ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** CHỬ THỊ THU HÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
(1996 - 2006)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. TRƯƠNG THỊ TIẾN
HÀ NỘI - 2007
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
Mục đích nghiên cứu 6
Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu 6
Phạm vi nghiên cứu 6
Đối tƣợng nghiên cứu 7
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 7
Nguồn tƣ liệu 7
Phƣơng pháp nghiên cứu 8
6. Đóng góp của luận văn 8
7. Bố cục của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TCPCP VÀ LỊCH SỬ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC TCPCPNN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TRƢỚC NĂM 1996 9
1.1. Tổng quan về TCPCP và viện trợ PCP 9
1.1.1. Tổng quan về TCPCP 9
1.1.1.1. Về tên gọi và bản chất của TCPCP 9
1.1.1.2. Nguyên nhân ra đời TCPCP 11
mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc 52
2.1.3. Việt Nam củng cố môi trƣờng pháp lý đối với hoạt động của
các TCPCPNN 54
2.2. Sự gia tăng về số lƣợng các TCPCPNN ở Việt Nam 58
2.3. Hoạt động vì giảm nghèo và phát triển bền vững ở Việt Nam 59
2.3.1. Tích cực vận động tài trợ cho Việt Nam và sự thay đổi về hình
thức, tính chất viện trợ. 60
2.3.1.1. Tích cực vận động tài trợ cho Việt Nam 60
2.3.1.2. Sự thay đổi về hình thức, tính chất viện trợ 64
2.3.2. Chọn lựa phƣơng pháp mới trong tiếp cận với giảm nghèo 74
2.3.2.1. Phương pháp giảm nghèo có sự tham gia của người dân 74
2.3.2.2. Xây dựng năng lực cho các đối tác 77
2.3.3. Hỗ trợ các nguồn lực để giảm nghèo 79
2.3.3.1. Tìm hiểu nguyên nhân của sự nghèo đói 79
2.3.3.2. Hỗ trợ các nguồn lực 81
2.4. Những đóng góp đối với công tác đối ngoại nhân dân 106
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT, KIẾN NGHỊ 113
3.1. Ngày càng nhiều TCPCPNN đến Việt Nam và đã có những hoạt
động tích cực góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo và phát triển
bền vững ở Việt Nam 113
3.2. Việt Nam đã tạo đƣợc môi trƣờng pháp lý tƣơng đối thuận lợi
cho hoạt động của các TCPCPNN và tích cực thực hiện phƣơng
châm “chủ động vận động, quản lý tốt hoạt động, sử dụng hiệu quả
viện trợ PCPNN” 121
3.3. Những hạn chế trong công tác quản lý, vận động, sử dụng viện
trợ PCPNN và kiến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục 125
KẾT LUẬN 143
TÀILIỆUTHAM KHẢO…………………………………………….148
PHỤ LỤC……………………………………………………………162
2006)
Bảng 2.3. Dự án của các TCPCPNN thực hiện ở Việt Nam theo khu vực địa lý
(1996 - 2006)
Bảng 2.4. Dự án của các TCPCPNN theo lĩnh vực hoạt động (1996 - 2006)
Bảng 2.5. Giá trị dự án của các TCPCPNN theo lĩnh vực hoạt động (1996 -
2006)
Bảng 3.1. Quy mô trung bình một dự án của các TCPCPNN (1996 - 2006)
Bảng 3.2. Giá trị viện trợ PCPNN trung bình theo đầu người ở Việt Nam
(1996 - 2006)
Bảng 3.3. Giá trị viện trợ PCPNN cam kết nhưng chưa được giải ngân (1996 -
2006)
Biểu đồ 1.1. Số lượng các TCPCPNN hoạt động ở Việt Nam từ 1989 -1995
Biểu đồ 1.2. Giá trị viện trợ PCPNN cho Việt Nam từ 1989 - 1995
Biểu đồ 2.1. Số lượng các TCPCPNN hoạt động ở Việt Nam (1996 - 2006)
Biểu đồ 2.2. Giá trị viện trợ PCPNN cho Việt Nam (1996 - 2006) 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển là nhu cầu tất yếu của mọi quốc gia và việc lựa chọn con đường
nào để tiến tới phát triển bền vững là mục tiêu mà mọi quốc gia, đặc biệt là các
nước đang phát triển đều hướng đến. Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển
đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp
ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. “Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về môi trường
và phát triển” được tổ chức vào năm 1992 ở Rio de Janeiro (Brazil) và Hội nghị
Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Giôn Hannexbớt (Cộng hoà
Nam Phi) năm 2002 đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển. Mặt thứ nhất là
huy nội lực là chính nhưng cũng rất cần đến sự hợp tác và giúp đỡ từ bên ngoài.
Cộng đồng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN) là một trong những
lực lượng được Chính phủ Việt Nam quan tâm và tạo điều kiện khuyến khích hoạt
động. Đây là một chính sách đúng đắn bởi từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các
TCPCPNN ngày càng trở thành một lực lượng có vai trò quan trọng mà trong quan
hệ đối ngoại của mỗi quốc gia cần phải tính đến. Với phạm vi hoạt động rộng khắp
trên thế giới, các TCPCPNN đã góp một cách có ý nghĩa vào việc cải thiện cuộc
sống của những người nghèo, những người bị thiệt thòi tại quốc gia nơi họ tiến hành
viện trợ nhằm giúp người dân nơi đó có một sinh kế đảm bảo sự phát triển bền
vững. Dự án tài trợ của các TCPCPNN đã vượt khỏi mục tiêu nhân đạo và ngày
càng hướng tới mục tiêu phát triển, đem lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là những
cộng đồng nghèo.
Khác với viện trợ phát triển chính thức (ODA) mà trong đó phần lớn là các
khoản cho vay từ chính phủ các nước cho Việt Nam, viện trợ phi chính phủ nước
ngoài (PCPNN) là khoản viện trợ không hoàn lại. So với nguồn viện trợ phát triển
chính thức (ODA), viện trợ PCPNN tuy khiêm tốn về quy mô nhưng có khả năng
đáp ứng nhanh và kịp thời các nhu cầu cấp bách của nhiều người nghèo tại những
vùng đặc biệt khó khăn của Việt Nam. Cùng với nguồn ngân sách của Nhà nước,
viện trợ PCPNN đã góp phần giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội ở cấp cơ sở,
chung sức với Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong mặt trận xoá đói giảm nghèo,
3
góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đảng, Chính phủ và
nhân dân Việt Nam rất trân trọng và đánh giá cao sự giúp đỡ từ phía các
TCPCPNN.
Với chủ trương tranh thủ tối đa và nâng cao hơn nữa hiệu quả viện trợ
PCPNN để tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước, cộng với những thành
công trong công cuộc đổi mới và chính sách đối ngoại rộng mở, Việt Nam đã ngày
càng thu hút được nhiều TCPCPNN đến hoạt động. Hoạt động của các TCPCPNN ở
Việt Nam trong khoảng hơn một thập kỷ gần đây trở nên rất sôi động với sự gia
Vì những lý do trên, tác giả xin mạnh dạn chọn đề tài “Hoạt động của các
TCPCPNN ở Việt Nam (1996 - 2006)” làm đề tài luận văn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Như đã nói ở phần trên, mảng đề tài về các TCPCPNN ở Việt Nam còn chưa
được khai thác. Chính vì vậy, các tài liệu hiện có về chủ đề này chưa nhiều. Những
cuốn sách được giới thiệu dưới đây, kể cả tài liệu nước ngoài được dịch và xuất bản
tại Việt Nam, là những tài liệu cơ bản và tổng quan nhất về các TCPCPNN tại Việt
Nam và cũng là nguồn tài liệu tham khảo chính.
Cuốn sách đầu tiên phải kể đến là cuốn “Tổ chức và hoạt động PCPNN ở
Việt Nam” do Nguyễn Văn Thanh chủ biên được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
xuất bản vào năm 1995. Nội dung cuốn sách chứa đựng nhiều thông tin rất cơ bản
về sự ra đời của loại hình TCPCP trên thế giới, về tình hình hoạt động của các
TCPCPNN ở Việt Nam giai đoạn trước năm 1996 cũng như một số dự án viện trợ
tiêu biểu.
Viết về các TCPCPNN là thành viên của Trung tâm dữ liệu các TCPCP
(thuộc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam) với những thông tin khái quát về
tên tổ chức, lịch sử ra đời, tôn chỉ, mục đích, địa chỉ liên lạc và danh mục các lĩnh
vực hoạt động của từng tổ chức là cuốn “Danh tập các TCPCPNN hoạt động tại
Việt Nam” xuất bản hàng năm từ năm 1991 (bằng tiếng Anh) và từ năm 1995 (bằng
tiếng Việt) của Trung tâm dữ liệu các TCPCP - thuộc Liên hiệp các tổ chức hữu
nghị Việt Nam.
Ngoài ra cũng cần kể đến những tác phẩm sau:
5
Sổ tay hướng dẫn các TCPCPNN tại Việt Nam của Ban điều phối viện trợ
nhân dân (PACCOM) thuộc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (NXB Chính
trị Quốc gia phát hành năm 2003) trong đó chủ yếu cung cấp những thông tin mang
tính chất hướng dẫn các TCPCPNN hoạt động như thông tin về môi trường pháp lý,
các lĩnh vực hoạt động mang tính định hướng ưu tiên của Chính phủ Việt Nam để
định hướng cho các TCPCPNN hoạt động.
những thông tin, thực trạng và phân tích cập nhật hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là nhằm làm rõ thực trạng hoạt động của các
TCPCPNN ở Việt Nam trong khoảng thời gian hơn mười năm (1996 - 2006) để
thấy được sự đóng góp của các TCPCPNN cho công cuộc giảm nghèo và phát triển
bền vững ở Việt Nam, qua đó nâng cao sự hiểu biết hơn về các TCPCPNN và viện
trợ PCPNN. Tìm ra những giải pháp để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động của
các TCPCPNN, vận động và sử dụng viện trợ PCPNN một cách có hiệu quả hơn.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, nội dung của Luận văn có những nhiệm vụ
sau:
- Phân tích làm rõ những kiến thức tổng quan về loại hình TCPCP, viện trợ
PCP và khái quát lịch sử hoạt động của các TCPCPNN ở Việt Nam giai đoạn trước
năm 1996.
- Khái quát về hoạt động của các TCPCPNN ở Việt Nam trong giai đoạn
(1996 - 2006) từ công tác quản lý, vận động viện trợ cho đến tình hình viện trợ của
các TCPCPNN. Với những số liệu thu thập được trong giai đoạn 1996 -2006, luận
văn đi sâu đánh giá sự đóng góp của các TCPCPNN trong việc hỗ trợ các nguồn lực
để giúp nhiều người nghèo ở Việt Nam xoá đói giảm nghèo, hướng đến sự phát
triển bền vững.
- Đưa ra một số nhận xét và đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng công
tác quản lý, vận động và sử dụng viện trợ PCPNN trong thời gian tới.
7
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn về mặt nội dung là hoạt động của các
TCPCPNN ở Việt Nam trong đó bao gồm từ công tác quản lý Nhà nước của các cơ
quan Việt Nam có thẩm quyền đến thực trạng hoạt động của các TCPCPNN (bao
Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử là chủ yếu, kết hợp với
các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp để hoàn thành các nhiệm vụ
mà luận văn đặt ra.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về các
TCPCPNN tại Việt Nam, tổng hợp các mốc quan trọng trong quan hệ giữa Việt
Nam và các TCPCPNN, đưa ra một bức tranh tổng quan về thực trạng hoạt động
của các TCPCPNN ở Việt Nam trong thời gian hơn mười năm gần đây.
- Qua sự hệ thống, khái quát đó, luận văn đưa ra một số nhận xét, đánh giá về
hoạt động của các TCPCPNN, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp, góp phần giúp
cho công tác vận động, quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN được hiệu quả hơn.
- Luận văn có thể làm cơ sở tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước về
công tác quản lý hoạt động của các TCPCPNN, các tổ chức Bộ ngành cả ở Trung
ương và địa phương muốn tìm hiểu về các TCPCPNN ở Việt Nam, sinh viên học
trong các ngành phát triển xã hội, cũng như chính các TCPCPNN đang hoạt động
tại Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm có 3 chương:
9
Chương 1: Tổng quan về TCPCP và Lịch sử hoạt động của các TCPCPNN ở Việt
Nam giai đoạn trước năm 1996
Chương 2: TCPCPNN với hoạt động vì giảm nghèo và phát triển ở Việt Nam
(1996 - 2006)
Chương 3: Một số nhận xét, kiến nghị
10
PHẦN NỘI DUNG
các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận hay nhà thờ”
[36, tr11- 12]
Năm 1993, Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đưa ra khái
niệm cụ thể hơn: Các TCPCP là những tổ chức tư nhân, tự nguyện, không vì lợi
nhuận và được hỗ trợ ít ra là một phần bởi sự đóng góp tự nguyện của công chúng
[154].
Như vậy theo khái niệm trên, TCPCP là tên gọi chung của một loại hình tổ
chức hoạt động song song và bổ trợ cho các chương trình kinh tế - xã hội của nhà
nước do nhân dân lập nên trên cơ sở tiền của, công sức của nhân dân. Loại hình tổ
chức này bao gồm nhiều hình thức tổ chức khác nhau như Hội, Đoàn, Hiệp hội,
Quỹ, Câu lạc bộ, Viện, Trung tâm hoặc có thể chỉ do một số cá nhân đứng ra
thành lập. Một TCPCP có thể hoạt động như là một tổ chức tài trợ hay như là một tổ
chức triển khai viện trợ.
Xét về bản chất, các TCPCP có chung ba tính chất cơ bản. Tính chất thứ nhất
là đứng ngoài chính phủ. Tính chất này có nghĩa là các TCPCP không phải là một
đảng phái chính trị, không được phép tham gia vào các hoạt động chính trị, không
nằm trong khu vực Nhà nước. Dù vẫn chịu sự quản lý của pháp luật nhưng các
TCPCP không do chính phủ thành lập và hoạt động tương đối độc lập với chính
phủ. Tương đối độc lập nghĩa là trên thực tế, có một số TCPCP các nước còn phụ
thuộc vào chính phủ nước họ bằng việc nhận sự tài trợ về tài chính. Tuy nhiên xét
về bản chất các tổ chức này vẫn được coi là PCP bởi về mặt pháp lý những tổ chức
này không đại diện cho chính phủ nước họ mà chỉ đại diện cho tổ chức của mình.
Khi thành lập, các tổ chức này vẫn đăng ký với chính phủ là một tổ chức mang tính
chất tư nhân. Vì vậy, để nhận biết tính chất PCP của một tổ chức thì phải nhìn vào
hình thức tổ chức và phương thức hoạt động của tổ chức đó chứ không chỉ căn cứ
vào nguồn tài trợ mà một tổ chức có được.
Tính chất thứ hai là tính chất tự nguyện. Tính tự nguyện của TCPCP được
biểu hiện trong việc lựa chọn mục tiêu thành lập tổ chức cũng như trong việc lựa
chọn nội dung hoạt động. Những con người có cùng suy nghĩ, lý tưởng tự tìm đến
13
ái. Đây là hoạt động thể hiện tính nhân văn sâu sắc của con người và phát triển theo
sự tiến bộ của xã hội.
Loại hình hoạt động tình nguyện cứu trợ nhân đạo đã xuất hiện từ rất lâu
trong lịch sử nhân loại và tồn tại ở mọi quốc gia, mọi chế độ xã hội. Ở các nước
Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ đều xuất hiện những hoạt động từ thiện
nhằm cưu mang, giúp đỡ những con người nghèo khó. Theo các nhà sử học, từ thời
cổ đại, những việc làm cụ thể để giúp đỡ những người nghèo đói, những người đau
yếu, tàn tật, cô đơn đã được nhiều cá nhân thực hiện.
Từ 1400 năm TCN (trước công nguyên), những người thợ đẽo đá Ai Cập đã
biết lập quỹ tập thể để cứu trợ nhau khi xảy ra tai nạn. Ở Hy Lạp cổ đại, người dân
cùng đóng nguyệt liễm để giúp vào việc mai táng cho người quá cố hoặc để hỗ trợ
lẫn nhau khi một thành viên của họ gặp phải hoàn cảnh éo le như thiếu lương thực,
ốm đau, bệnh tật Thế kỷ thứ VIII TCN, những người thợ mộc, thợ rèn, thợ gốm,
thợ thuộc da thời La Mã cũng đã biết lập phường, lập hội tương tế. Vào thế kỷ XI
và XII, dưới ảnh hưởng của giáo hội, nhiều tổ chức từ thiện, cứu trợ ra đời ở Châu
Âu và hoạt động ngày càng mang tính tổ chức cao, độc lập với giới chủ. Và chính
những bất công xã hội nảy sinh từ thế kỷ XIV đã làm cho hoạt động tương tế của
những người lao động ngày càng có tính tổ chức. Họ lập phường, hội nghề nghiệp
của riêng họ, biệt lập với giới chủ.
Cách đây hơn hai trăm năm, khi người Anh đổ bộ lên Châu Mỹ, họ cũng đã
tổ chức ra các hội để giúp đỡ lẫn nhau trong những ngày đầu lập nghiệp.
Dưới chế độ phong kiến, ở Châu Âu cũng như Châu Á, mỗi khi đất nước gặp
thiên tai bão lụt, hạn hán, nhà vua đều có lệnh phát chẩn cứu đói, giảm thuế, giảm
sưu cho dân. Còn nhân dân thì nhường cơm sẻ áo cho nhau, lá lành đùm lá rách.
Sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa, khi sự phân biệt giàu nghèo diễn ra ngày càng
sâu sắc và sự áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đối với người lao động ngày càng
gia tăng thì hoạt động từ thiện cũng phát triển mạnh hơn, phong phú đa dạng hơn,
mang tính xã hội cao hơn và bắt đầu trở thành hoạt động mang tính có tổ chức.
chiến tranh thế giới thứ nhất, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai.
15
Chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật, thiên tai, chết chóc đã làm thức tỉnh lương
tri, thôi thúc con người cùng nhau tổ chức và tiến hành các hoạt động nhân đạo, từ
thiện và các tổ chức từ thiện lần lượt ra đời.
Năm 1864, Hội Chữ thập đỏ quốc tế (nay là Hội Chữ thập đỏ và trăng lưỡi
liềm đỏ quốc tế) được thành lập để giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh và tù binh.
Năm 1919, Quỹ SC-UK (Anh) ra đời để giúp trẻ em ở nước Đức đang bị lực lượng
đồng minh bao vây. Năm 1942, cũng tại Anh, tổ chức Oxfam được thành lập để
giúp người dân Hy Lạp dưới ách chiếm đóng của quân đội Hít le
Hai cuộc chiến tranh thế giới là hai cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch
sử nhân loại và đã để lại những hậu quả thảm khốc: chết chóc, bệnh tật, đói nghèo,
ly tán làm rung động lương tri của nhân loại tiến bộ. Bên cạnh đó, cuộc sống của
con người đang phải đối mặt với những thách thức và hiểm hoạ ngày càng tăng do
chính con người gây ra như sự suy thoái của môi trường, tài nguyên bị cạn kiệt, sự
bùng nổ dân số, bệnh dịch tràn lan Những hiểm hoạ đó không một chính phủ nào
có thể giải quyết được nếu không có sự hợp tác giữa các chính phủ với nhau và sự
tham gia của nhân dân thế giới. Nhân dân các nước phát triển ý thức được những
nguy cơ và trở ngại đối với sự phát triển bền vững của nước mình nếu không giúp
đỡ nhân dân các nước kém phát triển. Chính vì vậy, sau chiến tranh thế giới thứ hai,
các TCPCP cùng với hoạt động của nó đã mở rộng ra khắp thế giới, đến với những
châu lục còn đói nghèo.
Sau nhiều năm hoạt động và phát triển, đúc rút kinh nghiệm từ nhiều dự án
và chương trình khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới, các TCPCP đã đi đến kết luận
là bên cạnh các hoạt động cứu trợ nhân đạo, các TCPCP cần quan tâm nhiều hơn
nữa tới các hoạt động phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, để làm
được điều này, họ cần có đối tác là những hội, đoàn thể quần chúng, tổ chức nhân
dân ở những nước tiến hành viện trợ. Vì vậy, từ những năm 1960 trở đi, TCPCP ở
các nước Âu Mỹ đã vươn tới những quốc gia kém phát triển trên toàn thế giới và
Ba Lan, Rumani và các nước thuộc Liên Xô cũ cũng xuất hiện hàng loạt các
TCPCP. Ngay cả Nhật Bản (một nước được coi là chậm phát triển về loại hình tổ
chức này) đến năm 1992 đã có 179 TCPCP và đến nay đã lên tới 278 tổ chức [103,
tr 32-34].
17
Như vậy qua nhiều thế kỷ, các hoạt động nhân đạo, từ thiện nhằm giúp đỡ lẫn
nhau giữa những cộng đồng đơn lẻ đã phát triển vượt ra ngoài biên giới quốc gia,
đồng thời tính chất của loại hình hoạt động này đã không chỉ dừng lại ở các hoạt
động cứu trợ nhân đạo nữa mà còn được mở rộng sang các hoạt động phát triển bền
vững.
Sự phát triển mạnh mẽ của các TCPCP trên phạm vi toàn cầu vào cuối thập
kỷ 1980 được Ngân hàng thế giới nhận xét như một tác nhân tập thể của các hoạt
động phát triển [103, tr 34].
Những số liệu trên đã phần nào phản ánh được sự phát triển của các TCPCP
như một xu thế tất yếu của thời đại.
1.1.1.4. Các loại hình TCPCP
Xét về loại hình và căn cứ vào phạm vi hoạt động, từ khi ra đời cho đến nay
có ba loại hình TCPCP hoạt động phổ biến. Đó là các TCPCP mang tính chất quốc
gia, TCPCP mang tính chất chính phủ và TCPCP mang tính chất quốc tế.
Loại hình TCPCP mang tính chất quốc gia có tên tiếng Anh là National Non
- Governmental Organizations (viết tắt là NNGO). Đây là loại hình tổ chức mà các
thành viên đều mang một quốc tịch và các tổ chức này chủ yếu hoạt động trong
phạm vi quốc gia. Loại hình tổ chức này ra đời trong thời kỳ đầu và có số lượng rất
lớn. Ngày nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, loại hình tổ chức này đã mở rộng
phạm vi hoạt động không chỉ dừng lại ở trong nước.
Loại hình TCPCP mang tính chất quốc tế có tên tiếng Anh là International
Non - Governmental Organizations (viết tắt là INGO). Trái với TCPCP mang tính
chất quốc gia, loại hình tổ chức này do các thành viên mang nhiều quốc tịch khác
nhau sáng lập ra với phạm vi hoạt động rộng khắp trên thế giới.
trước và được thực hiện thường xuyên để lấy ngân sách phục vụ các hoạt động viện
trợ nhân đạo và phát triển chung, có thể dành cho các hoạt động và địa bàn chưa xác
định.
Nguồn đóng góp từ các cá nhân hảo tâm là một nguồn rất lớn, đặc biệt đây là
tấm lòng của các cá nhân vì mục đích nhân đạo. Có nhiều hình thức quyên góp tiền
từ các cá nhân: đóng góp của các thành viên; mỗi buổi đi lễ ở nhà thờ, mỗi cá nhân