Động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam - Pdf 32

Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
Lời cám ơn
Báo cáo khoa học với đề tài “Động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam”
được hoàn thiện dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, sự chỉ bảo tận tình
của TS. Lương Hồng Hược. Với sự biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cám ơn
chân thành nhât đến TS. Lương Hồng Hược.
Đồng thời trong quá trình nghiên cứu khoa học em cũng nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Địa lý nói chung và các thầy
cô trong tổ Địa lý tự nhiên nói riêng đã giúp em nâng cao trình độ và hoàn
thiện báo cáo.Bên cạnh đó là sự giúp đỡ động viên của bạn bè trong lớp.
Em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến các nhà khoa học của Viện Vật lý
Địa cầu – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đặc biệt là các anh chị
trong phòng Địa chấn đã tận tình hướng dẫn em về mặt khoa học, bổ sung
những tài liệu cần thiết.
Em xin chân thành cám ơn !
Hà Nội, tháng 3 năm 2011.
Sinh viên
Ngô Thị Ươm
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
1
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lí do chọn đề tài
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân loại luôn luôn phải đương đầu
với các tai họa thiên nhiên, như lũ lụt, hạn hán, bão tố, động đất, sóng thần,
núi lửa… Trong các tai họa thiên nhiên đó, có lẽ động đất là tai họa khủng
khiếp nhất, bởi vì chỉ trong vài giây đồng hồ cả một thành phố có thể bị sụp
đổ hoàn toàn, cả một khu vực có thể bị sụt lún và đôi khi những dòng sông
cũng bị đổi dòng do hậu quả của những trận động đất cực mạnh. Điều đáng
sợ hơn là cho đến nay khoa học và kỹ thuật đương đại vẫn chưa dự báo
chính xác thời điểm và địa điểm động đất sẽ xảy ra. Do đó, con người chưa

- Nghiên cứu các nguyên nhân gây động đất ở khu vực Tây Bắc
- Bước đầu đưa ra các giải pháp hạn chế hậu quả.
3. Giới hạn đề tài
Nghiên cứu động đất là một vấn đề lớn, mức độ ảnh hưởng sâu sắc và
thời gian tương đối dài. Trong điều kiện còn hạn chế về thời gian , tư liệu,
đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu đến hiện trạng, nguyên nhân và những
giải pháp hạn chế hậu quả của động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam. Về
mặt phạm vi lãnh thổ, đề tài giới hạn nghiên cứu khu vực Tây Bắc trong
phạm vi trọn vẹn 4 tỉnh là: Lai Châu, Điện Biên,Sơn La và Hòa Bình và một
số vùng nhỏ lân cận
IV.Phương pháp nghiên cứu và các bước thực hiện đề tài
1. Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
3
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
Đối với bất kì đề tài báo cáo khoa học nào muốn thực hiện đều phải
có các phương pháp nghiên cứu. Trong đề tài này người viết đã vân dụng
các phương pháp sau đây:
1.1Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài: các tài liệu về động đất, tài
liệu về các đứt gãy lãnh thổ, các bài luận văn, khòa luận có liên quan tới đề
tài của báo cáo khoa học
Dựa trên những tài liệu nghiên cứu, phân tích, chọn lọc trên cơ sở
khoa học những nội dung cấn thiết cho bài báo cáo.
1.2Phương pháp phân tích tổng hợp
Sau khi thu thập tài liệu, phương pháp phân tích tổng hợp được sử
dụng nhằm xử lý thông tin.
2. Các bước thực hiện
Bất kì một báo cáo khoa học nào cũng cần sử dụng những biện pháp
thích hợp nhất để bài báo cáo đạt kết quả cao. Cùng với việc lựa chọn các

B. Phần nội dung
Chương 1: Đặc điểm địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực Tây Bắc
Chương 2: Một số khái niệm về động đất.
Chương 3:Hoạt động động đất ở khu vực Tây Bắc
I. Hiện trạng động đất ở Tây Bắc
II. Nguyên nhân
III. Giải pháp hạn chế hậu quả của động đất
C.Kết luận
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
5
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -
XÃ HỘI KHU VỰC TÂY BẮC
1.Vị trí địa lý
Tây Bắc là một vùng lãnh thổ rộng lớn nằm ở phía Bắc của việt
Nam, là một vùng cao, dốc và chia cắt mạnh mẽ nhất cả nước “miền đất
của những núi và cao nguyên”. Đây là nơi có nhiều tiềm năng giàu có
chưa được khai thác và sử dụng hợp lí như tiềm năng thủy điện, khoáng
sản, nông lâm nghiệp…
Tây Bắc bao gồm 4 tỉnh :Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình lấy
ranh giới sông Hồng làm ranh giới. Tây Bắc có tổng diện tích 3800000km
2
chiếm 12 % diện tích của cả nước với số dân khoảng 2822300 người
Tây Bắc có tọa độ địa lý: vĩ độ 20
o
47’ B đến 22
o
48’ B ; kinh độ
102

Khu vực Tây Bắc về cơ bản được hình thành vào đại Trung sinh,
đặc biệt sau vận động tạo núi Indoxini vào kỉ Trias cách đây 225 – 180
triệu năm. Vận động tạo núi này bao chiếm toàn bộ lãnh thổ miền Bắc
Việt Nam nhưng xảy ra mạnh nhất trong địa máng sông Đà. Quá trình sụt
lún ở võng sông Đà tạo ra sự lắng đọng 1 hệ tầng dày các thành tạo lục
nguyên cacbonat. Khi pha uốn nếp xảy ra vào Trias muộn thì thấy có hiện
tượng chờm nghịch mạnh kèm theo xâm nhập ganitoit. Do 2 bờ của địa
mảng tiến gần lại nhau trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp
uốn khổng lồ kèm theo hàng loạt đứt gãy chờm nghịch làm đá vôi tầng
giữa có tuổi cổ hơn lại nằm chờm lên đá phiến – đá vôi tầng trên có tuổi
trẻ hơn ( gặp ở Sơn La) ở vùng sông Đà nơi có đứt gãy sâu thì có đá xâm
nhập và phun trào mafic
Đến giai đoạn Tân Kiến Tạo, cách đây 65 triệu năm khu vực Tây Bắc
lại chịu ảnh hưởng của vận động tạo núi Himalaya. Vận động này nâng lên
không đều mạnh ở phía sâu trong lục địa, đồng thời với hoạt độn nâng lên
thì sự sụt sâu làm tăng cường độ chia cắt của bề mặt tạo ra sự phân dị mới
trong địa hình Tây Bắc. Miền Tây Bắc được nâng lên với biên độ khá lớn,
các dãy núi trùng với trục uốn nếp cổ, còn các thung lũng chân núi chạy theo
đường đứt gãy cổ sinh. Vùng nâng lên mạnh nhất tạo nên các núi trung bình
và núi cao >1500m như Hoàng Liên Sơn, cánh cung sông Mã. Hiện
tượng nâng sụt diễn ra không liên tục mà theo từng đợt. Nham thạch
trong khu vực Tây Bắc gồm đầy đủ các loại bao gồm: trầm tích biến
chất, macma, phun xuất Riolit, đá biến chất có ở tả ngạn sông Đà , các
lọai trầm tích sa diệp phân bố nhiều ở hữu ngạn sông Đà, trầm tích đá
vôi chủ yếu ở hữu ngạn sông Đà.
Ngày nay ở khu vực Tây Bắc các vận động Tân kiến tạo vẫn tiếp tục
diễn ra các vận động nâng cao và hạ có cường độ và hướng thay đổi theo
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
8
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý

9
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
đinh 1886m, Pu-sam-sao 1897m. Trong khu vực có nhiều nền móng cổ
nhiều đứt gãy đắc biệt là đứt gãy Lai Châu – Điện Biên. Địa hình ở đây khá
đồng nhất với mạng lưới xâm thực dày, khe sâu sườn dốc, có xen một số bề
mặt bằng phẳng rộng như Mường Nhé.
Nằm giữa 2 khối núi khổng lồ kể trên là một dãy núi đá vôi xen núi
sa diệp thạch chạy liên tục từ Phong Thổ qua Sìn Hồ, Tuần Giáo (Lai
Châu), Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu (Sơn La) về Yên Lạc, Lạc Thủy
(Hòa Bình).
2.3 Khí hậu
Vùng Tây Bắc có khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của chế độ gió
mùa. Do nằm sâu trong lục địa nên ảnh hưởng của mưa bão biển Đông trong
mùa hè và của gió mùa Đông bắc trong mùa đông ít hơn các nơi khác thuộc
Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ.
Chế độ gió mùa có sự tương phản rõ rệt. Mùa hè với gió mùa Tây
Nam, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều. Mùa
đông với gió mùa Đông Bắc, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, có
thời tiết lạnh, khô và ít mưa. Các tháng 4 và tháng 10 là những tháng giao
thời giữa 2 mùa.
Các hoàn lưu gió mùa ảnh hưởng tới Tây Bắc là hệ thống gió mùa
Đông Bắc Á; hệ thống gió mùa Đông Nam Á; hệ thống gió mùa Nam châu
Á. Các hoàn lưu gió mùa đã chi phối mọi duễn biến của thời tiết và khí hậu
vùng Tây Bắc với những đặc trưng cơ bản sau đây:
Về chế độ nhiệt, tháng nóng nhất từ tháng 6 đến tháng 8, lạnh nhất
tháng 11-12. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm ở vùng cao nguyên và núi cao
lớn hơn ở các thung lũng. Do có dãy Hoàng Liên Sơn chắn gió mùa Đông
Bắc, nhiệt độ mùa đông ở Tây Bắc thường cao hơn Đông Bắc từ 1-2
o
C( ở

sản xuất và sinh hoạt. Mưa đá thường xuyên xuất hiện trong mùa hè, sương
muối và băng giá thường xuất hiện trong mùa đông.
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
11
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
2.4. Thủy văn
Tây Bắc có mạng lưới sông ngòi đặc nhưng không có nhiều sông lớn.
Nhìn chung hướng sông suối thường trùng với hướng kiến tạo còn các sông
nhỏ thường thẳng góc với sông chính. Đại bộ phận long sông cao hơn mặt
biển 100 – 200m có nơi đến 500 – 600m. Vì vậy sông ngòi Tây Bắc thường
đào lòng mạnh trắc diện hẹp, sông suối hàu như không có bồi tụ, lòng suối
đầy những tảng đá lớn, các suối đều ngắn và đều đổ thẳng xuống những con
sông chính lắm thác nhiều ghềnh. Tây Bắc có 4 hệ thống sông chính: Sông
Đà, Sông Mã, Sông Mê Công và Sông Đáy. Trong đó hệ thống sông Đà lớn
nhất còn các hệ thống sông khác chỉ nằm trên đất Tây Bắc 1 phần nhỏ hoặc
là thượng nguồn sông Mã, hoặc là thượng nguồn sông suối hoặc là phụ lưu
của sông Đáy
Sông Đà bắt nguồn từ độ cao 1500m thuộc Vân Nam (Trung Quốc).
Sông chảy vào Việt Nam ở địa phận huyện Mường Tè (Lai Châu) đổ vào
sông Hồng ở Trung Hà. Sông Đà là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng với
chiều dài 1010km và diện tích lưu vực 52900km
2
. Trong địa phận Viêt Nam
sông Đà dài 570km với diện tích lưu vực 26800 km
2
(chiếm 50% diện tích
toàn lưu vực). Sông Đà góp 47% tổng lượng nước cho sông Hồng tại Sơn
Tây. Sông Đà chảy trên 1 miền đồi núi dốc các phụ lưu cấp 1 thường bắt
nguồn từ núi cao trên 1000m vì vậy phần thượng lưu rất dốc, trắc diện dọc
thẳng đứng, độ dốc chính của lòng sông bình quân lên tới 71cm/km. Hệ

Trong vùng còn có người H’ Mông định cư và hoạt động ở các sườn
núi với độ cao >1500m sát biên giới phía Bắc đến thượng du Thanh Hóa,
Nghệ An. Thuộc ngữ hệ H’ Mông – Dao còn có dân tộc Dao, cư trú ở độ cao
700 – 1000m. người h’ Mông vá người Dao là những dân tộc sống trên “mái
nhà” của các tỉnh miền Bắc
• Mật độ dân số
Mật độ dân số toàn vùng rất thấp và không đồng đều. Nơi tập trung
đông nhất là các thị xã, thị trấn, các điểm dân cư tập trung, các thi tứ và trên
các trục đường giao thông. Đó là thị xã Lào Cai, thị xã Hòa Bình. Trái lại ở
các khu vực núi cao, đường giao thông ít, đi lại khó khăn… thường chỉ có
các dân tộc ít người sinh sống nên mật độ dân cư thấp.
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
13
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
Bình quân mật độ dân cư toàn vùng là 61 người/km
2
. Mật độ dân số
tăng dần từ vùng cao xuống vùng thấp, từ ngừng khu vực đi lại khó khăn
đến những nơi có đường giao thông đi lại thuận tiện.
3.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kỹ thuật
• Hệ thống đô thị
Hệ thống đô thị của vùng với 4 thị xã là Điện Biên Phủ, Lai Châu,
Sơn La, Hòa Bình. Diên tích các đô thị trên là 596,7km2, dân số 178,6 nghìn
người (1997). Hệ thống đô thị tuy ít nhưng hiện tại và tương lai chúng sẽ là
những trung tâm tạo sức phát triển cho cả vùng.
• Hệ thống các tuyến trục giao thông
Các tuyến trục giao thông Tây Bắc chỉ có 2 loại hình vân tải chính là
đường thủy và đường bộ, ngoài ra còn có đường không nhưng ý nghĩa bị
hạn chế.
Mạng lưới đường bộ được phát triển mạnh trong những năm gần đây.

bề mặt và trong các lớp dẫn sóng. Vận tốc lan truyền của sóng địa chấn
trong môi trường rắn biến đổi trong giới hạn 3- 15km/s.
- Có 2 loại sóng mặt : sóng Love và sóng Rayleigh được truyền dọc
theo bề mặt Trái Đất và trong các lớp dẫn sóng
- Hai loại sóng khối : sóng dọc L và sóng ngang S truyền xuyên qua
lòng đất, khúc xạ qua các môi trường vật chất khác nhau hoặc phản xạ tại
các ranh giới của môi trương trước khi trở lại mặt đất. Sóng P có thể truyền
qua tất cả các môi trường trong lòng đất tương tự như sóng âm, còn sóng S
chỉ truyền qua môi trường rắn. Vân tốc của sóng khối thay đổi theo tính chất
của môi trường mà nó truyền qua, chủ yếu phụ thuộc vào mật độ của vật
chất môi trường
Các thông số cơ bản của động đât đều được xác định trên cơ sở phân
tích các đặc trưng của sóng địa chấn.
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
15
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
3. Các đặc trưng cơ bản của động đất
Mỗi trận động đất được đặc trưng bởi các thông số cơ bản sau 1) Thời
điểm phát sinh động đất; 2) Vị trí của tâm động đất biểu thị bởi tọa độ chấn
tâm (vĩ độ, kinh độ) và độ sâu chấn tiêu; 3)Độ mạnh (Độ lớn)(magnitude) M
hay là năng lượng E; và 4) Cường độ chấn động (Intensity) ở chấn tâm I
0
.Dưới đây tôi sẽ giới thiệu những định nghĩa và khái niệm đó.
3.1 Chấn tiêu và chấn tâm động đất
- Chấn tiêu là vị trí trong thạch quyển, chủ yếu là vỏ Trái Đất, nơi xảy ra sự
phá hủy và bức xạ các sóng địa chấn.
- Hình chiếu theo phương thẳng đứng của chấn tiêu lên bề mặt Trái
Đất gọi là chấn tâm.
- Khoảng cách từ chấn tiêu tới chấn tâm chính là độ sâu chấn tiêu,
khoảng cách từ chấn tiêu tới điểm quan sát trên mặt đất gọi là khoảng cách

, Magnitude theo moment địa chấn (moment
magnitude) M
W.
3.3 Cường độ chấn động của động đất
Cường độ chấn động (Intensity) động đất là đại lượng biểu thị cường
độ chấn động mà nó gây ra trên mặt đất và đánh giá được qua mức độ tác
động của nó đối với nhà cửa, công trình, mặt đất, đồ vật, con người.
Cường độ chấn động được đánh giá theo các thang phân bậc mức độ
tác động của động đất đối với các kiểu nhà cửa, công trình, đồ vật, súc vật,
con người và biến dạng mặt đất (Cách đánh giá như vậy được quy định
trong thang Cường độ chấn động). Ở Bắc mỹ người ta dùng thang Mercalli
cải biên MM phân chia cường độ chấn động thành 12 cấp. Nói chung thang
này trùng hợp với thang Kankani- Ziberg dùng ở Tây Âu trước đây và sau
này với thang MSK – 64 được Hội đồng Địa chấn châu Âu thông qua năm
1964 và được dung rộng rãi ở Liên Xô trước đây và các nước châu Âu
4.Nguyên nhân xảy ra động đất
Sự phá hủy đột ngột các phần thạch quyển mà chủ yếu là vỏ Trái Đất
sẽ gây ra chấn động lan truyền dưới dạng sóng đàn hồi, đó là động đất.
Nguyên nhân gây ra những phá hủy đó có thể rất khác nhau: vận động kiến
tạo, phun trào núi lửa, sập hang động ngầm,…
Chuyển động của các mảng thạch quyển liên quan với các quá trình
háo – ly và sự thay đổi chế độ nhiệt động bên trong Trái Đất gây ra biến
dạng chậm chạp nhưng mạnh mẽ và phân dị của vỏ Trái Đất như uốn nếp,
nâng cao thành các vùng núi, sụt lún thành các vùng trũng… làm hình thành
các hệ thống đứt gãy chia cắt vỏ Trái Đất. Đó là vận động kiến tạo. Phá hủy
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
17
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
đột ngột, cục bộ sẽ xảy ra ở những khâu yếu, nơi mà độ bền vững của đá
không chịu nổi sức căng được tích lũy và tăng dần trong quá trình vận động.

Cho đến nay các danh mục động đất trên lãnh thổ Tây Bắc Việt Nam
ghi nhận 767 trận động đất có Magnitude Ms ³ 3 chiếm gần 2/3 tổng số động
đất xảy ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam, chứng tỏ lãnh thổ Tây Bắc Việt Nam
có tính động đất cao nhất. Chỉ tính riêng trong thế kỷ XX hầu hết cả trận
động đất mạnh nhất xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam đều tập trung vào khu
vực Tây Bắc. Đó là các trận động đất mạnh tiêu biểu ở Việt Nam mà Viện
Vật Lý địa cầu đã điều tra thực địa:
Động đất Điện Biên
Động đất Tuần Giáo
Động đất Lục Yên
Động đất Hoà Bình
Động đất Tạ Khoa
Động đất Lai Châu
Ngoài ra bằng tài liệu ghi chép trong lịch sử, tài liệu khảo sát động đất
mạnh trong những năm đầu của thế kỷ XX và số liệu quan trắc bằng mạnh
lưới trạm địa chấn Việt Nam còn ghi nhận được các trận động đất yếu hơn,
có chấn cấp từ 1 độ Richter trở lên
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
19
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý

Bảng: Các vùng phát sinh động đất M ³5 khu vực Tây Bắc
Tên vùng
M
smax
M
smin
b h(km) N
Sông Hồng – Sông Chảy
Nghĩa Lộ - Hòa Bình

4,5
0,93
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
17
12
12
12
22
12
22
12
12
12
12
0,345
0,03
0,06
0,03
0,08
0,16
0,08

công tác nghiên cứu địa chấn ở Viện Vật lí Địa cầu, mở ra một giai đoạn
phát triển mới với số lượng cán bộ nghiên cứu ccungx như sự tăng cường
thiết bị cho nghiên cứu và phát triển mạng lưới đài trạm.
Động đất Tuần Giáo xảy ra vào hồi 14h 18 phút ngày 24 tháng 6 năm
1983 trong vùng núi cách thị trấn Tuần Giáo về phía Bắc khoảng 11 km.
Magnitude của động đất được xác định là Ms=6,7độ Richter. Cường độ chấn
độ chấn trong vùng cực động I
0
= 8 – 9 (thang MSK)
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
21
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý

Hình 4. Phân bố không gian - thời gian của động đất ở Tuần Giáo và
các vùng kế cận năm 1983
Động đất dã gây thiệt hại nặng nề cho thị trấn Tuần Giáo: trong số
những ngôi nhà gạch cấp IV thì có khoảng 30 % bị hư hại nặng, phần lớn số
còn lại bị hư hại vừa. Chỉ có nhà gỗ, nhà tre và nhà mái tranh mới không bị
hư hại. Động đất cũng gây hư hại từ nhẹ đến vừa đối với các nhà như thế ở
các thị trấn, thành phố: Lai Châu, Sơn La, Tủa Chùa, Quỳnh Nhai, Điện
Biên và các nơi khác trong các huyện nói trên. Động đất cũng gây ra nhiều
hiện tượng biến dạng về mặt địa hình như: sụt lở lớn trong các dãy núi trong
vùng chấn tâm vùi lấp tới 200 ha ruộng lúa trong cá thung lũng và nhiều
đoạn đường giao thông; nứt đất rộng đến 10 – 15 cm, kéo dài từng đoạn từ
vài chục đến vài trăm mét trên chiều dài gần 20 km từ Pú Nhung đến Mường
Mùn; nứt đất với kích thước nhỏ và sụt đất xảy ra khắp nơi trong vùng chấn
tâm, nhiều mạch nước bị mất và cũng xuất hiện nhiều mạch nước mới. Đá lở
làm hàng chục người chết và bị thương.
Động đất gây chấn động mạnh trên những vùng rộng lớn ở Tây Bắc,
Đông Bắc, lào và Trung Quốc. Chấn động cấp 8 và mạnh hơn xảy ra trên

2. Tọa độ chấn tâm động đất
Ψ
=21
o
26’08 N
3. Độ sâu chấn tiêu
λ
=103
o
32’ E
h = 12 km
4. Chấn động cực đại I
0
= 6,0-7,0 (MSK-64)
5. Magnitude theo sóng mặt M
s
= 4,96 độ Richter
4. Động đất Thin Tóc hay còn gọi là động đất Điện Biên (năm 2001).
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
23
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
Ngày 19 tháng 2 năm 2001, hồi 22 giờ 52 phút (giờ Hà Nội) tại
khu vực buên giới Việt-Lào, giáp ranh với thành phố Điện Biên đã xảy
ra động đất với Magnitude 5,3 độ Richter. Chấn tâm động đất được xác
định theo số liệu ghi nhận của mạng lưới đài trạm Việt Nam và quốc tế
cũng như qua điều tra thực địa và nằm tại khu vực bản Thin Tóc thuộc
lãnh thổ Lào, trên đứt gãy Thin Tóc, phần đuôi phía Tây-Nam của đới
đứt gãy Lai Châu-Điện Biên.
Mức độ phá hủy của động đát là khá lớn, gây thiệt hại nhiều về nhà ở
của nhân dân tại khu vực Điện Biên, ước tính hàng trăm tỷ đồng Việt Nam

4.1Thành phố Điện Biên:
a) Người bị thương: 02 người
b) Trụ sở làm việc, trường học 98% công trình bị hư hỏng, trong đó:
+ Công trình bị thiệt hại nặng phải phá dỡ gồm có:
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
24
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
- Nhà làm việc: 2 công trình nhà cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 270 m
2
; 1
công trình nhà cấp 4 (1 tầng), diện tích sàn 150 m
2
- Trường học: 10 phòng học cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 750 m
2
; 63
phòng học nhà cấp 4 (1 tầng), diện tích sàn 2520 m
2
- Nhà dân: 117 nhà cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 2880 m
2
+ Công trình thiệt hại nặng, 30 – 50 %:
- Nhà làm việc: 15 b công trình nhà cấp 3 (2 -3 tầng), diện tích sàn
9000m
2
.
- Trường học: 5 trường mẫu giáo, nhà trẻ diện tích sàn 2650m
2
; 30
phòng học cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 2400m
2
; 20 phòng học cấp 4(1

2
; 6
phòng học cấp 3 (2 tầng), diện tích sàn 350 m
2
; 36 phòng học nhà cấp 4(1
tầng), diện tích sàn 1620m
2
.
- Nhà dân: 800 nhà cấp 4 (1 tầng), diệ tích sàn 48000 m
2
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
25

Trích đoạn Giải pháp kháng chấn cho nhà và công trình ở Việt Nam 1 Thiết kế các công trình xây dựng nhà thấp tầng và cao tầng. Những điều cần chú ý khi động đất mạnh xảy ra 1.Xác định nhanh chóng các thông số động đất. Nhân dân trong khu xảy ra động đất 1 Đối với động đất trung bình và yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status