PHẦN MỞ ĐẦU
Tổ chức phi chính phủ là một lực lượng quan trọng trong lĩnh vực cứu trợ
nhân đạo và phát triển xã hội. Trong quá trình phát triển xã hội, bên cạnh những nỗ
lực của các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ đã góp một
phần vào quá trình nhằm cải thiện cuộc sống giúp đỡ những người khuyết tật. Với
điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt, trải qua mấy chục năm chiến tranh nên số
lượng người khuyết tật ở Việt Nam là khá lớn, khoảng hơn 13% dân số, cuộc sống
của họ rất khó khăn, vất vả. Do đó, các tổ chức cần phải liên kết và cộng tác chặt
chẽ với nhau và với mọi thành phần trong cộng đồng dân tộc, không phân biệt hay
kỳ thị bất cứ ai để tạo nên một sức mạnh tổng hợp giúp đỡ người khuyết tật một
cách hiệu quả và thiết thực. Chương trình, chính sách đối với nhóm người khuyết
tật là một trong những vấn đề lớn mà Đảng, Nhà nước quan tâm.
Nhờ sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của Ths. Vũ Thị Minh Ngọc, nhóm
chúng em đã hoàn thành bài tiểu luận với chủ đề: “Tác động của các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài đến nhóm khuyết tật tại Việt Nam”.
Bài tiểu luận của chúng em gồm 3 chương:
Chương I. Khái quát chung về hoạt động TCPCPNN đối với nhóm khuyết tật tại
Việt Namss
Chương II. Thực trạng hoạt động TCPCPNN đối với nhóm khuyết tật tại Việt Nam
Chương III. Một số giải pháp tăn cường hoạt động của TCPCPNN đối với nhóm
khuyết tật tại Việt Nam
Do kiến thức còn hạn chế nên bài tiểu luận của chúng em không tránh khỏi
những sai sót. Chúng em rất mong nhận được những nhận xét, đóng góp của cô để
bài của nhóm được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TCPCP: Tổ chức phi chính phủ
3
2. Quá trình hoạt động của TCPCPNN tại Việt Nam
Các TCPCPNN đã vào Việt Nam từ nhiều thập kỷ qua. Việc mở rộng quan
hệ với các TCPCPNN là một mảng trong quan hệ ngoại giao nhân dân, nó gắn liền
với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và tình hình phát triển
qua từng giai đoạn của đất nước Việt Nam.
Trước tháng 5/1975, nhiều TCPCPNN đã hoạt động tại Việt Nam, nhưng
chủ yếu ở miền Nam, chỉ có rất ít tổ chức viện trợ cho miền Bắc. Ở miền Nam Việt
Nam, từ năm 1954 các TCPCPNN bắt đầu hoạt động và tăng nhanh, đến cuối năm
1974 đã có khoảng trên 60 TCPCPNN hoạt động tại miền Nam. Các tổ chức này
chủ yếu hoạt động trong vùng Mỹ - ngụy chiếm đóng với mục đích chính là cứu
trợ những người di cư từ Bắc vào Nam và sau đó là những nạn nhân của cuộc chiến
tranh của Mỹ. Các TCPCPNN đã rút khỏi miền Nam sau ngày 30/4.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Việt Nam thống nhất đất
nước, hoạt động của các TCPCPNN tăng nhanh. Mặc dù vậy các hoạt động này bị
ảnh hưởng của những biến động chính trị trong khu vực và Việt Nam nên có lúc
suy giảm đáng kể. Tuy nhiên cho đến nay cùng với sự ổn định của nền chính trị, sự
mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trong khu vực và trên thế giới trong
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta đã thu hút nhiều tổ chức phi chính
phủ nước ngoài đến với Việt Nam cùng với giá trị viện trợ ngày càng tăng. Điều đó
được thể hiện qua các số liệu như năm 2008: có khoảng 630 tổ chức phi chính phủ
nước ngoài hoạt động tại Việt Nam với giá trị giải ngân là 230 triệu USD/năm, đến
thống kê chỉ mới 6 tháng đầu năm 2009 thì đã tăng lên 650 tổ chức phi chính phủ
nước ngoài với giá trị giải ngân là: 100 triệu USD Tình hình về hoạt động viện trợ
của các TCPCPNN: Viện trợ của các TCPCPNN thường rất đa dạng và không ổn
định. Phương thức hoạt động cơ bản của các TCPCPNN là trực tiếp làm dự án và
trực tiếp quan hệ với địa phương cơ sở. Giai đoạn 1989 đến nay là thời kỳ đa số
các TCPCPNN tiến hành các dự án mang tính phát triển bền vững. Cho đến nay có
+ Quyết định số 59/2001/QĐ-TTg ngày 24/04/2001 của Thủ tướng Chính
phủ về việc thành lập Uỷ ban Công tác về các tổ chức PCPNN.
+ Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg ngày 26/04/2001 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN.
+ Thông tư số 04/2001/TT-BKH ngày 05/06/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư hướng dẫn thục hiện Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg ngày 26/04/2001 của Thủ
tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính
phủ nước ngoài.
+ Thông tư số 70/2001/TT-BTC ngày 24/08/2001 của Bộ Tài chính hướng
dẫn chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại.
+ Chỉ thị số 11/2002/CT-TTg ngày 17/04/2002 của Thủ tướng Chính phủ
về chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài.
+ Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg ngày 27/12/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính
phủ nước ngoài giai đoạn 2006-2010”.
2. Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về TCPCPNN
Để TCPCPNN hoạt động được hiệu quả và tuân thủ pháp luật Nhà nước ta
đã tiến hành xác lập tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước như sau:
- Quốc hội: Ban hành các văn bản pháp luật quy định về tổ chức, hoạt động
và quản lý tổ chức phi chính phủ quy định công tác về mặt quản lý nhà nước
nhằm... tạo ra hành lang pháp lý cho các TCPCP.
- Chính phủ có nhiệm vụ quản lý về TCPCPNN như sau:
+ Ban hành các văn bản hướng dẫn và quy định chi tiết những văn bản pháp
luật Quốc hội ban hành.
+ Ban hành các văn bản quy định những chính sách ưu đãi và tạo những
điều kiện hỗ trợ đảm bảo cho sự hoạt động của các TCPCP.
+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về mọi nguồn viện trợ của các
6
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TCPCPNN ĐỐI
VỚI NHÓM KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TCPCPNN
ĐỐI VỚI NHÓM NGƯỜI TÀN TẬT TẠI VIỆT NAM
Tổ chức phi chính phủ (hay còn gọi là NGOS) ngày càng đóng vai trò đáng
kể trong đời sống kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế, môi trường và nhân đạo…tại
nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Các NGOs đang tham gia sâu vào
nhiều lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, giúp đỡ phụ nữ, bảo vệ môi trường…. Đặc
biệt, các nguồn vốn này được ưu tiên nhiều hơn cho các vùng nông thôn, cho các
đồng vào dân tộc thiểu số và nhóm người tàn tật, chịu nhiều tổn thương từ hậu quả
của chiến tranh.
Nguồn viện trợ này đóng góp vai trò hết sức quan trọng trong công tác giúp
đỡ nhóm người khuyết tật, nhưng người có hoàn cảnh khó khăn và chịu nhiều tổn
thương từ hậu quả của chiến tranh. Trong đó, phải kể đến các dự án sau:
Thứ nhất, các dự án liên quan đến vấn đề xã hội: giúp đỡ cộng đồng nhũng
người có hoàn cảnh khó khăn như: tàn tật, nạn nhân chịu tổn thương nặng nề của
chiến tranh. Và các đại dịch như HIV/AIDS, ma túy, các tệ nạn xã hội như mại
dâm, trộm cắp….
Thứ hai, các dự án liên quan đến y tế: Cung cấp các dịch vụ trị liệu cần thiết
để cải thiện các chức năng khả quan vận động hằng ngày, làm việc và giao tiếp.
Các dụng cụ hỗ trợ như: dụng cụ trợ thính, bộ phận giả, xe lăn…Tuyên truyền
chính sách nhằm tăng cường mức độ sẵn có và chất lượng của các dịch vụ trị liệu.
Xây dựng các chương trình đào tạo về dịch vụ trị liệu cho các nhân viên, kỹ thuật
viên trị liệu và cán bộ kỹ thuật….
Thứ ba, các dự án về giáo dục: các dự án cung cấp các trang web về các
dịch vụ hỗ trợ người khiếm thị trong khuôn khổ một dự án do Bộ TT&TT hỗ trợ;
trang web hỗ trợ NKT khởi nghiệp; Cổng Tiếp cận Công nghệ Thông tin & Truyền
8
Trong những năm qua nhiều TCPCPNN, TCPCP quốc tế bên cạnh việc hỗ
trợ các hoạt động như văn hóa, giáo dục; y tế; hỗ trợ phát triển nông nghiệp - nông
thôn.... thì các tổ chức này cũng tham gia vào việc hỗ trợ, giúp đỡ người khuyết tật
Việt Nam.
Tính cho tới thời điểm hiện nay thì có 06 TCPCPNN nòng cốt hoạt động
trên lĩnh vực này.
Các diễn đàn về người khuyết tật Việt Nam được nhiều các TCPCPNN
quan tâm.
Một số TCPCPNN chuyên ngành coi trọng tâm là “giúp đỡ người khuyết
tật”, đã tổ chức phát triển các hoạt động cụ thể thành một phần của một số chương
trình lớn.
Các chương trình mà các TCPCPNN hướng đến khi hỗ trợ người khuyết tật
Việt Nam thường là các hoạt động như: nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; tăng tỷ lệ
trẻ khuyết tật đến trường; nâng cao cơ hội việc làm cho người khuyết tật; thực hiện
các chương trình phẫu thuật chỉnh hình, vật lý trị liệu, các thiết bị hỗ trợ... nhằm
nâng cao chất lượng sống cho người khuyết tật.
2. Một số hoạt động cụ thể của một số các tổ chức phi chính phủ nước
ngoài
*Trung tâm Dữ liệu các TCPCPNN, được thành lập năm 1993 thông qua sự
hợp tác giữa các TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam, và Liên Hiệp các Tổ chức
Hữu nghị Việt Nam (VUFO). Trung tâm phục vụ chủ yếu cộng đồng các
TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam. Trung tâm có khoảng 120 tổ chức thành viên,
Các dịch vụ của Trung tâm cũng mang lại lợi ích cho các tổ chức khác như các
TCPCP Việt Nam, các tổ chức INGOs phi thành viên, các cơ quan Liên Hợp Quốc,
cộng đồng những nhà tài trợ tại Việt Nam, các cơ quan chính phủ, đối tác địa
phương và những nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế).
10
• Sự phát triển của các Hội NKT (gọi tắt là DPO)
• Hòa nhập người khuyết tật trong quản lý giảm thiểu rủi ro thiên tai dựa
vào cộng đồng
• Tài liệu hóa các mô hình hỗ trợ người khuyết tật tốt nhất từ các tổ chức
phi chính phủ trong nước và quốc tế
• Quy định về các việc áp dụng các tiêu chuẩn và công nghệ dành cho NKT
• Các đài truyền hình quốc gia nên bổ sung chức năng hỗ trợ người khiếm
thính (phụ đề, ngôn ngữ ký hiệu) trên ít nhất một kênh tin tức
• Các nhà sản xuất, nhập khẩu và phân phối thiết bị hỗ trợ NKT cần tuân
thủ quy định ITU E.161 (02/2001) về việc sắp xếp ký tự số, ký tự chữ và ký hiệu
trên điện thoại và các thiết bị khác có thể dùng để truy cập mạng điện thoại
• Các cơ quan Chính phủ cần tuân thủ: WCAG v1.0 (Nguyên tắc về nội
dung Web tiếp cận, phiên bản 1.0)
* Quỹ đặc biệt dành cho người khuyết tật (SFD): bắt đầu hoạt động tại Việt
Nam từ năm 1989 và tập trung cung cấp các hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo
khuyết tật vận động, bao gồm các thiết bị như xe lăn và các dụng cụ chỉnh hình.
SFD đã hợp tác với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (MOLISA) và Hội Chữ
thập đỏ Việt Nam (VNRC) trong công tác hỗ trợ NKT. VNRCsẽ chịu trách nhiệm
điều tra số người khuyết tật, sau đó SFD sẽ chi trả cho các thiết bị và chi phí cho
NKT khi họ đến Trung tâm Phục hồi chức năng. SFD hướng tới hỗ trợ những
người khuyết tật không thuộc diện hưởng trợ cấp của Chính phủ.
* Tổ chức Tình Nguyện vì Giáo Dục (V.E.O): đây tổ chức phi lợi nhuận hỗ
trợ giáo dục tại Việt Nam. Tổ chức là một cộng đồng mạng lưới kết nối các tình
nguyện viên trên toàn thế giới nhằm chung tay giúp đỡ những đối tượng khó khăn
thông qua các chương trình giáo dục của tổ chức. Với sứ mệnh phát triển con
người thông qua các chương trình hỗ trợ giáo dục, V.E.O nhằm mang đến những
12
lợi ích lâu dài và mang lại cơi hội nghề nghiệp và một cuộc sống phát triển ổn định
TỚI NHÓM KHUYẾT TẬT VIỆT NAM
Thứ nhất, đã có những người thuộc TCPCPNN vào Việt Nam hoạt động
thiếu thiện chí, vi phạm chủ quyền Việt Nam. Họ lợi dụng tổ chức của mình để
truyền bá những tư tưởng phản động vào trong nước.
Thứ hai, một số TCPCPNN chưa thật sự hoạt động có hiệu quả, chưa có
những chính sách phù hợp cho đối tượng người khuyết tật ở Việt Nam. Do sự khác
nhau về văn hóa và lối tư duy nên có những chính sách của họ đưa ra không có ích
cho hoạt động của người khuyết tật ở nước ta.
Thứ ba, nhiều tổ chức triển khai các dự án viện trợ khi chưa được các cấp
có thẩm quyền phê duyệt.
Thứ tư, có những hoạt động vượt quá giới hạn được phép, không đúng với
giấy đăng kí được cấp
Thứ năm, đôi lúc hoạt động của các tổ chức này chưa có sự liên kết với Nhà
nước Việt Nam, một số hoạt động không sát với thực tế nhu cầu người khuyết tật
nước ta. Việc báo cáo kết quả hoạt động của một số TCPCPNN trong lĩnh vực
người khuyết tật chưa được gửi cho Nhà nước ta một cách thường xuyên.
III. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ
1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do ảnh hưởng chung của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên
mức độ giải ngân nguồn vốn theo cam kết của phần lớn các chương trình, dự án có
phần giảm xuống hoặc tiến độ triển khai chậm so kế hoạch đề ra.
Thứ hai, tỉ lệ số lượng người khuyết tật ở Việt Nam quá lớn dẫn đến
khôngthể bao quát hết, chất lượng quan tâm bị giảm sút đi.
2. Nguyên nhân chủ quan
14
Thứ nhất, đội ngũ cán bộ, nhân viên của các TCPCPNN hoạt động trong
lĩnh vực còn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với người khuyết tật. Ví dụ: Bất đồng
ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán và tâm lí e ngại giao tiếp với người khác
động viện trợ và ngoại ngữ còn hạn chế. Hoạt động kiểm tra, giám sát đánh giá dự
án tại cơ sở còn yếu do lực lượng cán bộ mỏng và thiếu về kinh phí, cán bộ làm
công tác vận động viện trợ thiếu đào tạo chuyên sâu, lại phải kiêm nghiệm nhiều
công tác khác nhau, do vậy ít có kinh nghiệm và thực tiễn về hoạt động với các
TCPCPNN.
Thứ tám, hệ thống pháp luật còn gặp nhiều khó khăn chưa hợp lí dẫn đến thủ
tục hành chính rườm rà, gây ra trở ngại nhất định. Các TCPCPNN e ngại khi mất
quá nhiều thời gian cho hàng rào hành chính thay vào đó họ muốn tiếp cận trực tiếp
đối tượng để thực hiện công việc hiệu quả nhất.
Thứ chín, việc áp dụng Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về quản lý và
sử dụng viện trợ PCPNN vào thực tiễn vẫn còn gặp nhiều lúng túng; một số dự án
được trình đến khi được phê duyệt mất khá nhiều thời gian.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT
ĐỘNG CỦA TCPCPNN TẠI VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÓM KHUYẾT TẬT
TẠI VIỆT NAM
I. NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Một là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật cho hoạt động của các TCPCPNN tại Việt Nam. Các văn bản này phải qui
định rõ ràng các điều kiện, thủ tục, lĩnh vực hoạt động mà các TCPCPNN được
phép hoạt động, hướng hoạt động của các TCPCPNN vào mục tiêu chung của nhà
nước đối với nhóm khuyết tật. Tránh tình trạng nhiều hệ thống văn bản luật ban
hành nhưng lại không có sự trùng khớp gây khó khăn cho các TCPCPNN. Hệ
thống pháp luật về TCPCPNN phải phù hợp với hệ thống pháp luật quốc tế, để
16
không đưa đến những khó khăn đối với các tổ chức mang tính quốc tế. Từ đó, đơn
giản hóa các thủ tục hồ sơ, rút ngắn thời gian trong việc cấp phép hoạt động cho
các TCPCPNN.
Hai là, kiện toàn hệ thống bộ máy quản lý các TCPCPNN. Thành lập tại
mọi lĩnh vực nói chung theo quý, nửa năm, một năm hoặc trong một giai đoạn thực
hiện chương trình, dự án.
Tám là, cần phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác giữa chính quyền
- người dân - TCPCPNN nhằm tạo ra sự gắn bó khăng khít giữa các bên,
cùng giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện. Khi mối quan hệ này được củng
cố, cũng giúp cho TCPCPNN vào Việt Nam hoạt động một cách dễ dàng
hơn, tránh những cản trở không đáng có từ phía chính quyền đến tổ chức.
II. NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC TCPCPNN
Một là, các TCPCPNN tìm hiểu đúng đối tượng mà chương trình, dự án của
mình hướng tới. Tìm hiểu nguyện vọng của nhóm khuyết tật để có thể đạt được
hiệu quả cao nhất khi đưa dự án, chương trình đó vào thực hiện. Khi đã lên thành
chương trình, dự án thì các tổ chức nhanh chóng đưa chúng vào thực hiện trong
thực tế. Tiến hành các dự án đối với những đối tượng thực sự cần sự giúp đỡ. Có
một cơ chế quản lý nguồn vốn chuyên biệt, giàu kinh nghiệm chuyên môn.
Hai là, tăng cường kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham
gia quyên góp ủng hộ cho người khuyết tật, đặc biệt là các nhà đầu tư nước
ngoài.
Ba là, tăng cường sự liên kết và chia sẻ thông tin, bài học kinh
nghiệm giữa các TCPCPNN làm việc trong việc chăm sóc người khuyết tật,
18
tổ chức các sự kiện, tập huấn và các buổi hội thảo về các vấn đề liên quan
đến lĩnh vực này.
Bốn là, tiếp tục kêu gọi các tình nguyện viên Việt Nam và quốc tế để
hỗ trợ người khuyết tật tại Việt nam và quan tâm hơn nữa đến các vấn đề về
môi trường.
Năm là, mở rộng mối quan hệ hợp tác với nhiều đối tác trong và
ngoài nước để thực hiện các dự án từ thiện có ích như các trường học, các
Như vậy có thể thấy rằng trong những năm qua hoạt động của các
TCPCPNN đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong việc giúp đỡ những người khuyết
tật. Bên cạnh các cơ sở bảo trợ xã hội của nhà nước rất nhiều các tổ chức, cá nhân
đã bằng nhiều hình thức quyên góp, huy động nguồn lực để thực hiện nhiều dự án,
chương trình với giá trị hàng triệu USD. Có thể nói, đây là đóng góp rất to lớn của
các TCPCPNN tại Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu quá trình hoạt động của
TCPCPNN đối với nhóm khuyết tật để chúng ta thấy được tầm quan trọng, sự đóng
góp to lớn của các TCPCP trong lĩnh vực trên và từ đó đưa ra những biện pháp
thiết yếu nhằm tăng cường sự quản lý nhà nước với loại hình tổ chức này đồng thời
phát huy vai trò của nó trong sự phát triển đất nước.
20