LỜI NÓI ĐẦU
Dệt may là một ngành sản xuất truyền thống của nước ta. Kết thúc năm
2007, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt khoảng 7,8 tỷ USD, tăng 31% so
với cùng kì năm 2006, vượt chỉ tiêu đề ra, trở thành mặt hàng có kim ngạch lớn
nhất trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, góp phần đáng kể vào việc hoàn
thành mục tiêu xuất khẩu 48,1 tỷ USD năm 2007. Điều này cho thấy ngành dệt
may là một trong những ngành công nghiệp chủ chốt, quan trọng hàng đầu của
Việt Nam, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong xuất khẩu của nước ta.
Hiện nay chúng ta đang bước vào thời kì hội nhập, việc gia nhập WTO
sẽ là một cơ hội cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tăng tốc và tiến xa
hơn.Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập cạnh tranh gay gắt, khi đưa hàng ra
những thị trường lớn, dệt may Việt Nam cũng gặp phải không ít những thách
thức khó khăn. Những khó khăn thách thức này có từ nhiều phía,nhưng chủ
yếu đến từ những rào cản thương mạicủa cấc nước nhập khẩu hàng dệt may
của nước ta như là Mỹ,Nhật,EU… Đây đều là những nước công nghiệp phát
triển,môt mặt họ luôn đi đầu trong đàm phán để mở của thị trường, mặt khác
họ lại luôn đưa ra các biên pháp tinh vi để xây dựng các rào cản phi thuế
quan nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, đạt được mục tiêu xác định của họ.
Vì vậy việc nghiên cứu để tìm ra những “Biện pháp để vượt qua những rào
cản thương mại với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam” là hết sức cần
thiết để có thể giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nâng cao sức cạnh
tranh và mở rộng thị trường.
Trong khuôn khổ một đề án nhỏ, em xin trình bày những vấn đề lý
luận cơ bản về rào cản thương mại,thực trạng rào cản thương mại với hàng
dệt may xuất khẩu Việt Nam, trên cơ sở đó em xin đề xuất những giải pháp
cơ bản nhằm vượt qua các rào cản thương mại này.
1
PHẦN 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN
THƯƠNG M ẠI .
1. Khái niệm “rào cản thương mại”.
Toàn cầu hoá kinh tế được thông qua một kênh chủ yếu đó là hoạt
thể sẽ phải đưa ra các rào cản thuế quan hoặc phi thuế quan để bảo hộ sản xuất
trong nước.
- Từ phía người lao động và người tiêu dùng :
Đây là một lý do khác dẫn tới việc hình thành rào cản thương mại. Trước
hết là để bảo vệ cho người lao động (thuộc nghành được bảo hộ) có công ăn việc
làm , sau đó là để bảo hộ cho họ có thu nhập ổn định.Người lao động tác động
tới Chính phủ thông qua các nghiệp đoàn để đấu tranh,cũng có khi họ mượn cớ
rằng để bênh vực người lao động nước khác phải làm việc trong điều kiện không
được đảm bảo, hoặc rằng vì lý do sử dụng lao động trẻ em hay tù nhân nên sản
phẩm đưa vào thị trường với giá rẻ..v.v. Đây là lý do chính phủ phải dựng nên
rào cản với tên gọi là trách nhiệm xã hội theo SA8000.
Người tiêu dùng cũng có tác động rất lớn đến việc hình thành rào cản trong
thương mại quốc tế với lý do để bảo vệ sức khoẻ con người ,bảo vệ động thực
vật, hoặc là bảo vệ môi trường.
- Từ phía chính phủ :
Xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và
vận động của các nhóm khác nhau ,chính phủ sẽ phải cân nhắc đến lợi ích của
3
từng nhóm .Bởi vì với bất kì chính sách rào cản nào có lợi cho doanh nghiệp và
người lao động trong ngành được bảo hộ cũng có thể sẽ gây hại cho các ngành
khác,người lao động trong ngành khác hoặc gây hại cho người tiêu dùng nói
chung .Những người bị hại sẽ có biện pháp phản kháng để đòi lại quyền lợi của
họ. Tuy vậy , chính phủ vẫn phải đưa ra các quyết định dựa trên sự cân nhắc và
điều hoà lợi ích một cách hợp lý.
Ngoài ra trong nhiều trường hợp luôn có sự câu kết giữa Doanh nghiệp và
nhà nước vì lợi ích của 2 phía có sự liên hệ chặt chẽ với nhau .Bên cạnh đó còn
là sự “ xoa dịu” của chính phủ đối với người lao động hoặc người tiêu dùng đề
họ đặt lòng tin vào chính phủ .
3. Các loại rào cản thương mại.
a) Hàng rào thuế quan.
pháp thuế quan và dễ bóp méo thương mại. Cho nên, điều XI của Hiệp định
GATT không cho phép các nước thành viên áp dụng các biện pháp hạn chế số
lượng nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá.
Tuy nhiên, Hiệp định GATT cũng đưa ra một số ngoại lệ, cho phép các
nước thành viên được áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng theo những
điều kiện nghiêm ngặt. Ví dụ như để đối phó với tình trạng thiếu lương thực
trầm trọng, bảo vệ cán cân thanh toán, bảo vệ sức khoẻ con người, động thực
vật, bảo vệ an ninh quốc gia..v.v.
5
- Cấp phép nhập khẩu :
Phải tuân thủ Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu của WTO, tức là
đáp ứng các tiêu chí như đơn giản, minh bạch và dễ dự đoán. Trình tự, thủ tục
xin cấp phép cũng như lý do áp dụng giấy phép phải được thông báo rõ ràng,
nhất là đối với các loại giấy phép không tự động.
- Các thủ tục hải quan :
Nếu các thủ tục hải quan đơn giản ,nhanh chóng , đây chỉ là biện pháp quản
lý thông thường ,nhưng nếu thủ tục quá chậm chạp , phức tạp có thể trở thành
rào cản phi thuế quan .Sử dụng các quy định về kiểm tra trước khi xếp hàng ,quy
định về cửa khẩu thông quan,quy định về giá trị tính thuế hải quan…cũng sẽ trỏ
thành rào cản khi mà nó chưa hoặc không phù hợp với quy định về hài hoà thủ
tục hải quan. Định giá hải quan để tính thuế cũng có thể trở thành một rào cản
lớn với hoạt động thương mại. Ví dụ như quy định về áp giá tối thiểu để tính
thuế nhập khẩu. Chính vì vậy, Hiệp định về định giá hải quan của WTO đã quy
định các nguyên tắc cụ thể trong việc xác định giá trị tính thuế của hàng hoá, bắt
buộc các thành viên phải thực thi đúng và minh bạch.
- Về trợ cấp:
Đây là một công cụ chính sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở
hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của Chính phủ về phát triển kinh tế -
xã hội, ổn định chính trị... Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trợ cấp,
nhưng, theo WTO, trợ cấp là một khoản đóng góp về tài chính do Chính phủ
Cùng với những nỗ lực giảm thuế và điều chỉnh các biện pháp phi thuế
7
truyền thống trong WTO, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản
thương mại mang tính kỹ thuật như các quy định về vệ sinh, kỹ thuật, môi
trường, nhãn mác sản phẩm. Đây là phạm vi chứa đựng nhiều quy định khá
phức tạp và hết sức chặt chẽ.
Hiện nay, trong WTO, Hiệp định SPS điều chỉnh việc áp dụng các biện
pháp vệ sinh, kiểm dịch động, thực vật và Hiệp định TBT điều chỉnh việc áp
dụng các quy định liên quan đến tiêu chuẩn sản phẩm, dán nhãn, chứng nhận
và công nhận hợp chuẩn. Mục tiêu của hai hiệp định này là cho phép các
nước thành viên một mặt duy trì các biện pháp vệ sinh và kỹ thuật vì các lý
do chính đáng, mặt khác hạn chế khả năng lạm dụng các biện pháp này để
bóp méo hoạt động thương mại toàn cầu.
- Các quy định về thương mại dịch vụ:
Các quy định như quy định về lập công ty, chi nhánh và văn phòng của
nước ngoài tại nước sở tại, quy định về xây dựng và phát triển hệ thống phân
phốI hàng hoá, quy định về quyền được tiếp cận các dịch vụ công một cách bình
đẳng, quy định về thanh toán và kiểm soát ngoại tệ, quy định về quảng cáo và
xúc tiến thương mại . . . đều trở thành các rào cản trong thương mại quốc tế nếu
các quy định này không minh bạch và có sự thiên vị, phân biệt đối xử.
- Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại:
Ví dụ như các quy định yêu cầu các nhà đầu tư phải sử dụng nguyên
liệu trong nước, quy định tỉ lệ xuất khẩu sản phẩm hay hạn chế nguồn ngoại
tệ dùng để thanh toán hàng nhập khẩu của công ty... Các biện pháp này
thường được các nước đang phát triển sử dụng rộng rãi để hạn chế nhập khẩu
và phát triển ngành công nghiệp trong nước.
Để khắc phục tình trạng này, Hiệp định TRIMS đã đưa ra một danh
8