ đầu tư cho Quỹ bất cứ lúc
nào theo giá trị tài sản ròng cùng chứng chỉ (Net asset value pershare) chứ không
theo giá thị trường trong một thời gian luật định.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang 11
Hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam
Nhóm 8
Vì quỹ mở liên tục mua bán cổ phần nên lượng tiền trong quỹ phục vụ cho hoạt
động đầu tư sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nếu các nhà đầu tư rút vốn đồng loạt dưới sự tác
động của các yếu tố trên thị trường.
1.2.3.Căn cứ theo mục tiêu và đối tượng đầu tư.
Quỹ đầu tư chứng khoán không nhất thiết chỉ đầu tư chứng khoán mà còn có
thể đầu tư vào bất động sản, các tài sản có giá trị khác. Tuy nhiên chứng khoán vẫn
Quỹ đầu tư vào thị trường tiền tệ nhằm vào các công tcụ tài chính như: Tín
phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu, hối phiếu. Sự ổn định của quỹ phụ thuộc vào thái độ
ứng xử của các nhà đầu tư, khi thị trường chứng khoán phát triển mạnh, người đầu tư
rút tiền trên thị trường tiền tệ để đầu tư vào đầu tư trên thị trường chứng khoán.
1.2.3.4. Quỹ đầu tư kết hợp.
Quỹ đầu tư kết hợp có thể kết hợp giữa cổ phiếu, trái phiếu, và các loại tài sản
khác như bất động sản…
1.2.4.Căn cứ và mục đích đầu tư.
1.2.4.1. Quỹ tăng trưởng: Đầu tư vào cổ phiếu của các công ty kinh doanh thành đạt.
Mục tiêu chính là tăng giá trị của các khoản đầu tư chứ không nhằm vào dòng cổ tức
thu được. Người đầu tư vào các quỹ này quan tâm đến việc giá cổ phiếu đang lên hơn
là khoản thu từ cổ tức.
1.2.4.2. Quỹ tăng trưởng thu nhập: Quỹ này đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu thường có
giá trị cao đồng thời có mức cổ tức ổn định. Kiểu quỹ này muốn kết hợp cả hai yếu tố
tăng vốn trung, dài hạn và dòng thu nhập ổn định trong ngắn hạn.
1.2.4.3. Quỹ thu nhập: Để có được thu nhập ổn định, quỹ giành phần lớn vốn để đầu
tư vào trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi lẫn công cụ đầu tư có thu nhập thường xuyên ổn
định.
1.2.5. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức điều hành.
1.2.5.1. Quỹ đầu tư dạng công ty( Corporate fund ).
Theo mô hình này, quỹ đầu tư được xem là một pháp nhân đầy đủ, nhường
người góp vốn vào quỹ trở thành các cổ đông và có quyền bầu ra hội đồng quản trị
quỹ. Đây là tổ chức cao nhất trong quỹ đứng ra thuê công ty quản lý quỹ và giám sát
việc tuân thủ hoạt động của hai tổ chức này. Trong đó, ngân hàng giám sát có vai trò
bảo quản các tài sản quỹ, nhận hoặc giao chứng khoán cho quỹ khi thực hiện lệnh
giao dịch. Còn công ty quản lý có trách nhiệm cử người điều hành và sử dụng vốn của
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang 13
KHÁI QUÁT VỀ CÁC QUỸ ĐẦU TƯ TẠI MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
QUỸ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM.
2.1. Khái quát về các quỹ đầu tư tại một số nước trên thế giới.
2.1.1. Quỹ đầu tư tại Mỹ.
Thị trường chứng khoán Mỹ là nơi có ngành quỹ đầu tư rất phát triển. Các quỹ
đầu tư hoạt động theo cả hai mô hình quỹ đầu tư dạng công ty và dạng tín thác đầu tư,
trong đó quỹ đầu tư dạng công ty đặc biệt là các quỹ đầu tư dạng mở chiếm ưu thế
trong ngành quỹ đầu tư tại Mỹ.
Quỹ đầu tư tập thể tại Mỹ bao gồm các loại hình chính sau:
- Công ty phát hành chứng chỉ ghi mệnh giá.
Đến nay loại hình công ty này hầu như không còn tồn tại nữa. Các nhà đầu tư
vào công ty phát hành chứng chỉ ghi mệnh giá phải trả một khoản cố định hàng tháng
cho công ty đầu tư để đầu tư số tiền đó vào các công cụ nợ có chất lượng cao nhất như
các công cụ nợ của chính phủ Mỹ và các trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ xếp
hạng AAA.
- Công ty quản lý: Đây là một loại quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công
ty, phát hành cổ phần phổ thông ra công chúng. Bản thân công ty không trực tiếp tiến
hành hoạt động đầu tư mà phải sử dụng nhà tư vấn đầu tư hay quản lý đầu tư để quyết
định loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục đầu tư của quỹ. Công ty đầu tư loại
này có hội đồng quản trị thay mặt các cổ đông thực hiện việc giám sát đầu tư và ký
kết các hợp đồng có liên quan tới hoạt động đầu tư của quỹ với các tổ chức khác.
Công ty quản lý được cấu trúc dưới hai dạng: Công ty đầu tư dạng mở và công
ty đầu tư dạng đóng.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang 15
tư vấn đầu tư.
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang 16
Hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam
Nhóm 8
2.1.2. Quỹ đầu tư tại Nhật.
Hai loại hình quỹ đầu tư tại Nhật là quỹ tín thác kiểu hợp đồng (Secrities
Investment Fruit) và quỹ tín thác kiểu côngty(Secrities Investment Corporation) được
lần lượt gọi là các quỹ tín thác đầu tư chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán.
Quỹ tín thác kiểu hợp đồng là quỹ mà quản lý tài sản của quỹ theo hợp đồng
được ký kết giữa một công ty quản lý và những người đầu tư tham gia quỹ và không
thành lập pháp nhân. Quỹ tín thác kiểu công ty là một công ty được thành lập vì mục
đích đầu tư của quỹ. Về mặt kỹ thuật, quỹ tín thác kiểu hợp đồng được goi là “quỹ tín
thác đầu tư chứng khoán”, và quỹ kiểu công ty gọi là “công ty đầu tư chứng khoán”.
Quỹ tín thác đầu tư theo cả hai kiểu là kiểu hợp đồng và kiểu công ty được chia
ra thành kiểu quỹ mở và kiểu quỹ đóng phụ thuộc vào việc nhà đầu tư có hay không
có quyền yêu cầu mua lại chứng chỉ hưởng lợi hoặc chứng chỉ đầu tư. Hầu hết tất cả
các quỹ tín thác đầu tư kiểu hợp đồng hiện có ở Nhật Bản là kiểu quỹ mở. Tuy nhiên,
theo nghĩa mà các chứng chỉ hưởng lợi được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch
chứng khoán trên khắp nước Nhật, quỹ tín thác đầu tư được niêm yết có mối liên hệ
với chỉ số Nikkei 300 mà được thiết lập vào năm 1995 có thể được gọi là kiểu quỹ
đóng. Quỹ quốc gia (Một quỹ tín thác đầu tư nước ngoài kiểu công ty) được niêm yết
trên sở giao dịch chứng khoán Osaka là một kiểu quỹ đóng.
Các quỹ tín thác đầu tư được hình thành ở Nhật Bản chịu sự điều hành của luật
tín thác đầu tư chứng khoán tháng 6/1951. Bản thân các quỹ nay không hình thành
nước, mặc dù đã có năm quỹ đã hết hạn hoặc giải thể trước đó. Tất cả các quỹ đầu tư
được lập trong giai đoạn này đều là quỹ dạng đóng, được niêm yết trên sở giao dịch
chứng khoán Thái Lan ( SET ).Từ những năm đầu 1990, các quỹ đầu tư tập thể mới
thành lập tại Thái Lan đều hình thành dưới dạng quỹ đầu tư dạng mở. Các quỹ đóng
từng chiếm tỷ lệ 97% trong tổng số các quỹ đầu tư có khuynh hướng giảm dần, tới
năm 1998 chỉ còn chiếm 61%. Từ sau khủng hoảng tài chính 1997, các quỹ đầu tư có
khuynh hướng hướng vào các công cụ tài chính có thu nhập cố định hơn là cổ phiếu
như trước đây.
Ở Malaixia, có quỹ đầu tư do chính phủ thành lập trên PNB quản lý độc lập
nhưng vẫn theo sự chỉ đạo của chính phủ để bảo vệ quyền lợi của người Malaixia.
Quỹ này có số lượng tài chính rất lớn và đã chia thành những quỹ nhỏ đặc biệt theo
chuyên nghành để hỗ trợ giúp đỡ người dân gốc Malaixia mua các cổ phần của các dự
án, các công ty có lời. Kết quả cho thấy đã có hơn hai triệu dân Mailaixia trên tổng số
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang 18
Hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam
Nhóm 8
17 triệu dân làm chủ các cổ phần thông qua các hoạt động của quỹ đầu tư này. Giá cổ
phần của quỹ đầu tư được thông báo hàng ngày và người dân bất cứ lúc nào cũng có
thể tham gia mua cổ phần qua các quỹ đầu tư.
Ở Singapore, Chính phủ cũng thành lập một công ty đầu tư với mục đích thạm
gia vào các dự án liên doanh với ngoại quốc và ngày nay quỹ này đã bành trướng rộng
rãi với số vốn ngày càng tăng và còn tham gia đầu tư tại các nước ngoài qua các công
ty khác nhau để giúp phát triển Singapore trong tương lai.
2.2. Một số bài học từ mô hình và quá trình hình thành quỹ ở các nước.
pháp luật của từng nước khác nhau. Đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển ở mức độ cao, do hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ thì việc áp dụng cả hai mô
hinh quỹ đầu tư góp phần tạo ra cơ chế hình thành và phát triển quỹ đầu tư tập thể
một cách linh hoạt. Đối với các thị trường mới nổi, do hệ thống pháp luật chưa hoàn
thiện, các quỹ đầu tư hầu hết hình thành theo mô hình quỹ dạng hợp đồng và chỉ
chuyển sang kết hợp phát triển đồng thời mô hình quỹ đầu tư dạng công ty khi thị
trường đã phát triển tới một mức độ nhất định.
Quỹ đầu tư là loại định chế tài chính có cơ cấu tổ chức hoạt động tương đối
phức tạp. Chính vì vậy, tại tất cả các thị trường, quỹ đầu tư tập thể và công ty quản lý
quỹ đều có hệ thông văn bản pháp lý ở cấp độ cao nhất điều chỉnh là các Bộ luật hoặc
tối thiểu là các chương lớn trong luật chứng khoán của các nước. Cũng vì bản chất
đặc biệt của loại hình này, bất kỹ thị trường nào từ thị trường phát triển tới thị trường
mới nổi, Nhà nước đều có sự kiểm soát chặt chẽ hoạt động phát hành của các quỹ và
hoạt động đầu tư quỹ của các tổ chức đầu tư qu
2.3. Thực trạng của các quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2.3.1. Khái quát chung.
Ngay từ đầu những năm 1990, một số quỹ đầu tư nước ngoài đã vào hoạt động
ở nước ta. Đây là quỹ đầu tư tư nhân thành lập ở nước ngoài nhưng được phép vào
hoạt động có hạn chế ở Việt Nam.
Trong giai đoạn này, việc cho phép các quỹ đầu tư nước ngoài hoạt động ở Việt
Nam là thích hợp, nó đáp ứng một phần vốn cho nhu cầu vốn nước ta. Việc này xuất
phát từ những lí do sau:
Thứ nhất, chúng ta chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trên TTCK nói
chung và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng, các quỹ nước ngoài vào
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang 20
lập
Mã hiệu
Reuters
Vốn cổ
phần thị
trường MC
Giá
NAV
(triệu USD)
Beta VN
Guerney
Dublin
9/1993
BVFL
47,2
Fund Ltd
Templeton
Maryland,
Enterprise
Caymaman
Dublin
7/1994
BSIL45
38,8
7,75 10,64
Dublin
9/1991
BSIL45
42,0
8,25 11,29
Fund Ltd
VN Frontier Quần đảo
Fund Ltd
Caymaman
thành lập
9/1993
hoàn vốn
-
- Quỹ chưa có chính sách hoàn vốn cụ thể.
Ltd
Templeton VN
9/1994
-
- Ban giám đốc sẽ xem xét để chiết khấu
Quỹ
oppInc
VN enterprise
Fund Ltd
VN
Frontier
Fund Ltd
VN Fund Ltd
7/1995
Ltd
VN oppIlc
Ltd
Fund Ltd
Đối tượng
Cổ phần công ty
Cổ phần công
Cổ phần công
đầu tư
VN(32,7)
ty VN (6,3)
ty do Việt Nam ty nước ngoài
(triệu USD)
Cổ phiếu công ty Nợ của Việt
nước ngoài(5,3)
Cổ phần công ty
khác(5,3)
VN (16,6)
Các cổ phiếu
khác(46,6)
Các trái quyền
ngắn hạn(50,5)
Tổng tài sản
Vay khác(-0,3)
66,7
113,2
16,6
57,5
(triệu USD)
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các quỹ)
Khi đầu tư vào Việt Nam, các quỹ đầu tư nước ngoài tận dụng được những
thuận lợi sau :
Thứ nhất, chính phủ Việt Nam đã có những chính sách ủng hộ quỹ đầu tư; các
Bộ, các ngành đã phối hợp để ban hành qui chế hoạt động cho sự hoạt động của quỹ,
đặc biệt là cải cách pháp luật, chính sách ưu đãi đầu tư .
Thứ hai, các tổ chức (ngân hàng, bảo hiểm, tổng công ty Nhà nước) và các cá
nhân có thu nhập cao có nhu cầu đầu tư.
hàng đầu của Việt Nam về đầu tư và luật pháp.
Mục tiêu hiện tại của quỹ là chỉ đầu tư vào các công ty do người người nước
ngoài quản lý. Beta Fund không xem xét việc đầu tư vào các công ty đang trong quá
trình khởi nghiệp và các công ty trong nước. Dường như quỹ này sẽ không tăng
cường đầu tư vào các công ty liên doanh có vốn nước ngoài nữa, vì diễn biến vừa qua
là không tích cực. Giám đốc quỹ Beta cho rằng các động cơ của một đối tác công
nghiệp nước ngoài không phù hợp với động cơ của một tổ chức do Nhà nước Việt
Nam sở hữu. Giải pháp đầu tư Beta tiến hành trong thời gian qua là chớp thời cơ.
Một khi một khoản đầu tư được coi là hấp dẫn thì dường như sẽ xuất hiện một
giải pháp thẩm định khá chi tiết theo mô hinh Anh – Mỹ. Theo những dấu hiệu gần
GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Trang 24
Hoạt động của các quỹ đầu tư ở Việt Nam
Nhóm 8
đây nhất, Beta Fund đang có một sự thay đổi quan trọng trong định hướng đâu tư để
thích ứng với những cơ hội của thị trường do những sự thay đổi tích cực gần đây về
luật và môi trường kinh doanh mang lại .
Quỹ Việt Nam Frontier: Quỹ này do Finasa, một ngân hàng thương mại có trụ
sở tại Băng Cốc quản lý. Sau đợt giảm quy mô hoạt động ở Việt Nam gần đây của
quỹ, quyền quản lí được giao cho hai giám đốc cấp thấp đảm nhiệm. Các chuyên gia
quản lí cao cấp của quỹ đã chuyển về Băng Cốc và các quyết định quan trọng sẽ được
đưa ra từ Băng Cốc. Tương tự như quỹ Beta, quỹ này chỉ đầu tư vào các công ty do
người nước ngoài quản lí. Các công ty liên doanh cũng không nằm ngoài danh sách
đầu tư của quỹ này. Với việc giảm bớt các nhân viên ở Việt Nam gần đây, rõ ràng quỹ
đã có sự chuyển hướng đầu tư sang các quốc gia lân cận.
Quỹ Vietnam Fund: Sáu người nước ngoài, từ các nước khác nhau đang điều
hành Vietnam Fund đều là những chuyên gia giàu kinh nghiệm với kiến thức nền