LỜI MỞ ĐẦU
Nghèo đói không phải là một vấn đề mới nổi lên trong xã hội trong những năm
gần đây. Nghèo và làm thế nào để thoát khỏi tình trạng nghèo luôn là câu hỏi thường
trực đối với các nhà lãnh đạo của mỗi quốc gia. Xuất phát từ một đất nước có nền kinh
tế thuần nông, việt nam có tỷ lệ nghèo đói tương ứng cao. Từ ngày 1/1/2006, việt nam
bắt đầu áp dụng chuẩn nghèo mới ( cao gấp hai lần chuẩn nghèo cũ ) khiến cho tỷ lệ hộ
nghèo tăng từ 7% lên 22%. Kết quả là nước ta có đến 4 triệu hộ nghèo. Với dự kiến đến
năm 2010, Việt Nam sẽ ra khỏi nhóm các nước kém phát triển và giảm hơn 30% số
người nghèo theo tiêu chí mới, nước ta đã có rất nhiều các chính sách, chương trình và
dự án…nhằm đạt được mục tiêu này. Một điển hình trong số đó là chương trình xóa đói
giảm nghèo 135. Đây là một chương trình thuộc nhóm các chương trình XĐGN do Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện. Chương trình được xây dựng nhằm mục
đích: giảm tỷ lệ hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn xuống dưới 25% trong năm 2005,
cung cấp nước sạch, tăng tỷ lệ theo học trong độ tuổi đi học lên trên 70%, hỗ trợ sản
xuất cho người nghèo, kiểm soát các bệnh xã hội và nguy hiểm, làm đường tới các trung
tâm cụm xã và phát triển thị trường nông thôn. Thế nhưng, để có được chương trình
XĐGN thành công cần phải có sự kết hợp giữa các nhà lãnh đạo và cộng đồng. Bởi chỉ
khi “ dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra “ thì công trình mới thực sự đi vào đời
sống của nhân dân và phát huy hiệu quả.
Với những lý do đó, dưới sự hướng dẫn của giáo viên ThS. Phí Thị Hồng Linh,
nhóm em – KH3 – đã nghiên cứu đề tài “ Đánh giá thực trạng tham gia của cộng đồng
vào chương trình 135 theo 4 tiêu chí công khai minh bạch, công bằng, hiệu quả, bền
vững”. Do thời gian và trình độ có hạn, bài viết của nhóm em chắc chắn sẽ không tránh
khỏi những sai sót. Rất mong sự góp ý của cô giáo và các bạn để bài viết của nhóm em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Các khái niệm chung
Dân cư là một bộ phận những người dân cùng cư trú trong một khu vực địa lý
hoặc khu vực hành chính và có mối quan hệ dân – chính.
tiêu của chính sách.
- Giảm bớt mâu thuẫn trong cộng đồng và tăng mối liên kết cộng đồng – chính
quyền.
- Giúp quảng đại quần chúng có đầy đủ hơn các thông tin về quan điểm, chính
sách mới của nhà nước.
3
ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
I. Đánh giá chung về chương trình 135
Nghị định 29/1998/NĐ-CP đã quy định rất chi tiết các việc được thông báo đến
người dân, những việc người dân được tham gia ý kiến, những việc được trực tiếp kiểm
tra, giám sát và được trực tiếp quyết định. Đây là công cụ quan trọng để giải quyết và
cải thiện tình trạng vi phạm nguyên tắc dân chủ ở cơ sở. Người dân đã được tham gia
nhiều hơn trong việc phân bổ nguồn lực, ra quyết định tổ chức thực hiện. Điều này được
thể hiện rõ ở các nguyên tắc trong tổ chức thực hiện Chương trình 135 như công khai
cho dân biết nguồn vốn của Chương trình, để người dân được tham gia lựa chọn và
quyết định công trình đầu tư, công khai cho dân biết định mức được hưởng khi đóng
góp công lao động xây dựng công trình…. Quán triệt nguyên tắc này, nhiều địa phương
đã thực hiện tốt việc công khai, dân chủ, tạo điều kiện cho người dân tham gia ngay từ
khâu lập kế hoạch, quy hoạch.
II. Đánh giá dựa trên các tiêu chí cụ thể
1. Tính công khai, minh bạch
1.1. Khái niệm công khai, minh bạch:
Minh bạch là một khái niệm khá trừu tượng. Để đo lường tính minh bạch là
một công việc hết sức khó khăn. Nhiều người vẫn thường hiểu minh bạch đồng
nghĩa với công khai. Thực ra, khái niệm minh bạch là khái niệm rộng hơn, nó
bao gồm cả cơ hội, tính bình đẳng trong tiếp cận thông tin, tính tin cậy, nhất
quán của thông tin, tính dự đoán trước được và sự cởi mở của cơ quan cung cấp
thông tin.
Khái niệm “công khai”, “minh bạch” được Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ
biên, Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2004 giải nghĩa như sau:
- 86% người dân được hỏi ý kiến khi dự án được đầu tư.
- 94% người dân cho rằng công trình, dự án của Chương trình 135 được đầu tư là
hợp lý.
- 95% người dân đánh giá công trình 135 đầu tư sử dụng đúng mục đích.
- 70% người dân được tham gia học tập về Chương trình.
- 97% người dân cho rằng nên kéo dài thời gian thực hiện Chương trình 135.
b. Các kênh thông tin đến người dân
5
Những mặt được:
- Đổi mới công tác truyền thông trong chương trình 135
Ngày 11/5/2007, tại Uỷ ban Dân tộc, Vụ Chính sách Dân tộc chủ trì đã chủ trì
cuộc họp với Tạp chí Dân tộc nhằm đổi mới công tác truyền thông trong Chương trình
135 năm 2007. Tiến sĩ Trần Văn Thuật, Vụ trưởng Vụ Chính sách Dân tộc chủ trì cuộc
họp đã nêu ra nội dung thảo luận tập trung vào các nội dung và đề ra những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả và tác dụng của Bản tin Chương trình 135 năm 2007. Đồng chí
Nguyễn Văn Thảo, Biên tập viên cao cấp, Tổng biên tập Tạp chí Dân tộc đã trình bày
báo cáo đánh giá kết quả xuất bản Bản tin Chương trình 135 năm 2006 và kế hoạch triển
khai công tác truyền thông 2007, nêu rõ trong quá trình thực hiện, Tạp chí Dân tộc và
Ban thư ký Chương trình 135 (nay là Vụ Chính sách Dân tộc) đã phối hợp chặt chẽ
trong chuẩn bị tin, bài, ảnh; Tạp chí chủ động đặt bài với cộng tác viên, tổ chức biên tập,
xuất bản, phát hành Bản tin Chương trình 135 đúng định kỳ, đảm bảo chất lượng, số
lượng và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Bản tin 135 đã là cầu nối giữa Ban chỉ đạo
Trung ương với Ban chỉ đạo các tỉnh, huyện và cán bộ địa phương, và đặc biệt là người
dân… Với những cố gắng trong biên tập, xuất bản, cùng với những đóng góp của Vụ
Chính sách Dân tộc, Bản tin Chương trình 135 đã có những đóng góp, tạo nên “thương
hiệu” của chương trình, thực sự là Bản tin hướng dẫn thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và
trao đổi kinh nghiệm, của Chương trình 135.
Các đại biểu đều tán thành với nội dung báo cáo và nêu lên những ý kiến đánh giá
về những việc làm tốt và những việc cần khắc phục trong thời gian tới.
Giới truyền thông với Kết quả họp báo Kiểm toán Chương trình 135 giai đoạn II
22,8%, trường học là 18%...” (Trích: />Trong khi báo Xây dựng điện tử có bài phân tích với tiêu đề “Chương trình 135 giai
đoạn II - sử dụng đúng mục đích và hiệu quả ” trong đó cũng có những phân tích cụ thể
về hiệu quả của Chương trình 135 giai đoạn II. (Trích:
/>Báo Thanh Tra lại có những phân tích chuyên môn ghi nhận sự cố gắng của các địa
phương trong việc thực hiện các kiến nghị của Báo cáo Kiểm toán năm 2006 “Kết quả
kiểm toán cho thấy, Chương trình 135 giai đoạn II đã đạt được những kết quả nhất định.
Những tồn tại, yếu kém qua kết quả kiểm toán Chương trình năm 2006 phần lớn đã
được các địa phương khắc phục”
7
(Trích: />Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đăng bài nêu rõ “Kết quả kiểm toán cho thấy,
Chương trình 135 giai đoạn II (2006-2010) đã đạt được những kết quả nhất định. Những
tồn tại, yếu kém qua kết quả kiểm toán Chương trình năm 2007 phần lớn đã được các
địa phương khắc phục. Việc phân bổ vốn cơ bản đúng định mức, đối tượng, nội dung
chương trình. Công tác giải ngân kịp thời, trên 80,2 % kinh phí được sử dụng, đạt
119,31% dự toán giao. Việc sử dụng vốn, kinh phí nhìn chung đúng mục đích và có
hiệu quả hơn”
Trích: />topic=5&subtopic=10&leader_topic=84&id=BT29100862266)
Bên cạnh những kết quả đạt được, các báo, đài cũng đưa tin về một số tồn tại cần
được khắc phục trong triển khai thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II. Tuy nhiên,
việc kiến nghị xử lý xuất toán số tiền trên: 675 triệu đồng trên tổng số vốn đầu tư đã giải
ngân khoảng 1.396 tỷ đồng chiếm chưa đến 0,05% nguồn vốn cho thấy, “Chương trình
135 giai đoạn II là một trong những Chương trình có kết quả kiểm toán tốt nhất trong số
những Chương trình mục tiêu quốc gia được Kiểm toán Nhà nước tiến hành kiểm toán
trong năm 2007” (Theo ông Lê Minh Khái, Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước phát biểu tại
buổi Họp báo). Nói thêm về những tồn tài được nêu trong Báo cáo Kiểm toán, Báo Dân
tộc cũng dẫn lời ông Hà Hùng cho biết “đến thời điểm hiện tại, các tồn tại như đã nêu
trong Báo cáo Kiểm toán đã được các Bộ, ngành trung ương và Chính phủ xem xét giải
quyết triệt để”. Nhìn chung, việc tổ chức họp báo công bố kết quản Kiểm toán thực hiện
Chương trình 135 giai đoạn II đã tạo ra một sự thay đổi rất lớn trong nỗ lực tăng cường
sự công khai, dân chủ về hoạt động của một Chương trình xóa đói giảm nghèo của
người dân nắm được một cách tường tận trên địa bàn xã có các chương trình đang được
triển khai, diễn ra trong bao lâu, do ai thực hiện và lợi ích của người dân được hưởng từ
chương trình là những gì. Đối với cán bộ cơ sở (cấp xã) thì tình hình cũng không khá
hơn là bao. Đang có một lỗ hổng lớn trong việc thông tin về các chương trình, dự án đối
với cấp cơ sở đã ảnh hưởng không ít đến hình thức và mức độ tham gia của địa phương
và cộng đồng. Đồng thời, thông tin không đầy đủ cũng hạn chế và gây trở ngại cho công
tác giám sát, đánh giá. Ví như trong Chương trình vay vốn tín dụng của Ngân hàng
người nghèo trước đây, ngay đến cán bộ xã của nhiều xã vùng cao cũng không nắm
được mức cho vay tối đa của Ngân hàng đối với người dân là bao nhiêu, thời hạn cho
vay là bao lâu và hỗ trợ của tỉnh, của ngân hàng đối với người vay vốn là gì.
Đaklăk
- Khó khăn trong thực hiện chương trình 135 của tỉnh Đăk Lăk đến nay vẫn chưa
đạt hiệu quả như mong muốn lại bắt nguồn từ khâu tuyên truyền. Việc tuyên truyền nội
dung, ý nghĩa, mục đích của chương trình đến người dân còn yếu. Cách thức tuyên
truyền chưa hợp lý. Thậm chí, một số cán bộ ở thôn, buôn còn chưa nắm rõ nội dung
thực hiện chương trình. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn rất nhiều hạn chế,
nặng về hình thức. Với phương châm dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra nhưng
quá trình thực hiện thì người dân chưa được trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến và giám
sát quá trình thi công các công trình. Hơn nữa, trình độ, năng lực của một số cán bộ
trong ban giám sát của các xã, phường, thị trấn còn yếu, không thường xuyên kiểm tra
các công trình, buông lỏng giám sát các chủ thầu trong quá trình thi công. Một lý do dẫn
đến việc lơ là giám sát một phần do không có quy định kinh phí bồi dưỡng cho những
cán bộ này.
1.2.2 Mức độ tham gia của người dân
a. Trong khâu lập kế hoạch
Mặt được:
- Sự tham gia của cộng đồng trong công tác lựa chọn và thực hiện CT đã
được cải thiện, phát huy được tính công bằng, dân chủ. Các cuộc họp thôn/bản đề xuất
10
lựa chọn CT được trưởng thôn/bản thông báo rộng rãi cho các hộ dân trước 2 đến 3
11
Pán có hộ dân nhưng trong số 70 phụ nữ của các chỉ có 2 người biết đánh vần và viết
được ít chữ. Số lao động nhiều mà thiếu tay nghề, phong tục tập quán lạc hậu (đám ma,
cưới hỏi,…) vẫn nặng nề. Một số thanh niên trẻ được đo tạo nhưng khi học xong họ ở
lại làm việc ở các thị trấn hoặc thành phố làm ăn mà hầu hết không về thôn bản. Đó là
những trở ngại lớn cho phát triển nông thôn. Mặt khác, một số các công trình được đầu
tư nhưng chất lượng của các công trình chưa đảm bảo chất lượng, hiệu quả thấp (VD.
Trường xây xong không có học sinh học ở Cát Tiên-Lâm Đồng, hệ thống nươc tự chảy
ở Đắc Kôi –Kon Tum, mương nước vừa làm xong đã hỏng ở Sa Pa-Lao Cai,…).
c. Trong tổ chức thực hiện
Mặt được:
- Sự tham gia đóng góp của người dân đã tăng lên đáng kể
Đóng góp của người dân địa phương vào các công trình thường dưới dạng vật liệu
xây dựng hoặc ngày công lao động, ngày công giám sát, tình nguyện đóng góp phần đất
đai khi có công trình cần sử dụng mà không đòi hỏi bồi thường, cá biệt cũng có nơi
đóng góp tiền để thực hiện dự án.
Hạn chế:
- Sự thiếu minh bạch còn thể hiện qua việc thực hiện cơ chế đấu thầu và thực hiện
thầu. Công tác đấu thầu và thực hiện thầu còn mang tính hình thức, việc tổ chức đấu
thầu hạn chế, thực chất là chỉ định thầu, cộng đồng hầu như đứng ngoài cuộc. Chính vì
vậy, nhiều hạng mục người dân hoàn toàn có thể đảm đương được lại được giao cho các
nhà thầu thực hiện và trong quá trình thực hiện họ lại khoán lại cho người dân.
Bình Định
Việc thực hiện các phương châm, mục tiêu của Chính phủ quy định trong các dự
án chương trình như: "dân chủ công khai"; "dân biết dân làm dân kiểm tra"; "xã có công
trình dân có việc làm" cũng còn nhiều khiếm khuyết. Đối với việc việc nghiệm thu bàn
giao và quản lý sử dụng và bảo dưỡng các công trình, các Ban quản lý dự án chưa
hướng dẫn cách thức sử dụng, quy trình vận hành, quản lý, bảo trì để địa phương và
nông dân quản lý sử dụng. Vì thế, một số công trình đầu mối về thủy lợi, hệ thống cửa
của các công trình dân dụng, hệ thống máy bơm nước sạch không được nông dân bảo