Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo khu vực Tây Bắc Việt Nam (19962015) - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐỖ PHƢƠNG HUYỀN

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
NƢỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈOKHU VỰC TÂY BẮC VIỆT NAM(1996-2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐỖ PHƢƠNG HUYỀN

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
NƢỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈOKHU VỰC TÂY BẮC VIỆT NAM(1996-2015)

Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN VĂN LA

PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................6
1.Lý do lựa chọn đề tài: ......................................................................................... 6
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................. 7
3.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 13
4.Phƣơng pháp nghiên cứu: ................................................................................ 13
5.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 14
6. Cấu trúc luận văn ............................................................................................ 14
PHẦN NỘI DUNG ..................................................................................................15
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ CHO HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH
PHỦ NƢỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO KHU
VỰC TÂY BẮC VIỆT NAM (1996-2015) ............................................................15
1.1.Cơ sở lý thuyết................................................................................................ 15
1.1.1.Khái quát về tổ chức phi chính phủ ........................................................15
1.1.2.Phân loại các tổ chức phi chính phủ.......................................................18
1.1.3.Khái quát hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam ..................22
1.2.Cơ sở thực tiễn ............................................................................................... 27
1.2.1.Ưu tiên của Việt Nam trong XĐGN ........................................................27
1.2.2.Khung chính sách tác động đến hoạt động của các tổ chức PCPNN ...32
1.2.3.Hợp tác giữa các tổ chức PCPNN với các đối tác Việt Nam ..................34
1.2.4.Thực trạng đời sống đồng bào Tây Bắc ..................................................37
1.3. Tiểu kết .......................................................................................................... 47
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA
CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƢỚC NGOÀI VÙNG TÂY BẮC VIỆT
NAM (1996-2015) ....................................................................................................48
2.1. Lĩnh vực hoạt động xóa đói giảm nghèo của các tổ chức PCPNN ........... 48
2.1.1. Hỗ trợ sinh kế và phát triển sản xuất .....................................................48

1



DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Viết tắt tiếng Việt
CLB

Câu lạc bộ

PCP

Phi chính phủ

PCPNN

Phi chính phủ nước ngoài

XĐGN

Xóa đói giảm nghèo

LHQ

Liên Hợp Quốc

Viết tắt tiếng Anh
ADB

Asian Development Bank
Ngân hàng phát triển châu Á

EU


United Nations Development Programme
Chương trình phát triển của Liên hợp quốc

UNFPA

United Nations Population Fund
Quỹ Dân số của Liên hợp quốc

WB

World Bank

3


Ngân hàng thế giới
WWF

World Wildlife Fund
Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới

4


DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Số lượng các tổ chức PCPNN tại Việt Nam (2010-2016)
Biểu đồ 1.2: Giải ngân nguồn vốn cho các lĩnh vực
Biểu đồ 1.3: Số đối tác của các tổ chức PCPNN
Bảng 1.1: Tỷ lệ đói nghèo qua các năm


1

Thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội theo tiêu chí giảm nghèo mới
Theo kết quả Tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2015 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng
cho giai đoại 2016-2020 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
2

6


Trong nỗ lực đó, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) đã và đang
đóng vai trò quan trọng,chung tay hỗ trợ cùng với chính phủ Việt Nam đương đầu
với thách thức này. Trên thực tế, hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
trong nhiều thập kỷ qua đóng góp rất lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo tại Việt
Nam, đặc biệt trong xóa đói giảm nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số, góp phần không nhỏ vào thành tựu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam.
Tuy nhiên, để hoạt động của các tổ chức PCPNN trong lĩnh vực xóa đói giảm
nghèo vùng Tây Bắc nói riêng và trong các lĩnh vực khác ở Việt Nam nói chung đạt
được nhiều hiệu quả hơn, cần có những nghiên cứu tổng kết và đúc rút kinh nghiệm.
Đó cũng là lý do chính để chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề: “Hoạt động của
các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo khu
vực Tây Bắc Việt Nam (1996-2015)” làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Quan hệ Quốc tế.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm qua, với tinh thần đoàn kết, hữu nghị và hợp tác, Việt Nam
và các tổ chức PCPNN đã phát triển mối quan hệ đối tác hiệu quả, bình đẳng, tôn
trọng và tin cậy lẫn nhau, chân thành và cởi mở. Thông qua các hoạt động nhân đạo
và phát triển, các tổ chức PCPNN và các đối tác Việt Nam đã góp phần đáng kể vào
công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững của Việt Nam, thông qua việc

quả.Tác giả nêu bật một số thành tựu xóa đói giảm nghèo nổi bật; một số hạn chế và
nguyên nhân cũng như các định hướng và giải pháp xóa đói giảm nghèo.
Bài “Đóng góp của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong giảm
nghèo và phát triển nông thôn ở Việt Nam giai đoạn 1991-2010”của tác giả
Lương Thị Hồng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 7 – 2016) nhấn mạnh
trong quá trình phát triển đất nước, để đạt được mục tiêu giảm nghèo và phát triển
nông thôn, Chính phủ Việt Nam đã huy động và tham gia đóng góp từ nhiều phía,
bao gồm cả những đóng góp tích cực của các tổ chức PCPNN về chính sách, hoạch
định chính sách; các mô hình, phương pháp mới, phương pháp tiếp cận phát triển
nông thôn và xóa đói giảm nghèo bền vững; đào tạo nguồn nhân lực... Trong bài
viết này, tác giả làm rõ những đóng góp của các tổ chức PCPNN về các khía cạnh
như phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo.

8


Nguyễn Hải Hữu với bài “Phát huy kết quả đạt được - vượt qua thách thức
- về sớm mục tiêu” năm 2004 (Tạp chí Lao động và xã hội, số 71) đánh giá kết quả
thực hiện chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, từ đó
nêu một số kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xóa đói, giảm
nghèo.
“Chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo - một nhân tố mới trong
quản lý của Nhà nước ta” của Phạm Đi, năm 2005 (Tạp chí Lý luận chính trị, số
46) phân tích những điểm mới của Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm
nghèo của Chính phủ, trong đó cho rằng tầm quản lý và điều chỉnh chương
trình ở cấp độ vĩ mô cho phép thực hiện những đầu tư lớn và đa dạng hơn về các
nguồn lực. Chương trình có những điểm nhấn ưu tiên, quan điểm tiếp cận chính xác
và được chia sẻ rộng rãi hơn, đặc biệt là quan điểm về sự tham gia của người dân và
cộng đồng.
Bài “Phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo vùng dân tộc thiểu

năm trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội.
Ngoài ra, trên Diễn đàn Xã hội học - Viện Xã hội học (Số 1 - 1993), Viện
Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam còn có các công trình nghiên cứu về các tổ
chức phi chính phủ và hoạt động xã hội, nổi bật là bài viết “NGO trong thập kỷ 90:
những dự báo đối với Việt Nam”của tác giả Văn Thanh, trong đó tác giả nêu lên
một số đặc điểm của các tổ chức PCP trong thập kỷ 90 và những dự báo về số
lượng, giá trị viện trợ, các lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCP tại Việt Nam
trong những năm sau đó, chỉ ra tính cấp thiết cần có những văn bản pháp quy cần
thiết và một bộ máy chuyên trách đủ tầm vóc quản lý hoạt động của các tổ chức
PCP tại Việt Nam.
“Công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam - 60 năm nhìn lại” của tác giả
Trần Văn Chử (Tạp chí Lao động và xã hội, số 8 - 2007) nêu quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước về xoá đói giảm nghèo, đánh giá kết quả thực
hiện, từ đó rút ra bài học sau hơn 60 năm thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở Việt
Nam.
Tác giả Chu Tiến Quang có bài “Nhìn lại thành tựu xoá đói, giảm nghèo
của Việt Nam giai đoạn 2001-2005 và những vấn đề đang đặt ra”, (Tạp chí Cộng

10


sản, sô 3 - 2007) đánh giá những kết quả đạt được về thực hiện chủ trương, chính
sách xoá đói giảm nghèo của Đảng trong những năm 2001-2005, chỉ ra
nguyên nhân và nêu lên một số thách thức đối với thực hiện chủ trương, chính sách
xoá đói, giảm nghèo của Đảng.
Cuốn sách “Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc
trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay” của tác giả Hoàng Chí Bảo
(NXB Chính trị quốc gia, 2009) khái quát thực trạng đói nghèo của miền núi,
đánh giá thành tựu, hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc nói chung và xoá
đói, giảm nghèo nói riêng của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở đó giải pháp nhằm bảo

của Pierre Jacquet (Tạp chí Lao động và xã hội, số 5) đánh giá những lợi ích của
thực hiện chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng đối với xoá đói, giảm nghèo,
trong đó khẳng định rằng các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam khi cư trú ở địa bàn
có đường nhựa thì có thêm cơ hội để thoát nghèo cũng như tại các vùng có hệ thống
thuỷ lợi thì đói nghèo cũng ít trầm trọng hơn. Việc đầu tư mở rộng hệ thống thuỷ lợi
phục vụ sản xuất nông nghiệp là một trong những khoản đầu tư của Nhà nước được
đánh giá là có tính phân phối lại cao nhất về mặt xã hội.
Martin Ravallion Dominique van de Walle với công trình “Đất đai
trong thời kỳ chuyển đổi - Cải cách và nghèo đói ở nông thôn Việt Nam” xuất bản
năm 2008 (Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên In Tiến bộ) đánh giá kết
quả thực hiện chính sách hỗ trợ đất đai đối với người nghèo, trong đó cho rằng
các viên chức nhà nước tiếp tục thực hiện tái phân bổ đất đai tại một số xã và từ đó
tỷ lệ người nghèo không có đất sản xuất ngày càng gia tăng.
Ngân hàng thế giới trong công trình “Tăng cường nông nghiệp cho
phát triển” năm 2008 (NXB Văn hoá thông tin) nêu lên một thực tế là tỷ lệ đói
nghèo giảm đáng kể khi các hộ tiểu nông ở Việt Nam thực hiện sản xuất theo
hướng thị trường và đa dạng hoá nguồn thu nhập ngoài nông nghiệp.
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan
đến đề tài này, nhất là các công trình nghiên cứu mang tính chất cụ thể liên quan
đến công tác xóa đói giảm nghèo của các tổ chức PCPNN tại khu vực Tây Bắc
trong giai đoạn 1996-2015. Hầu hết các bài viết liên quan đến các tổ chức PCPNN
và công tác xóa đói giảm nghèo chưa đi sâu phân tích vào mối quan hệ giữa các tổ

12


chức PCPNN và công tác xóa đói giảm nghèo trên từng lĩnh vực trong đời sống
những người thụ hưởng, mà đa phần là nghiên cứu riêng rẽ.
Tuy nhiên, đánh giá về hoạt động của các tổ chức PCPNN trong lĩnh vực
xóa đói giảm nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì vẫn còn


- Phương pháp phân tích quan hệ quốc tế: Dùng để làm rõ sự hợp tác
giữa các tổ chức PCPNN với các đối tác Việt Nam.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích và đánh giá hoạt động của
các tổ chức PCPNN trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo khu vực Tây Bắc Việt Nam
giai đoạn 1996-2015 và tác động tích cực của các hoạt động này đến đời sống đồng
bào Tây Bắc, luận văn đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt
động thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ các tổ chức PCPNN trong thời gian
tới.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Trên cơ sở mục tiêu trên, luận văn có những
nhiệm vụ sau:
Một là, đưa ra những cơ sở về lý thuyết và thực tiễn cho việc thu hút nguồn
hỗ trợ từ các tổ chức PCPNN vào khu vực Tây Bắc, bao gồm những lý thuyết lý
luận về PCPNN và những nhân tố tự nhiên – kinh tế - xã hội – luật pháp… tác động
tới vấn đề này.
Hai là, phân tích, đánh giá kết quả đạt được của các tổ chức PCPNN trong
lĩnh vực xóa đói giảm nghèo ở khu vực Tây Bắc qua các năm từ 1996 đến 2015.
Ba là, bước đầu đưa ranhững kiến nghị, đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động các tổ chức PCPNN khu vực Tây Bắc nói riêng và cả nước nói
chung trong thời gian tới.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3
chương:
Chƣơng 1: Cơ sở cho hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo khu vực Tây Bắc Việt Nam (1996-2015)
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động xóa đói giảm nghèocủa các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài vùng Tây Bắc Việt Nam (1996-2015)
Chƣơng 3:Khuyến nghị và giải pháp


theo đuổi những hoạt động nhằm giảm bớt khổ đau, thúc đẩy lợi ích của người
4

David Lewis (2016), Non-governmental Organizations, Definition and History, the London School of
Economics and Political Science, pg. 4

15


nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hoặc thực hiện các
dịch vụ cộng đồng.5
Nguồn kinh phí hoạt động
Rất nhiều các tổ chức PCP hoạt động nhờ nguồn kinh phí huy động được từ
các mối quan hệ bên ngoài quốc gia, nhưng cũng có rất nhiều tổ chức PCP hoạt
động nhờ huy động nguồn kinh phí từ trong nước.Trong khi có các tổ chức PCP
nhận kinh phí từ “nền công nghiệp phát triển” (bao gồm các nhà tài trợ song phương
và đa phương, hệ thống các cơ quan UN và các thể chế), thì cũng có các tổ chức
PCP lựa chọn hoạt động bằng nguồn kinh phí không phải từ các nhà tài trợ6. Vì vậy,
có thể nói, các tổ chức PCP hoạt động bằng nguồn kinh phí của các thành viên, từ
các quỹ, các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ…
Vai trò của các tổ chức phi chính phủ
Vai trò của các tổ chức phi chính phủ đang được nâng cao trong cộng đồng
các nước tài trợ và trên trường quốc tế, được coi là một trong những tác nhân thúc
đẩy sự phát triển bền vững, khắc phục nghèo khổ và tham gia xây dựng chính sách
của các chính phủ, bảo đảm quyền con người, góp phần xây dựng quan hệ thương
mại bình đẳng giữa các nước.
Tầm ảnh hưởng của các tổ chức phi chính phủ
Trong quá trình xây dựng chính sách, các tổ chức quốc tế, các thiết chế tài
chính quốc tế, chính phủ các nước phát triển và một số nước đang phát triển đã hình
thành cơ chế tham vấn, lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức phi chính phủ. Liên hợp

giới về phụ nữ, Hội nghị thế giới về dân số và phát triển, Hội nghị thượng đỉnh về
phát triển xã hội, Hội nghị thế giới về môi trường7...
Đáng chú ý là, trong khi các tổ chức phi chính phủ là những chủ thể độc lập,
nhiều hoạt động của chúng lại có hợp tác mật thiết với các tổ chức liên chính
phủ (intergovernmental organizations-IGOs) được thành lập bởi các nhà nước (như
UN, EU hay WB).Lĩnh vực hợp tác đặc biệt mạnh giữa các các tổ chức PCP và các
tổ chức liên chính phủ nằm trong lĩnh vực nhân quyền và phát triển. Nhiều tổ chức
PCP là chuyên gia trong việc cung cấp và phân phát viện trợ nhân đạo hay thu thập
và phân tích số liệu, và các hoạt động này có thể được tài trợ bởi các tổ chức liên
chính phủ. Hơn nữa, các tổ chức PCP thường trung lập về chính trị, vì vậy họ có thể
hoạt động ở những nơi có chiến tranh để giúp đỡ những người dân bị ảnh
hưởng.Chính vì những chức năng nói trên, các tổ chức PCP đã trở nên rất hữu
ích.Trên thực tế, các tổ chức liên chính phủ ngày càng tận dụng vị trí đặc biệt này

7 Các tổ chức PCPNN, mofahcm.gov.vn, tháng 5/2017

17


đểkhẳng định vai trò của mình.Từ năm 1990 đến 1994, tỷ lệ viện trợ nước ngoài từ
Châu Âu được thực hiện thông qua các tổ chức PCP tăng từ 42% lên đến 67 %8.
Tại Việt Nam, thuật ngữ tổ chức PCP được nhắc đến đầu tiên trong Luật Tổ
chức Chính phủ năm 1992, sau đó là Luật Hợp tác xã năm 1996 và một số văn bản
pháp qui gần đây. Theo đó, các văn bản này có đề cập:
- Tổ chức PCP là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối
với Chính phủ.
- Tổ chức PCP được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công
nhận, có sự quản lý Nhà nước.
- Tổ chức PCP được lập ra do sự tự nguyện của nhân dân.
- Tổ chức PCP hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật.

công cụ, đất, vật liệu, sức lao động...
- Đinh hướng tạo quyền: mục đích giúp người dân nghèo hiểu biết rõ hơn về
các yếu tố xã hội, chính trị và kinh tế có tác động đến đời sống của họ và giúp họ
nhận thức về năng lực của bản thân để kiểm soát cuộc sống của họ.
Theo phạm vi hoạt động
- Các tổ chức dựa trên cơ sở cộng đồng (CBO): Các câu lạc bộ thể thao, các
tổ chức của phụ nữ, các tổ chức của một khu dân cư, các tổ chức tôn giáo hoặc giáo
dục.
- Tổ chức PCP trong phạm vi một đô thị: Các tổ chức như câu lạc bộ, phòng
thương mại và công nghiệp, các liên đoàn doanh thương, các nhóm dân tộc hay giáo
dục và hiệp hội của các tổ chức cộng đồng.
- Tổ chức PCP quốc gia: Hội chữ thập đỏ, các tổ chức nghề nghiệp...
- Tổ chức PCPNN: Các tổ chức cứu trợ trẻ em, OXFAM9, CARE10, các Quỹ
Rokerfeller và Ford, các nhóm tôn giáo11...
Các lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCP
9

Oxfam là một liên minh quốc tế gồm 17 tổ chức cùng phối hợp hoạt động tại 94 quốc gia trên thế giới, là
một phần của phong trào toàn cầu nhằm đem lại tác động lớn hơn trong nỗ lực xóa đói giảm nghèo và đấu
tranh cho bình đẳng. Oxfam có mặt lần đầu tiên tại Việt Nam từ năm 1955 với hoạt động cứu trợ nhân đạo.
Sau một số hỗ trợ khác trong lĩnh vực này, từ cuối những năm 80, Oxfam bắt đầu triển khai các dự án phát
triển nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, giảm thiểu rủi ro và ứng phó với biến đổi khí
hậu và thảm họa, phát triển xã hội dân sự và cộng đồng thiểu số, nâng cao vị thế phụ nữ.
10
CARE tại Việt Nam là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, phi tôn giáo, và là một đơn vị của mạng
lưới CARE quốc tế. Tại Việt Nam, CARE hoạt động trong nhiều lĩnh vực bao gồm phát triển nông thôn, cứu
trợ khẩn cấp, cúm gia cầm, y tế và xã hội.
11
Cousins William, Non-Governmental Initiatives in ADB, The Urban Poor and Basic Infrastructure
Services in Asia and the Pacific, Asian Development Bank, Manila, 1991

- Tổ chức và hoạt động của hội bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý
của Nhà nước.

20


Việc thành lập các tổ chức PCP ở Việt Nam thường được cơ quan Đảng có
thẩm quyền nhất trí về chủ trương và phải được cấp có thẩm quyền của Nhà nước ra
quyết định cho phép.Nói cách khác, các hoạt động thường xuyên của tổ chức PCP
trong nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
Ở nhiều nơi trong nước, đã xuất hiện khá nhiều các tổ chức PCP Việt Nam
dưới nhiều loại hình:
- Hàng loạt các làng SOS, làng hòa bình, làng hữu nghị ra đời hoặc được xúc
tiến.
- Những tổ chức Tấm lòng vàng, Xa mẹ, Tình thương… mang tính chất nhân
đạo đã xuất hiện ở nhiều nơi.
- Các quỹ tài năng trẻ, cấp học bổng, cho vay vốn quay vòng do một số cơ
quan, công ty đang phát huy tác dụng song song với các chương trình cùng loại hình
này của các tổ chức PCP.
- Một số trung tâm bảo vệ môi trường, cai nghiện ma túy, những trại chữa
bệnh phong, những trường dành cho trẻ khuyết tật… cũng đang thu hút nhiều quan
tâm ở trong và ngoài nước12.
Tổ chức PCPNN
(Foreign Non-Governmental Organization – Tổ chức PCPNN) là tổ chức phi
lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhân hoặc các hình thức tổ chức xã hội phi lợi
nhuận khác được thành lập theo luật pháp nước ngoài có hoạt động hỗ trợ phát
triển, viện trợ nhân đạo không vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác tại
Việt Nam13.
Hiện nay, ở Việt Nam, có thể kể ra các loại hình tổ chức PCPNN sau đây:
- Các quỹ văn hóa – xã hội (thường được gọi là Foundation - tiếng Anh, hay

thiện, phát triển bền vững, khắc phục hậu quả thiên tai …
Các tổ chức PCPNN thuộc loại hình này có phạm vi hoạt động rộng rãi, chủ
yếu là những tổ chức được thành lập từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, như những
tổ chức PCPNN thuộc dòng OXFAM, các tổ chức Cứu trợ trẻ em, CARE, Action
Aid, Thầy thuốc không biên giới, các tổ chức bảo vệ môi trường như WWF14; các tổ
chức đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ…
1.1.3. Khái quát hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
Từ 1975-1986
Các tổ chức PCPNN đã vào Việt Nam từ nhiều thập kỷ qua. Việc mở rộng
quan hệ với các tổ chức PCPNN là một mảng trong quan hệ ngoại giao nhân dân, nó

14

WWF là một trong những tổ chức PCPNN đầu tiên hoạt động tại Việt Nam. Từ thập niên 90, WWF đã hợp
tác với chính phủ trong các chương trình bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên của
Việt Nam bằng việc tài trợ và thực hiện các chương trình nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển một cách bền
vững cơ sở nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước.

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status